tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Ký
21.04.2016
Lê Văn Thảo
Ở R - Chuyện kể sau năm mươi năm (3)



Nhà văn Triệu Xuân: Nhà văn Lê Văn Thảo lâm trọng bệnh từ năm 2015 tới nay. Vậy nhưng anh vẫn ráng hoàn tất bản thảo: Ở R - chuyện kể sau năm mươi năm. Anh viết theo dạng hồi ức. Cuốn hồi ký này có lẽ là tác phẩm cuối cùng của đời anh. Ngày 06-3-2016, tôi đến thăm anh Thảo tại nhà riêng. Anh hom hem lắm rồi nhưng vẫn như xưa: chuyện như pháo ran, hóm hỉnh, trí nhớ rất minh mẫn! Sau đó, anh gửi qua email cho tôi bản thảo gần 100 trang A 4, còn ở dạng thô: Ở R - chuyện kể sau năm mươi năm. Ngay sau khi check mail,  tôi đọc từ đầu đến cuối một mạch. Cuốn hồi ký cuốn hút tôi bởi lòng nhân ái tỏa ra trong trừng trang viết! Ở R - chuyện kể sau năm mươi năm tái hiện tất tần tật những chuyện từ thời anh bỏ Sài Gòn lên rừng tham gia cách mạng, viết bằng sự chân thật của tâm trạng, của sự kiện, và quan trọng hơn, từng cảnh, từng người, từng câu chuyện được kể đều thấm đẫm lòng nhân ái.


Lòng nhân ái chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt những tác phẩm văn chương của Lê Văn Thảo.


 


4 – Những người anh hùng


Giữa năm 67 Cục chính trị miền Nam tổ chức Đại hội anh hùng lần II tại Bù Đốp, Phước Long, một đoàn đông đảo các nhà văn, nhà báo của Ban tuyên huấn R chúng tôi đi dự. Đường xa, chúng tôi đi mất cả tuần lễ, về vùng rừng tôi không lạ gì, trận lạc rừng hai năm trước tôi không thể quên. Nhưng tôi cảm thấy đã lâu lắm, chuyện đã là dĩ vãng, tôi đi tới đó hăm hở như mọi người. Ai cũng vui, mong mau đến nơi. Chuyện về những người anh hùng ai cũng biết, được đọc được nghe hằng ngày trên báo đài, nhưng giờ là gặp tận mặt, cùng lúc nhiều người. Những ngày cuối đi vào rừng cây buông âm u tĩnh lặng, tôi có cảm giác rợn người. Qua một vùng nước ngập tới thắt lưng, tới ngực, anh Thép Mới nói vui: “Chiều nay tới trạm chỉ cần tắm nửa người bên trên”. Anh Hoài Nam ở Thông tấn xã nói: “Vậy anh đi lộn ngược, tới nơi khỏi tắm”. Anh Thép Mới nói: “A, thằng đểu!”. Anh Thép Mới là nhà báo nổi tiếng, cán bộ cao cấp nhưng sống chan hòa, lăn lộn với chúng tôi như người bình thường. Không chỉ lần đó, tôi nghe kể nhiều lần khác anh ra tận ngoài mặt trận, nằm dưới giao thông hào đạn ghim chúi lịt chịt bên này bên kia.


Chúng tôi đến một vùng rừng gần sát biên giới. Ban tổ chức chọn vùng rừng xa xôi để được an toàn, anh hùng là vốn quí, từ nhiều nơi tập trung về cùng lúc. Nhưng cảnh xa xôi ma thiêng nước độc gây cho chúng tôi tổn thất không nhỏ, cả về bịnh tật lẫn bom đạn tôi sẽ kể sau. Tướng Trần Độ là trưởng ban đón tiếp từng đoàn, nói về thành công của Đại hội anh hùng lần I, nổi bật cuốn “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi được truyền tụng với câu của chị Út Tịch: “Còn cái lai quần cũng đánh!”. Ông nói vui: “Lần này cũng phải ráng kiếm một câu như vậy”. Quả thật “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi là một mẫu mực về sự kết hợp giữa chuyện người thật việc thật và vẻ đẹp hư cấu của tiểu thuyết, những “thêm thắt” của tác giả khiến chuyện càng thật hơn. Chỉ với cuốn đó, và mấy chương đầu của tiểu thuyết “Ở xã Trung Nghĩa”, Nguyễn Thi là nhà văn lớn nhứt trong chiến khu chúng tôi những năm đó. Từ lâu, tôi đã ngưỡng mộ anh, mong được gặp anh. Năm trước, chúng tôi có nghe chuyện buồn phiền của anh, chuyện nội bộ thôi nhưng cũng khiến anh lên cơn trầm cảm nguy hiểm. Ở trong rừn khổ nhứt không phải bom đạn mà chính là những “chuyện nội bộ” ấy. Nhân chuyện đó các anh bên chúng tôi có lời mời anh sang ở chơi với chúng tôi một thời gian cho khuây khỏa, nghe đâu anh có nhận lời nhưng rồi vẫn không thấy sang. Trước đó nữa, hồi ở miền Bắc, tôi nghe anh có chuyện “buồn phiền” khác: tập truyện “Im lặng” của anh bị cho là “có vấn đề”. Những người làm chính trị có từ “có vấn đề” thật hay, nghe không rõ ràng gì cả, nhưng người bị “phán” rất mệt, có khi đến suốt đời. Mùa mưa già, khu nhà Đại hội trong một khu rừng ẩm thấp lầy lội, đầy những gò nổng. Thường ngày anh Nguyễn Thi lội bùn đến chỗ tôi và Lê Anh Xuân. Anh nói: “Tôi thích tuổi trẻ”. Tôi và Lê Anh Xuân ngại xuống bùn, nằm trên võng, anh lót dép ngồi chính giữa, dưới đất, suốt buổi ngồi im lặng không nói gì. Tôi lại nhớ đến truyện “Im lặng” của anh, tuy tôi chưa đọc, không biết chuyện như thế nào. Anh ngồi cả tiếng đồng hồ, rồi ra về, hôm sau lại đến. Tôi biết anh Nguyễn Thi chỉ trong lần đó, trong mấy ngày ngắn ngủi, hầu như không nói chuyện gì. Nhưng ấn tượng về anh ở tôi rất sâu sắc, về tài năng của anh, về nỗi niềm “im lặng” của anh, về việc cùng tham dự trận đánh Mậu Thân năm 68 tôi sẽ kể sau.


Ông Trần Độ có buổi gặp riêng tôi. Ông nói có đọc những truyện tôi viết về các trận đánh, hiếm có nhà văn viết trực tiếp về quân chủ lục như vậy. Ông muốn tôi sang bên quân đội. Anh Thép Mới đúng là nhà báo lanh lợi, ứng phó nhanh nhảu, “đõ” cho tôi với giọng bông đùa, giúp tôi qua cơn khó xử: “Thằng này lông bông lắm anh ơi, nó không thích môi trường quân đội đâu”. Tôi ngạc nhiên thấy chỉ mấy hôm trước anh đi với chúng tôi, giờ đã ngồi phía “bên kia”, cùng với Trần Độ và Văn Phác.


Các anh hùng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ rất đông, người viết cũng không ít, gần như tập trung toàn bộ. Có những buổi các anh hùng kể chuyện trên hội trường, chúng tôi tập trung nghe, ghi chép. Có những buổi các anh hùng và người viết tiếp xúc riêng với nhau, theo yêu cầu của người viết và của Ban tổ chức. Người viết có tài liệu kèm theo, tùy theo sự quen biết, địa bàn hoạt động của mình. Lê Anh Xuân được giao viết về một anh hùng quê Tân Thành Bình, Bến Tre. Anh Đức viết về anh hùng Nguyễn Văn Quang, sau này hoàn thành là tiểu thuyết “Những đứa con của đất”. Tôi được giao viết về anh hùng Đoàn Hoàng Minh, người Sư 9, lập chiến công trong trận Đồng Xoài tôi đã tham dự. Anh là chiến sĩ thông tin, được giao nhiệm vụ cùng với một người nữa mang máy PRC10 leo lên một tháp nước, lấy độ cao truyền tin cho khắp mặt trận, suốt nhiều tiếng đồng hồ phơi mình giữa các làn đạn. Trận đánh chấm dứt tôi đã có mặt ngay tại đó, dưới chân tháp nước, mặt đường băng sân bay còn bốc khói.


Các nay hơn mười năm, nghĩa là gần bốn mươi năm sau, tôi có trở lại chỗ ấy, cùng đạo diễn điện ảnh Phạm Khắc và họa sĩ Trang Phượng, làm một phim tài liệu ngắn về trận Đồng Xoài. Tháp nước đã đổ sụp. Cạnh đó có một bia căm thù. Chúng tôi vào một quán cà phê kế đó hỏi chuyện, cô chủ quán nói do sau trận đó, máy bay Mỹ đã ném bom hủy diệt. Tôi nói dù sao dựng bia anh hùng đúng hơn, vì có Đoàn Hoàng Minh trên tháp nước.


Truyện tôi viết về Đoàn Hoàng Minh hoàn toàn không thành công. Tôi chưa có kinh nghiệm văn chương, tôi cũng không quen viết chuyện anh hùng, những người nổi tiếng, theo đơn đặt hàng. Tôi viết truyện ngắn, bút ký cũng dựa vào chuyện thật, nhưng tự do tôi chọn. Chuyện anh hùng gây cho tôi áp lực. Tôi có thiên hướng viết về con người bình thường.


Tôi không giữ tài liệu nào về những người anh hùng lẫn đại hội ấy, nhưng có vài mẩu chuyện tôi lưu giữ được, có thể không hoàn toàn chính xác, nhưng tôi tin đáng để kể lại.


Nguyễn Văn Quang là xạ thủ đại liên, người cao to, bồng khẩu đại liên “chân quì” của Mỹ một cách nhẹ nhàng, có tài bấm cò súng chỉ nổ hai viên, thay vì theo nguyên tác nhanh tay nhứt cũng nổ ba viên. Đó là khả năng bẩm sinh, không phải ai cũng có được. Nhưng tôi muốn kể một chuyện khác. Trong một trận đánh lúc đã gần tàn, đôi bên thương vong nhiều, đầu óc anh đã mù mờ, hai tai điếc đặc, anh nổ súng gần như theo quán tính, cứ thấy bóng giặc là siết cò. Bỗng anh thấy chạy vọt ra cái gì đó không phải giặc, không phải chiến tranh, cái gì đó khác hẳn, trắng trẻo, dịu dàng. Như cái chớp mắt, nhưng cũng khiến anh kịp dừng lại cò súng. Đó là một cô giáo, không biết sao kẹt lại trong trận địa, linh tính của anh là đúng.


Trong khu trại mọi người thấy Nguyễn Văn Quang và Hồ Văn Mên cặp kè với nhau. Mên là dũng sĩ, chỉ hơn mười tuổi, người nhỏ thó, đứng chỉ tới thắt lưng Quang. Quang hút thuốc như cái lò bếp. Mên nhỏ tuổi, được mọi người cho tiền. Quang nói: “Mày con nít giữ tiền làm gì? Nay mai mày ra Hà Nội ở chung với Bác Hồ, đưa tiền tao giữ cho”. Mên đưa, Quang hút thuốc tha hồ.


Sau đó đúng như vậy, Mên ra Hà Nội được ở chung với Bác Hồ. Vốn tính hiếu động, không thể ngồi một chỗ, Mên leo vặt hết trái non vườn cây nhà Bác.


Đa số người được phong anh hùng được thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Một số cao hơn, hạng hai, như Bông Văn Dĩa, Tạ Quang Tỷ, Nguyễn Văn Quang… Bông Văn Dĩa là người tổ chức đội tàu không số ở Cà Mau, vì còn đang công tác bí mật nên không xuất hiện ở Đại hội. Tạ Quang Tỷ là bộ đội tập kết ra Bắc, trở về Nam tiếp tục chiến đấu. Hôm bế mạc Đại hội anh ngồi kế tôi, bất ngờ nghe Ban tổ chức mời lên thay mặt các anh hùng đọc thư cám ơn Đại hội. Anh nói nhỏ với tôi trước khi lên bục hội trường: “Chết tao rồi, mày ơi!”. Hóa ra anh đọc chưa thạo, bức thư chỉ bằng bàn tay có người viết sẵn, anh đánh vần cả phút đọc chưa hết câu. Cuối cùng vị chỉ huy Miền giải cứu cho anh, cũng để an ủi anh: “Thôi tha cho anh, đừng làm khổ anh nữa. Anh có dốt như thế mới được phong anh hùng”.


Có một người được phong anh hùng loại cao khiến ai cũng ngạc nhiên, không thấy đánh trận nào, cả hai cuộc kháng chiến chỉ có đi săn thú bắt cá cho bộ đội ăn. Anh tên Mười Rạnh, tôi không nhớ họ. Chuyện của anh tôi chỉ nghe “ké” nên chỉ biết lõm bõm. Ví như chuyện anh bắt cá là như thế này. Thường anh rong ruổi trong rừng với khẩu “mát”, loại súng trường có từ thời Pháp. Dân săn bắn ở rừng có loại vũ khí quen thuộc của mình, như nhạc sĩ Phan Miên, một tay thiện xạ của B2 chúng tôi, chuyên bắn carbine. Anh Minh ở Văn phòng Ban lại lạ đời, săn bằng một khẩu colt 45. Đang mùa mưa già, nước đổ, sông suối nước chảy ầm ầm. Anh Mười Rạnh đến một con suối dừng lại làm chỗ ở cho mình, rồi đốn tre, bứt dây mây, chẻ tre, chẻ mây bện làm một chiếc sa, đốn cây làm cọc cắm chắn ngang dòng suối, giống như đăng ở quê miền Nam, nhưng theo độ dốc thoai thoải, lợi dụng sức nước đẩy để bắt cá. Anh làm mải miết cả tuần lễ, có khi nửa tháng, không tính ngày tháng. Làm xong rồi dọn một con đường thẳng ra đường lớn, nơi có nhiều đơn vị bộ đội qua lại, dựng tấm biển đề: “Ở đây có cá, vào bắt ăn”. Rồi đi tiếp qua một vùng rừng khác làm một chiếc sa như vậy nữa, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, từ kháng chiến chống Pháp tới kháng chiến chống Mỹ. Anh Mười Rạnh nuôi bộ đội cả vùng rừng này.


Đó là cách bắt cá thô sơ nhưng rất hiệu quả của người dân tộc thiểu số, sau này dân rừng chúng tôi bắt chước làm cũng rất thành thạo.


Săn thú rừng, anh chỉ bắn chúng bị thương chân sau để có thể cột trói, đánh “lóc” chúng đi để có thể đem về đến chỗ đơn vị bộ đội. Anh thông thạo mọi đường ngang ngõ tắt vùng rừng miền Đông, biết rõ tính nết từng giống thú, con voi con cọp hung dữ ra sao, con heo con mễn khôn lanh thế nào. Anh có những buổi kể chuyện “ngoại khóa”, tức chuyện bên bàn trà, do không bị áp lực của chuyện “công tác”, chuyện kể của anh vô cùng sinh động thú vị. Anh nói giống cọp tuy hung dữ nhưng cũng rất nhát, nghe nổ súng thường bỏ chạy. Hôm đó, anh đi rừng với khẩu trường “mát” như thường lệ. Đến một chỗ ngồi nghỉ, lúc chuẩn bị đứng dậy đi tiếp anh bỗng thấy cách không xa, trong một lỏm trống giữa rừng, một đám cọp già trẻ bé lớn đang phơi nắng, con ngồi con nằm, con đi tới lui. Trước đó anh không nhìn thấy chúng, anh đi lặng lẽ chúng cũng không nhìn thấy anh. Giờ anh đứng dậy đi chúng sẽ thấy. Vậy nên thế nào, nổ súng hay không? Anh có nghe nhiều chuyện cọp bị thương vồ người bắn mình. Đây không chỉ một con mà cả đám, anh bắn chết một con, những con khác thì sao? Anh nghĩ một giây rồi quyết định giành thế chủ động, nhằm con lớn nhứt nổ súng, cả bọn tức thì bỏ chạy. Không có chuyện cọp bị thương vồ người như đồn đại.


Chính giống voi là hung dữ nhứt, anh nói. Chúng sẽ trả thù đến cùng kẻ bắn chúng. Chúng to lớn, chạy mau hơn người, không thể leo trốn vì chúng có thể quật cây gãy đổ. Ở cơ quan tôi cũng có một chuyện. Một tốp người của tiểu ban đối ngoại (B20) đi rừng gặp bầy voi, do thiếu chuyên nghiệp, nổ súng chỉ làm bị thương một con. Bầy voi quay lại vật cả đoàn không sót người nào, có người chết giấc, có người giả chết, thấy chúng bỏ đi nhổm dậy định bỏ chạy chúng trở lại vật tiếp, không ai còn đứng dậy nổi nữa. Nhưng có chuyện khiến chúng tôi lấy làm lạ. Sau đó, tất cả đi nằm viện nhưng không ai chết, có lẽ chúng chỉ “trả thù” đến mức đó, không có ý định “giết người”, không thể có cách giải thích khác.


Anh Mười Rạnh kể một chuyện tôi thấy giống y một truyện ngắn của Ê-ming-uê, nên không thể không kể lại. Đó là chuyện về một con vật hung dữ nhứt trong rừng là con trâu rừng, còn gọi là con min. Có lần anh bắn một con min, nó chỉ bị thương chun vào một bụi le xõa dài phủ kín, không biết đích xác chỗ nào. Anh quơ súng rảo mắt tìm, và rồi nghe như một cơn giông, con min tung người ra chạy thẳng vào anh với những vơ chân khủng khiếp, anh quì xuống ngắm bắn, biết mình chỉ còn kịp nổ một phát súng, không trúng nó sẽ húc tung người anh. Anh đã bắn trúng, con vật chết gục cách anh không tới sải tay.


Tới năm đó tôi cũng đã ở rừng năm năm, đi khắp cả trong rừng miền Đông, nhưng ngồi bên anh nghe anh kể chuyện, tôi thấy mình chỉ đáng là một học trò nhỏ. Và một lần nữa, tôi đã không ghi chép, những chuyện quí giá tôi đã quên hầu hết, không biết có ai trong chúng tôi năm đó có ghi lại chuyện của ông Mười Rạnh hay không?


Tôi thấy nhiều chuyện viết về người anh hùng thường có xu hướng ngày càng tỉa tót, bớt đi những phần “râu ria” mềm mại, chỉ giữ lại phần cái lõi “cơ bản” khô cứng. Nhưng người anh hùng cũng là người bình thường.


Ở Đại hội đó tôi còn quen biết anh Tư Tăng – Nguyễn Văn Tăng, người chiến sĩ biệt động vô song, nghe anh kể nhiều chuyện xuất quỉ nhập thần không thể được nghe kể ở đâu khác, và tôi đã không ghi, chỉ còn nhớ vài chuyện lõm bõm, chỉ có thể tự an ủi những chuyện còn giữ được là chuyện đáng nhớ. Một lần, anh bị rượt đuổi, anh luôn bị rượt đuổi, bọn giặc đều biết mặt anh, anh phóng qua một bờ tường, đám miểng chai đầu tường lấy mất chiếc gót của anh. Anh chạy tập tễnh đến một con rạch, theo cách con kỳ đà, nhảy lặn trầm mình tại chỗ. Bọn giặc tưởng anh lặn qua bên kia rạch, phóng đuổi theo, anh đợi chúng chạy đi xa trồi lên đi vào một xóm. Đó là một xóm nghèo như thường thấy, nhà cửa lụp xụp chen chúc, một nhà đang quây quần. Không hiểu sao anh tin gia đình này sẽ cứu giúp anh, anh vui vẻ đi vào như người quen thân, người trong nhà cũng vui vẻ lấy chén đũa mời cơm, anh cởi áo ngồi vào ăn, bọn giặc đi ngang không chút nghi ngờ. Sau này anh không trở lại nơi đó, cũng như nhiều nơi khác, không biết “vở diễn” của mình như thế nào, nhưng anh tin chắc điều mình nghĩ là đúng. Ở Bù Đốp anh được phong anh hùng lần 2, anh đã được phong anh hùng một lần hồi kháng chiến chống Pháp. Cùng với Phạm Văn Hai, anh là người biệt động nổi bật trong cả hai cuộc kháng chiến. Tập kết ra Bắc anh làm việc ở nhà máy trà Phú Thọ, và có vẻ anh thích kể chuyện trà hơn chuyện chiến đấu. Anh dẫn tôi ra rừng, chỉ cho tôi coi các thứ lá, nói anh có cách chế biến từ các loại lá rừng thành một loại nước uống cũng thơm ngon như trà. Sau ngày giải phóng anh là huyện đội trưởng huyện Thủ Đức. Một bữa tôi đi dự hội hoa xuân ở vườn Tao Đàn, gặp anh, tôi hỏi độ rày ra sao, ngon không anh Tư ơi! Anh đáp không ngon, đang “có chuyện” mày à! Tôi hỏi chuyện gì? Anh đáp thì thằng anh mày cũng chỉ “chuyện phụ nữ” thôi. Chú thím tôi cũng làm việc chung với anh ở huyện Thủ Đức, kể hôm đám tang anh, chính thức có 6 bà vợ chịu tang. Ai cũng có “điểm yếu” của mình. Sáu bà vợ cùng con cái anh đều lo nhà cửa việc làm chu tất, chú thím tôi nói. Biết đâu theo thời gian, “điểm yếu” đó sẽ trở nên đẹp đẽ.


Tôi quen nhiều người sau này được phong anh hùng, nhưng trước đó rất lâu tôi đã coi họ là người anh hùng. Nhiều đồng đội của tôi ở Sư đoàn 9, đã không còn nữa, là những người anh hùng. Anh Chín Kiên là người anh hùng. Đơn vị tải gạo đã giải cứu chúng tôi ở Lộc Ninh năm 66 là tập thể anh hùng.


Ông Trần Bạch Đằng hồi ấy có câu nói sau này nhiều người hay nhắc lại: “Ra khỏi ngõ gặp anh hùng”. Ý nói trong những năm tháng chiến tranh anh hùng có rất nhiều. Nhưng tôi muốn hiểu theo một nghĩa khác. Đó là những con người bình thường với những việc làm bình thường, không có gì chói sáng, nổi bật, nhạt nhòa trong đám đông, nhưng lại có phẩm chất của sự việc anh hùng.


Có một bà già đêm đêm lặn mò dưới ao xương cốt của những người du kích bọn giặc quăng xác ở đó. Tội lắm, chết oan ức không đầu thai được, bà nói. Phải đem chúng về với bà con làng xóm. Công việc không ai giao, không có báo cáo tổng kết, thầm lặng một mình không ai biết tới. Bà già ấy phải là người đầu tiên được phong anh hùng.


Hồi ở với Sư đoàn 9, một đêm đi tải gạo ở Bù Gia Mập, một lần dừng nghỉ chân dưới chân một ngọn đồi, thấy có ánh đèn dầu trên đỉnh tôi men đi lên, thấy có mấy chiếc lều, chiếc có ánh đèn có cô gái đang ngồi xõa tóc gần như bất động. Tôi đứng một lúc rồi hiểu ra, đó là tổ thông tin, cô gái đang ngồi bên chiếc máy điện đài, họ phát sóng truyền tin gây nguy hiểm nên phải ở độc lập, lại cần phải có độ cao, trên những đỉnh đồi phơi mình cho bom đạn. Tôi còn gặp họ nhiều lần như thế, chưa từng viết về họ nhưng hình ảnh họ ám ảnh tôi mãi.


Tôi kể chuyện ngay trong cơ quan tôi. Nhà thơ Chim Trắng quê ở Bến Tre, hoạt động cách mạng từ trước ngày đồng khởi, nằm hầm ngủ bụi từ thời đen tối. Anh có sáu con, chuyện nhà cửa nuôi con một tay chị vợ lo cả, còn thường xuyên đi thăm nuôi “tiếp tế” anh, anh em cơ quan nhân đó nhờ vả mua đồ đạc, móc gia đình  chị đều làm chu tất. Anh Chim Trắng đã mất. Năm vừa rồi chị từ Bến Tre lên tìm tôi nhờ viết tờ giấy chứng nhận chị có “giúp đỡ kháng chiến” để hưởng ưu tiên chăm sóc y tế gì đó nhưng phường không ký vì không biết tôi dùng tờ giấy làm gì. Tôi nói không làm gì cả, không phải chứng cho tôi, đây là tôi chứng cho người vợ đồng đội đã chết, anh là người có công với cách mạng, chị ở nhà nuôi con thăm nuôi anh công lao không kém. Nhưng họ vẫn không ký, tôi cầm tờ giấy trống không ra về. Chuyện đó là phổ  biến, gia đình nào cũng vậy, người chồng đi kháng chiến người vợ ở nhà nuôi con, lo mọi chuyện gia đình, suốt ba mươi năm như vậy, công lao ai thua kém ai.


Tôi có dự vài buổi lễ phong danh hiệu anh hùng, tôi vui mừng và cũng ngậm ngùi, nhớ lại những người tôi từng quen biết, người có tên và không tên, thậm chí hình ảnh đã nhạt nhòa đi với năm tháng, nhưng những việc làm của họ khắc sâu những nét không phai vào trí nhớ tôi. Những người được tuyên dương anh hùng là bộ mặt vẻ vang, nhưng những con người với những chiến công thầm lặng mới là diện mạo chính của cuộc chiến tranh.


Đại hội kết thúc, nhiều người trong chúng tôi bị khu rừng buông đánh quị. Anh Đức, Giang Nam bị sốt rét phải nằm lại. Anh Đức lên cơn ác tính suýt chết. Đoàn chúng tôi trên đường về bị một trận bom, sáu người chết. Hôm đó chúng tôi đi trong một khu rừng thưa, chỉ có cây dầu lông xen kẽ những bụi le cằn cỗi. Lẽ ra phải đi đêm, nghĩ vùng xa xôi chúng tôi chủ quan đi ban ngày. Một chiếc L19 bay vẩn vơ nhìn thấy, thảy đạn cối chúng tôi đều tránh được. Nhưng thằng này không phải loại bắn phá, công việc của nó là định vị, kêu máy bay khác ném bom. Quả nhiên, chút sau, thấy mấy trái, khói vàng bốc lên. Tôi quá rành loại này, đoàn đi có nhiều cô gái đội nón lá, tôi chụp lấy một chiếc, kêu Lê Anh Xuân tìm một chiếc nữa, hai đứa chạy đến úp chụp lên trái khói vàng còn đang rỉ khói. Như một trò chơi trẻ nít. Nhưng chỉ úp chụp được vài trái, khói vàng vẫn bốc lên chỗ này chỗ kia. Liền sau đó hai “thằng” T28 lên tới, đảo vòng, phóng hỏa tiễn, từng đôi hỏa tiễn rẽ không khí lao xuống. Tôi cũng có kinh nghiệm về loại này, bom hay hỏa tiễn phải mất một thời gian lao xuống, đủ để ta theo dõi, thấy đầu nó hình tròn là chúng cắm ngay ta, phải nhảy tránh sang một bên. Tôi thét bảo Lê Anh Xuân làm y như tôi. Thấy anh Thép Mới đang loay hoay tìm kiếm cái gì, tôi kêu anh chạy theo tôi, nhưng anh nói đang tuột mất chiếc dép. Ở rừng mất dép là chuyện khó khăn. Không còn kịp nữa, tôi chạy đi mấy bước nằm xuống nghe bom nổ, quay lại nhìn thấy chỗ anh Thép Mới khói bụi mù mịt. Tôi nghĩ bụng anh Thép Mới đang lâm nguy. Khói bụi tan, lại thấy anh đứng xổng lên tay cầm chiếc dép chạy đi.


Người ta nói “bom đạn tránh người”. Hai thằng T28 cuối cùng rồi cũng hết bom bỏ đi, chúng tôi vẫn không sao, nhưng thằng L19 vẫn tì ti trên đầu. Chúng chưa chịu thôi. Hai chiếc phản lực xuất hiện đảo vòng bắt đầu rải bom bi. Đây là loại bom ác độc nhứt trong chiến tranh, từng thùng lớn nổ ra những trái bom bi như trái lựu đạn, nổ tiếp ra những viên bi nhỏ như hột đậu, làm chảy máu trong vốn bị cấm trong chiến tranh. Tôi bị bom nhiều trận nhưng chưa từng bị bom bi, ban ngày giữa rừng trống trông rất rõ. Nhìn đường chiếc máy bay cắm xuống tôi chạy hú họa tránh sang một bên, nghe tiếng nổ “bụp” tôi nhìn lên, thấy một dải đen những trái bom bi trên nền trời, giờ đây nhớ lại tôi vẫn còn thấy rợn người, như đôi cánh đen của thần chết.


Lần này chúng tôi đã không thoát, mất sáu người, trong đó có nhà nhiếp ảnh lão thành Đinh Thúy. Hai người thanh niên dẫn đường đã chạy lạc mất. Anh Thép Mới đứng ra lo mọi chuyện, chôn cất người chết, tập họp mọi người tìm đường đi tiếp. Anh Thép Mới thật tháo vát, trông vẻ ngoài không ai tưởng anh chịu thương chịu khó đến vậy. Chúng tôi tìm đường đến được trạm giao liên kế tiếp. Trời đã tối, chúng tôi tiếp tục đi đêm để tránh khu rừng thưa. Trận bom có người chết khiến chúng tôi thấy nặng nề, gần sáng đến nơi ai nấy giăng võng ngủ, không thiết gì tới chuyện ăn uống.


Chuyện buồn thảm như vậy trong chiến tranh không thiếu gì, không việc gì phải giấu. Chúng tôi đi dự Đại hội anh hùng, trên đường trở về mỗi người đều mang chút phẩm chất anh hùng.


5 – Móc gia đình


Cán bộ chiến sĩ trong vùng giải phóng đi kháng chiến lâu ngày, vài ba năm một lần cơ quan cho nghỉ phép mươi bữa nửa tháng để lo chuyện “tình cảm”, nhờ người liên hệ gặp gia đình trong vùng địch chiếm, người trong R chúng tôi gọi là móc gia đình. Tôi có anh bạn lấy vợ rồi đi kháng chiến, không sống ở nhà ngày nào, suốt mười mấy năm vợ chồng gặp nhau chỉ trong những lần “móc gia đình” như vậy, nhưng xong cuộc kháng chiến rồi cũng có được sáu mặt con, con cái sau này lớn lên thành đạt cả.


Vùng biên giới địa đầu tỉnh Long An có chỗ gọi là Ba Thu, báo chí Mỹ gọi là Mỏ Vẹt, như là chỗ đôi bên địch ta mặc nhiên làm “cửa ngõ”, không có bom pháo. Mọi con đường về đồng bằng đều qua đó, chúng tôi đi công tác đều xuống đó, rất thuận tiện cho việc móc gia đình. Bản thân tôi mấy lần về đó nhờ người về Sài Gòn đưa má tôi vào gặp ba tôi và anh em chúng tôi.


Công việc móc gia đình là như thế này. Tìm một bà già, ăn trầu càng tốt, có chiếc giỏ trầu hẳn hoi, không cất giấu thư từ gì, địa chỉ và nội dung nhắn gởi ghi nhớ trong đầu. Không được biến bà già thành người giao liên của Việt Cộng, bị bắt bớ khổ thân người đi, liên lụy tới gia đình. Một chuyến đi bình thường nhưng không phải không gian truân. Đôi khi phải đi rất xa, những làng xóm hẻo lánh, chợ huyện chợ tỉnh, khu lao động hay phố xá sang trọng ở Sài Gòn. Một địa chỉ đã cách xa mười mấy năm, có khi hơn hai mươi năm xủ người đi tập kết trở về Nam. Phải lân la tìm hỏi, không được đâm sầm vào, không thể biết nhà đó giờ là như thế nào.


Mấy năm trước tôi có về nhà nhà văn Lê Vĩnh Hòa để sưu tầm hiện vật bảo tàng. Anh Lê Vĩnh Hòa đi kháng chiến chống Pháp, học trường Nguyễn Văn Tố, chung trường với Anh Đức và Nguyễn Quang Sáng. Chị vợ anh Lê Vĩnh Hòa kể, lấy cớ anh theo Việt Minh, chính quyền lấy nhà làm đồn, chính nhà chúng tôi đang ngồi đây. Và chính Nguyễn Văn Thiệu, sau này làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, lúc đó là trung úy, làm đồn trưởng. Chị vợ anh Lê Vĩnh Hòa phát đơn kiện, nói anh Lê Vĩnh Hòa theo Việt Minh là chuyện của anh ấy, đây là nhà của gia đình chị, quyền về nhà cửa được hiến pháp công nhận. Sau hai năm, chị vợ anh Lê Vĩnh Hòa thắng kiện, được trả nhà. Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã lên đại úy, dẫn đám lính đi đóng đồn nơi khác.


Mấy mươi năm chiến tranh, xã hội biến động, một địa chỉ cách đó hơn mười năm là một cái gì đó rất vu vơ, có khi tìm được nhà không tìm được người, nhà đã trải qua nhiều đời chủ. Người móc gia đình vào nhà vừa ăn trầu vừa hỏi thăm dần, từng chút một, không vội vã, quan sát chung quanh, trước cửa sau hè. Cây khế, cây dừa trước nhà, đúng rồi. Nhưng người trong nhà như thế nào, ai là vợ, ai là cô dì? Có phải ở đây từ trước năm 54 tới giờ không? Không đúng những điều đó, dù chỉ là một chi tiết nhỏ, người móc gia đình phải tìm cách nói lảng sang chuyện khác, rồi tìm cách tháo đi.


Nhiều lần người móc gia đình gặp may mắn, vừa nói đến tên người cán bộ tập kết, người đàn bà trong nhà đã chảy nước mắt ròng ròng. Vậy được rồi, chỉ cần hỏi thêm vài điều, hẹn ngày ra đi, đường đi nước bước và nơi gặp mặt.


Nhưng cũng có lần vừa nói tên người cán bộ tập kết, người vợ chảy nước mắt khóc chỉ tay lên tường nhà, nơi treo tấm hình một viên sĩ quan chính quyền Sài Gòn. Với kinh nghiệm nghề nghiệp, và linh cảm người đàn bà, người móc gia đình hiểu ra sự tình. Vậy là người vợ đã lấy chồng khác. Không thể trách, không lỗi lầm gì trong chuyện này. Bao nhiêu năm xa cách, đâu biết sắp tới sẽ như thế nào? Đợi đến bao giờ?


Đó là chuyện của ông Sáu Thành, Phó tiểu ban giáo dục R. Ông người miền Trung, đi B năm 62, về tới nơi móc gia đình biết vợ đã lấy chồng khác, ông xin đi luôn vào Nam bộ để khuây khỏa. Tôi có hơn năm ở chung với ông, nghe suốt ngày ông rầy rà chuyện vợ con, than thở, trách cứ, nhưng tôi biết trong thâm tâm ông vẫn thương vợ, luôn tìm cách liên hệ với quê, mong có điều gì đó thay đổi. Nhưng ông không có thời gian. Năm 1963, trong chuyến đi công tác về Củ Chi ông bị trực thăng bắn chết.


Tôi vốn không tin chuyện thần giao cách cảm hay những gì đại loại như vậy, nhưng có chuyện tình cờ ngẫu nhiên xảy ra với chuyện móc gia đình của tôi khiến nhiều năm tôivẫn lấy làm ngạc nhiên. Má tôi cùng sống với chúng tôi trong R. Nhưng bom đạn ác liệt, cơ quan bàn đưa má tôi ra Sài Gòn làm cơ sở liên lạc, nuôi giấu cán bộ. Và ba năm một lần má tôi vào thăm chúng tôi. Năm đó, tới hẹn ba tôi kêu tôi xuống Ba Thu tìm người móc đưa má tôi vào với chúng tôi. Tôi thông thạo nhiều chuyện, nhưng lại vụng về nhiều chuyện khác, việc tìm người móc gia đình hoàn toàn dốt đặc, người đàn bà tôi nhờ lấy tiền trốn mất, không đi đâu cả. Nhưng tôi không biết gì, tới ngày hẹn tôi kêu ba tôi xuống Ba Thu. Có một chỗ ở Ba Thu gọi là Bến Giống, xuồng ghe nhiều nơi tụ về làm thành chợ nhỏ buôn bán đổi chác, người gia đình cũng hẹn nhau chỗ đó. Ba tôi xuống tới nơi, tôi dẫn ba tôi đến đó, đi rảo chợ gặp má tôi. Tôi đinh ninh người móc gia đình đưa má tôi vô. Nhưng má tôi nói không gặp ai cả. Má linh cảm ngày tháng đó sẽ gặp chúng tôi nên má tự đi.


Sau năm 54 là “thời kỳ đen tối”, một chương bi thảm trong lịch sử đất nước. Người đi tập kết mòn mỏi trong cảnh xa nhà, người ở lại chịu cảnh tù đày, đánh đập tra tấn, vợ người cán bộ tập kết tuy chỉ là người dân bình thường cũng chịu cảnh đàn áp khủng bố không kém. Nhiều lần, người móc gia đình vào nhà hỏi tên người địa chỉ đúng cả, nhưng người vợ một mực làm thinh, không chấp nhận cũng không từ chối. Đó là gia đình ở trong vùng ấp chiến lược, địch kề sát bên, dân tình không ai tin ai. Cho tới lúc người móc gia đình đưa ra một kỷ vật gì đó không thể chối cãi, một tấm hình cũ, chiếc đồng hồ, một cây viết, thứ chỉ có hai vợ chồng biết với nhau, người vợ liền bụm mặt khóc ròng. Đúng rồi! Anh ấy đây rồi! Anh ấy về rồi hay sao? Anh ấy đi biền biệt, từ sau năm 45 không hề gặp mặt, đi tập kết cũng chỉ nghe nói, một tấm bưu thiếp gởi về cũng không. Người vợ cầm chiếc đồng hồ, quà tặng ngày cưới, anh ấy đeo đi vào đồng Tháp Mười, chỉ mấy năm đã chết máy anh ấy vẫn đeo. Đó là kỷ vật, giờ thành tin nhắn không thể thay thế. Người vợ khóc một lần rồi không khóc nữa, sáng hôm sau tất tả đi theo người móc gia đình, chiếc đồng hồ trong tay, vượt qua bao nhiêu đồn bót, cuộc chia ly mười mấy năm sắp kết thúc, bắt đầu cho một cuộc chia ly khác.


Một nửa các chuyến đi của người móc gia đình là không thành công. Địa chỉ thất lạc, người vợ đã chết hoặc lấy chồng khác hoặc đơn giản chủ nhà không tiếp khách, không rõ vì lý do gì.


Tôi biết một người cán bộ tập kết vượt Trường Sơn về Nam từ năm đầu những năm 60, về tới rừng miền Đông đã đi ngay xuống Ba Thu móc gia đình nhưng không gặp. Từ đó vài năm một lần anh cho người đi tìm, đến những địa chỉ khác anh nhớ ra bà con hai bên, vẫn không một chút tin tức. Anh sống hết cuộc chiến tranh, nhưng không đến ngày giải phóng. Anh chết vì một viên đạn lạc trên đường về giải phóng thành phố.


Có lời đồn đại về chuyện sau năm 54, chính quyền Sài Gòn có chủ trương ép những người vợ có chồng đi tập kết tái giá, lấy chồng là người của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, cốt để gia đình ly tán. Tôi không thấy ở đâu có chuyện đó, và cũng không tin. Làm sao làm được chuyện đó? Và để làm gì? Người phụ nữ nào để bị ép buộc như vậy? Sau năm 54 ba tôi đi tập kết, má tôi đem anh em chúng tôi về ở quê ngoại ở Long Xuyên. Ở đó có rất nhiều gia đình có người đi tập kết, má tôi liên hệ với những người vợ có hoàn cảnh giống mình, thường xuyên liên hệ thăm hỏi động viên nhau, tình cảm quí báu ấy còn mãi tới tận bây giờ. Những người đàn ông “Việt Minh nằm vùng” cũng kết thành một khối, đám trẻ chúng tôi được hưởng sự chăm sóc ấy. Năm đó tôi chừng mười lăm tuổi, học trung học, nhà cách xa trường ba cây số, nhà nghèo phải đi bộ. Một hôm, trên đường về nhà, một chú từ đâu đến nắm lấy tay tôi, nói là bạn của ba tôi, có lần gặp tôi vào chiến khu thăm ba. Chú hỏi mọi chuyện về nhà tôi, tôi học ở trường thế nào, má tôi dạy học ra sao, có khó khăn gì không, nhà trường làng xã có làm khó gì không. Rồi chú giúi vào tay tôi nắm tiền, rẽ đi, tôi không kịp hỏi tên và cũng không nhớ mặt.


Không thiếu gia đình ly tán sau năm 54, người vợ lấy chồng khác, chuyện đó hoàn toàn riêng tư, không dính gì tới chính trị. Và sau năm 75 hai gia đình đoàn tụ lại, con cái hai bên cùng chung vui. Chuyện tình cảm con người có qui luật riêng của nó, không thể qui hết thành chính trị.


*


Ông Thanh Nha là nghệ sĩ sân khấu lão thành, kháng chiến chống Pháp rồi tập kết ra Bắc, về Nam khá sớm, tác giả của những vở diễn “Tiếng sấm Tây nguyên”, “Vàng ròng trong lửa đỏ”.


Vượt Trường Sơn về đến miền Nam ông Thanh Nha cũng về Ba Thu móc gia đình như mọi người. Những năm cuối chống Pháp ông công tác bên Campuchia, từ đó tập kết ra miền Bắc, tính ra ông xa gia đình cả mấy chục năm. Ông trong ban lãnh đạo cơ quan nhưng sống gần gũi chan hòa với đám trẻ, chúng tôi rất thích. Từ Ba Thu về, chúng tôi tìm hỏi chuyện ông. Ông có tật kể chuyện rề rà, mặt tỉnh bơ, nhưng rất hóm hỉnh. Thì cũng như mọi người thôi, ông nói. Ông nhờ một bà già “kinh nghiệm đầy mình”, tháng nào cũng vài ba chuyến đi móc gia đình, Nam kỳ lục tỉnh chỗ nào cũng tới được. Không viết thư, chỉ dặn miệng, bà nhớ tất cả. Đúng là dân chuyên nghiệp. Bà kể có lần bà còn làm chuyện ngược lại, móc nối cho một tên lính đồn gặp một người bà con trong vùng giải phóng.


Bà già đi đã hai ngày. Ông Thanh Nha ở đợi trong một nhà dân giữa đồng. Ngày thứ ba đúng hẹn, buổi trưa ông ngồi trong nhà nhìn ra. Bà già trở về, dẫn theo một bà già khác, đầu cạo trọc, nhai trầu… Ông thốt lên: “Mình móc vợ vô, sao bà già vợ vô chi vậy?”.


Thật ra đó là vợ ông. Đã mấy mươi năm trôi qua, ông đi biền biệt, bà vợ tưởng ông không về xuống tóc đi tu, ăn trầu, giống y như bà già vợ ngày xưa. Ông cũng già nhưng quên mình già.


Ông Thanh Nha hay đùa tếu nên đám thanh niên tưởng ông đặt chuyện, cười thỏa thích. Nhưng tôi tin là chuyện thật, tôi cũng cười nhưng thấy buồn, thương cho ông.


Tôi kể thêm vài chuyện về ông Thanh Nha. Nhưng tôi kể trước chuyện Lê Anh Xuân.


Cơ quan Hội văn nghệ, tức Tiểu ban văn nghệ gồm các nghệ sĩ sáng tác, phần đông lớn tuổi, và tổ thanh niên lao động. Lê Anh Xuân còn trẻ tuổi nhưng đã là nhà thơ có tiếng, được xếp vào cán bộ sáng tác. Tôi tuy làm việc ở văn phòng nhưng chỉ là văn thư, đánh máy nên sinh hoạt ở tổ lao động. Tổ thanh niên lao động chúng tôi có giờ sanh hoạt buổi tối ở nhà bếp, đọc tin tức, nghe kể chuyện, hát hò văn nghệ. Phần đông thanh niên người nông thôn, chỉ có ở làng rồi lên rừng, háo hức muốn biết chuyện đây đó, cảnh lạ vật lạ. Lê Anh Xuân thường sinh hoạt với chúng tôi, kể chuyện miền Bắc, chuyện Trường Sơn. Một hôm anh kể về một loài cá sống trên cây. Ở rừng có nhiều cây cổ thụ có ổ rồng một loài dương xỉ mọc bám vào thân cây, bẹ lá làm thành một bọng nước, thường có các sinh vật nhỏ sống trong đó, nòng nọc các loài ếch nhái, hoặc các phiêu sinh vật bay trôi nổi trong không khí, gặp nước là sống lại. Nhưng Lê Anh Xuân không biết nghe ai kể, hoặc với tâm hồn nhà thơ bay bổng, nói có cá sống trong đó. Và rồi anh hư cấu thêm, con cá ăn hết thức ăn trong ổ rồng bay sang ổ rồng khác tìm thức ăn, đêm nằm trên võng nhìn lên nhìn thấy từng đàn cá bay bay... Đám thanh niên trố mắt nghe, kêu lên: “Lạ quá! Hay quá!”. Tôi biết chuyện khó tin, nhưng phải công nhận hình tượng từng đàn cá bay bay của anh thật đẹp.


Ông Thanh Nha là cán bộ sáng tác, hơn nữa là cán bộ trung cấp, giới “quí tộc” trong cơ quan, được mang súng ngắn, có chế độ đãi ngộ riêng. Nhưng ông sống rất chan hòa, hay tham gia sinh hoạt với chúng tôi, buổi tối mò xuống nhà bếp ngồi co gối một góc cười cười, hỏi gì mới nói. Chúng tôi hỏi chuyện Trường Sơn của ông thế nào, đi đứng ra sao? Ông đáp thì cứ đi thôi. Còn chuyện ăn uống? Chúng tôi hỏi tiếp. Ông nói dễ lắm, không cần phải nấu nướng gì cả, “thằng” Tiệp Khắc viện trợ cho thứ thuốc, sáng uống một viên, trưa một viên, chiều một viên, cứ thế mà đi. Chúng tôi hỏi thuốc gì lạ vậy, như thế nào? Ông nói không biết như thế nào, chỉ có điều lớn lắm, bằng đầu gối vậy. Hóa ra là gói cơm vắt, chúng tôi cười rộ. Ông Thanh Nha có kiểu cà rỡn như vậy. Ở rừng buồn chuyện gì cũng thành vui.


Ông Thanh Nha là người sáng tác các vở cải lương, còn là tay giỏi đàn kìm giỏi, mở lớp dạy đàn cho mấy cô gái nhỏ. Nhà văn Trang Thế Hy biết chút ít về đàn kìm, khen ngón đàn của ông Thanh Nha rất “cứng”. “Có thể cầm cây đàn của ông Thanh Nha bằng mấy sợi dây đàn”, nhà văn nói một cách hình tượng, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Phàm người đàn kìm giỏi lên dây đàn căng, đàn khó nhưng tiếng đàn sâu lắng. Trong các loại đàn cổ nhạc, tiếng đàn kìm nghe “nỗi niềm” hơn cả.


Hồi kháng chiến chống Pháp ông Thanh Nha có mấy năm công tác bên Campuchia, không hiểu lưu lạc thế nào, ông có bà chị ruột sinh sống bên đó. Năm 70, tình hình khó khăn, chúng tôi phải “chạy dạt” lên đó, ông Thanh Nha âm thầm đi tìm bà chị từ hồi nào. Một bữa ông rủ tôi và Nguyễn Chí Hiếu ra chợ X’lôn ăn tiệm, mừng gặp mặt bà chị. Đi theo ông là một bà già lưng còng, quần áo lam lũ. Không thấy hai chị em nói chuyện với nhau. Chúng tôi vào tiệm ăn, bà ngồi bên ngoài, nói không quen ăn tiệm. Suốt buổi “liên hoan” chỉ có chúng tôi với nhau, “nhân vật” chính mừng cuộc gặp mặt ngồi dựa vách bên ngoài. Người quê thường như vậy. Dì tôi dưới Long Xuyên lên Sài Gòn thăm má tôi và chúng tôi, ở chơi ngày trước ngày sau đã đòi về, nói không chịu được phố xá xe cộ, ăn uống tiệc tùng càng không quen.


Năm 70 chúng tôi bị trận càn Đông Dương, B52 rải thảm, vợ chồng nhạc sĩ – diễn viên múa Đinh Sơn – Minh Nguyệt sanh con, Đinh Sơn bưng đứa con còn đỏ hỏn trong một cái thau. Đoàn văn công tỉnh Long An lên nương náu với chúng tôi, bị trúng ngay một loạt B52 thương vong la liệt. Chúng tôi ở trong một cụm rừng có con suối gọi là suối Lục Bình. Trận càn vẫn chưa dứt, chúng tôi lại bị trúng bom B52, hai cháu nhỏ cơ quan bạn gởi bị vùi xác. Bom đạn đầy trời nhưng chúng tôi vẫn tạo cuộc sống bình thường. Ông Thanh Nha có nuôi một con gà mái, đẻ rất sai, chạy càn ông vẫn ôm theo. Ở rừng lương thực thực phẩm là quan trọng. Một bữa ông sang chỗ tôi:


“Thảo nè, con gà tao sắp chết rồi!”.


“Ủa, sao vậy?”, tôi ngạc nhiên. “Mới thấy nó chạy đây mà? Bịnh gì?”.


“Không bịnh gì. Tao chỉ đoán vậy thôi”, ông nói, vẫn với giọng rề rà. “Mày nghĩ coi, nó đẻ hơn tháng rồi, sống làm sao nổi!”.


Hóa ra là ông khoe con gà. Sau đó, ông lại gặp tôi:


“Tao chống càn cực khổ, tao “bồi dưỡng” mày con gà đó, mần ăn đi”.


Ông Thanh Nha mất năm sau đó, năm 71, sốt rét ác tính. Nhiều cái chết khác nhau trong chiến khu, bom đạn, bịnh tật, lạc rừng… Có người ngồi giặt đồ bên suối bỗng ngã ra chết vì một viên đạn lạc. Nhưng chết bịnh trông buồn thảm hơn cả. Con vi trùng sốt rét không thấy đâu nhưng tàn phá ghê gớm, thân người xanh xao chỉ còn da bọc xương. Ông Thanh Nha mất không kịp về với gia đình, trong cơ quan tôi ông là người xa nhà lâu hơn hết thảy.


Nhiều đêm nằm tôi cứ nhớ lại những chuyện như vậy, những chuyện lặt vặt trong trí óc mù mờ tưởng đã lãng quên, nhưng nhớ lại cứ thấy xốn xang ray rứt.


6 – Đường dây giao liên


Hệ thống đường dây giao liên trong chiến khu R như mạch máu của cơ thể kháng chiến, chặt chẽ, đa dạng, chính xác, là một mặt quan trọng cho việc thắng lợi. Nhiệm vụ của giao liên là đưa khách và đưa thư. Cơ quan nào ngành nghề nào cũng cần đi đây đó. Sự vận chuyển là sự sống, trong chiến tranh là chiến đấu. Những trạm giao liên có khắp nơi trong các vùng rừng, các khu dân cư. Mỗi trạm phụ trách hai cung đường hai bên, trạm kế tiếp cũng vậy, dài ngắn tùy theo địa hình, tình hình địch ta, vùng giải phóng hay vùng giặc chiếm, đồn bót, ấp chiến lược. Giữa hai cung đường hai trạm kế tiếp chọn một nơi thích hợp giao liên hai bên gặp nhau trao đổi thư từ, các đoàn khách. Đó là chỗ quan trọng, phải hết sức cảnh giác, biệt kích có thể mật phục chen vào. Phải dừng lại nghe ngóng, ra ám hiệu để nhận biết nhau. Ám hiệu thường là “cú bét cộng tròn năm”. Cú là tiếng con cú, bét là tiếng con mễn. Cộng tròn năm là thành số của hai tiếng cú hoặc bét, tôi cú hai thì anh cú ba, tôi cú một thì anh cú bốn.


Tôi kể một chuyện không phải trên đường dây giao liên, nhưng cũng giống như vậy. Năm 73, đợt trao đổi tù binh đầu tiên giữa Mặt trận dân tộc giải phóng và Mỹ, hãng phim Giải phóng cử người đi theo quay phim tư liệu. Vì chưa có bang giao, ta và Mỹ chỉ có thể chọn địa điểm gặp nhau trên tọa đồ, số người từng đoàn theo thỏa thuận hai bên. Đó là một chỗ ở Thường Phước, một vùng ven đồng Tháp Mười, gần biên giới Campuchia, đồng nước hoang vắng. Đúng ngày giờ hẹn, hai bên cùng tới nơi, vừa gặp nhau liền thấy có tốp người thứ ba quần áo bà ba đen như nông dân lướt xuồng trên cỏ đi tới. Ta ngạc nhiên, phía Mỹ cũng vậy. Hai bên cự cãi, bên này đổ cho bên kia, tại sao có nhóm người này? Trong lúc đó, nhóm người thứ ba thản nhiên xáp lên với máy quay phim, máy ảnh, sổ tay bút máy treo đầy ở cổ bắt đầu tác nghiệp, phỏng vấn tù nhân hai bên, quay phim, chụp ảnh, ghi chép, tất cả chỉ trong năm phút, rồi ra đi. Sau này mới biết đó là đoàn phóng viên người Nhật, không ai giới thiệu cả, tự theo thông tin trên sóng mò đến. Trông thế mới biết phóng viên người ta nhanh nhạy đến mức nào.


Trong hơn mười năm ở R, tôi thông thạo mọi con đường đi từ vùng rừng miền Đông và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hoặc sang Tây nguyên khu Sáu. Không biết bao nhiêu lần tôi ghé ở các trạm 40, Bố Bà Tây, Đìa Gai… băng qua cánh đồng Chó Ngáp, một cái tên khiến chúng tôi cười mãi. Bắt đầu rời cơ quan chúng tôi thấy lòng phơi phới, nghĩ đến những khổ cực sắp tới, cũng vui mừng mong chờ gặp được những trạm giao liên quen thân, chuyện trò với các đoàn khách trên đường đi. Những chuyến đi công tác là những chuyến lữ hành. Đi hết cánh rừng ra lộ 20, đi về Cần Đăng, leo qua chiếc cầu chỉ còn chỏng chơ mấy thanh sắt, về đến trạm đầu cầu là trạm 40. Đó là trạm đầu mối đi về hai hướng, đi về đồng bằng, đi ngược ra miền Trung miền Bắc. Sau năm 70 một người cậu tôi ở Long Xuyên tập kết ra Bắc trở về Nam, tên Hai Thăm, làm trạm trưởng trạm ấy. Dạo trước ngày giải phóng tôi có chuyến vượt Trường Sơn ra Bắc, ghé đó nghỉ vài ngày, cậu bồi dưỡng thịt gà nấu cháo, cho mượn chiếc xe đạp chạy đi loanh quanh. Thường đến mỗi trạm chúng tôi chỉ việc trình giấy tờ cho người trạm trưởng, vậy coi như xong, từ đó trở đi “vận mệnh” coi như giao hết cho trạm giao liên.


Bao nhiêu năm ở rừng, một phần ba thời gian là đi trên đường, tôi chưa thấy có sai sót nào ở các trạm giao liên. Tờ giấy giới thiệu bằng giấy pơ-luya mỏng, con dấu đỏ nhòe nước mưa, vậy là được tin tưởng, đi đâu cũng tới. Ở trong rừng con người được tin tưởng hơn tờ giấy.


Thường là đi ban đêm, để tránh máy bay, tai mắt địch, ban ngày dừng lại nghỉ, nấu nướng. Thức ăn khách tự lo, thường là một lon guy-gô thức ăn mặn, mắm ruốc xào thịt heo ba rọi dùng trong tuần lễ. Đi xa hơn chỉ có thể là muối tiêu. Gạo không thể mang nhiều, chỉ một ruột tượng ba bốn lít, trạm bố trí vài ba ngày đi tải gạo một lần, trạm nào, địa điểm ở đâu đều được thông báo trước.


Văn nghệ sĩ chúng tôi thường có những chuyến đi gọi là đi thực tế, tên gọi không đúng lắm, nhưng không thể gọi khác. Ở rừng cũng là kháng chiến, nhưng không thể nói ở đó có cuộc sống phong phú. Cuộc sống là ở trong dân, trong các đơn vị bội đội, thanh niên xung phong, dân công tải đạn tải gạo, các đội hậu cần thu mua lương thực. Và trên đường dây giao liên, ngôn ngữ là ở đó, các chuyện kể là ở đó. Hằng năm hoặc lâu hơn, cơ quan tổ chức những chuyến đi về các tỉnh, sang các đơn vị quân đội. Anh Đức có chuyến đi Cà Mau, viết Hòn Đất và Bức thư Cà Mau. Lê Anh Xuân đi Bến Tre viết Hoa dừa. Không thể nói là đi bao lâu. Tính đi mấy tháng nhưng có khi mất hơn năm. Đường sá cách trở, chiến sự mù trời, nhiều anh chị đi mất tăm, lâu lâu lại thấy mò về. Thường chúng tôi chuẩn bị tinh thần rất lâu cho những chuyến đi như vậy. Đường nào cũng là “con đường gian khổ”. Nhiều người sau chuyến đi trở về già sọm đi. Nhưng mọi người đều thích đi. Di chuyển là bản chất của nhà văn, của người nghệ sĩ.


Qua lộ rụng tóc, qua sông bạc đầu, không biết từ lúc nào ở rừng có câu nói như vậy. Ý nói sự căng thẳng làm cho người ta già đi. Từ Ba Thu đi về Long An, Mỹ Tho, Bến Tre phải qua vô số con lộ, nhứt là lộ Bốn, con đường huyết mạch, xe tuần tra địch luôn qua lại. Giao liên dẫn khách luôn thay đổi đường đi, nhứt là ở địa điểm qua lộ qua sông. Qua lộ phải trải tấm ni lông cho khách bước qua, sau đó cuốn đi, không để lại bất cứ dấu vết nào. Qua sông chọn những bến vắng, bãi hoang càng tốt.


Về miền Tây đường đi cặp theo biên giới Campuchia, về Thường Phước – Hồng Ngự, băng xuống Cà Mau, qua hai con sông Cửu Long, ở đó luôn có hạm đội nhỏ trên sông của hạm đội 7 Mỹ chạy như xé gió qua lại. Sông Cửu Long nhiều đoạn rộng như biển, muốn qua sông phải chọn đúng thời điểm giữa hai đợt tuần ra, hoặc chọn ghe máy đạt tốc độ tương đương.


Có một chuyện kể nói lên sự căng thẳng khi qua sông. Một chiếc thuyền máy chuẩn bị vượt sông. Đúng thời khắc giữa hai chuyến tuần tra của bọn hải thuyền, người lái thuyền giật dây nổ máy, mặt căng thẳng, chiếc đồng hồ ở cổ tay văng rớt xuống sông anh không hề liếc nhìn theo. Ở trong rừng chiếc đồng hồ là tài sản quí giá, như cái radio, “của chìm” của người kháng chiến để phòng thân.


Trong chiến tranh tôi chưa về miền Tây, chưa qua sông Cửu Long. Nhưng nhiều lần qua sông Vàm Cỏ, qua lộ Bốn và lộ khác các tỉnh miền Trung Nam bộ. Thường qua sông ban đêm. Con sông chảy âm thầm, ven bờ lá dừa nước mọc ken dày rủ bóng, cảnh thanh bình yên ả. Ghe máy hoặc ghe tam bản bốn chèo phục sẵn trong một khe lạch trong ven lá dừa nước, người lái ghe đón chờ tín hiệu nhá đèn từ bờ bên kia, chốt gác theo dõi các chuyến đi tuần tra của tàu giặc: giờ giấc, tàu lớn tàu nhỏ qua lại. Chúng thường thay đổi lịch trình, ta phải chú ý theo dõi. Lịnh xuất phát, ghe phóng như bay sang sông, một tổ súng máy ghim sẵn đánh trả. Tổ giao liên đưa khách sang sông cũng là một tổ chiến đấu.


Qua lộ mau hơn nhưng nguy hiểm hơn, xe tuần tra địch chạy như giăng trên đường. Con lộ Bốn chia cắt tỉnh Long An hai phần Nam Bắc, chỉ đi trong tỉnh cũng phải qua con lộ ác nghiệt đó. Giao liên chọn đoạn đường vắng nhà dân để qua lộ, tránh bọn chỉ điểm, cũng để tránh dân chúng bị thương vong trường hợp có chạm súng. Một lần, tôi bị chạm súng. Chúng tôi vừa nhô ra đường một chiếc xe tuần tra địch cũng vừa trờ tới. Tổ giao liên phục ngay xuống nổ súng, chiếc xe địch cũng dừng lại bắn trả. Một nửa đoàn khách chạy thoát sang bên kia đường, tiếp tục chạy đi. Nửa còn lại trong đó có tôi phải chạy thối lui trở lại tìm chỗ núp, chờ người của giao liên đến dẫn đi. Tôi không biết thương vong như thế nào. Chúng tôi trở về trạm đêm sau đi tiếp, lần này con lộ vắng tanh, đoàn người qua trót lọt.


Con đường tôi vào với R ở đầu chuyện kể cũng là con đường sau này tôi đi “thực tế” về nông thôn, hoặc về Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân năm 68. Không biết bao nhiêu lần tôi qua lại con đường ấy. Mỗi chuyến đi tôi đều chuẩn bị rất kỹ: đèn dầu, quai dép và cây xỏ dép, có được đôi dép mới càng tốt. Đôi dép râu là điều kỳ diệu trong chiến tranh, hơn mọi thứ dày dép trên đời. Ruột tượng gạo và kim chỉ, vải vá, đi giữa đường ruột tượng gạo bung ra là tai họa. Lương khô cho tuần lễ đi đường hoặc hơn. Nhứt là tinh thần chịu đựng gian khổ, có thể đi suốt ngày đêm, bị bom pháo, đụng càn bố. Vậy mà những người giao liên đi gần như hằng ngày. Tôi thường đi sau anh giao liên, nhìn ngắm anh. Anh bước đi đều đặn, khẩu súng cặp sát nách, chiếc bồng kẹp lép, hành trang tối giản, dép không có cả quai sau, đi dép Thái Lan, vậy mà rừng rú bưng trấp nào cũng qua được.


Những người giao liên là những người lặng lẽ. Không thể nói chuyện trên đường đi, tới nơi lăn ra ngủ. Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Có lần phải đợi chuyến, tôi ở một trạm hơi lâu, quen một người trong trạm. Anh không đi đưa khách, có lẽ do lớn tuổi, sức yếu. Anh ở lại trong trạm làm những việc lặt vặt như nuôi gà, làm bẫy bắt thú. Nhưng anh rất thông thạo chuyện chiến đấu, tỏ ra là một chiến sĩ dày dạn. Tôi nhiều lần nghe anh kể chuyện, lấy làm thán phục, tuy tôi mới ở Sư đoàn 9 về, đã dự những trận đánh lớn. Sau đó, một lần nói chuyện với người trưởng trạm, tôi biết anh chưa từng đi bộ đội, chưa chiến đấu trận nào. Anh ở trong trạm làm việc xong rồi thả đi chuyện vãn với các đoàn khách, lấy chuyện của người trước kể lại cho người sau, không nói rõ chuyện của ai ở đâu khiến mọi người lầm tưởng đó là chuyện của anh. Tôi đã lấy chuyện đó viết thành một truyện ngắn, anh không có lỗi gì, thậm chí còn làm chuyện tốt đẹp. Cái chính là chiến công được truyền đi, người kể chuyện có quan trọng gì. Anh chỉ làm công việc như nhà văn chúng tôi, thậm chí còn khiêm tốn hơn, không ghi tên dưới các chuyện kể của mình.


Trên đường dây giao liên tôi gặp được nhiều người, nghe được nhiều chuyện hơn bất cứ ở đâu. Đi suốt đêm, sáng ra đến chỗ nghỉ chân nấu nướng ăn uống ngủ một chút, quá trưa là lúc thảnh thơi, các đoàn khách tìm gặp nhau thăm hỏi chuyện vãn. Người Bến Tre kể chuyện đồng khởi, vượt sông, trốn càn trên ngọn dừa. Người Long An kể chuyện đồng Tháp Mười, vượt kinh Bo Bo, vào rừng tràm ăn ong, xom chuột. Người Cà Mau kể chuyện rừng đước, rừng mắm, sông Cái Lớn, rừng U Minh đất xắn lên phơi khô có thể đốt nấu được. Có lần tôi nghe được chuyện về con tàu không số, vận chuyển vũ khí đường biển từ Bắc vào Nam, trước khi nghe chuyện Bông Văn Dĩa ở Đại hội anh hùng lần II. Lần khác, tôi nghe chuyện từ chính người của Sư đoàn 9 kể chuyện trận đánh tôi vừa tham dự.


Một lần, ở trạm Bố Bà Tây, tôi nghe một chuyện về một trận đánh xảy ra trong cảnh đốt đồng, giống y như truyện ngắn Khói của Anh Đức. Đêm nằm tôi hình dung lại cảnh ấy, cảnh thật trong chuyện kể và cảnh hư cấu trong truyện ngắn, lòng bồi hồi với cảm xúc thực hư lẫn lộn.


Tôi không thể nào quên đoạn từ Ba Thu về vùng Đức Huệ, Đức Hòa tỉnh Long An, theo kinh Bo Bo băng qua đồng Tháp Mười quê hương tôi, gắn với ký ức tuổi ấu thơ của tôi. Những cánh rừng tràm âm u trong bóng đêm, những vạt cỏ năng cỏ lác, những đầm nước, con kinh dậy lên mùi phèn, thỉnh thoảng nổi lên những gò mả đá sứt lở trông thê lương, buồn bã.


Nhiều đoàn khách kể chuyện họ đã đi mấy tháng trời mới tới đây, qua bao nhiêu đồn bót, ấp chiến lược, bao nhiêu trận càn, đi tới rồi đi lộn trở lại. Con đường giao liên không bao giờ là con đường thẳng. Nhiều người trong họ đã phải nằm lại.


Nhưng cũng có nhiều chuyện vui. Nhiều thanh niên trai gái quen nhau trên đường dây, trong các trạm, liên hệ với nhau rồi thành vợ chồng, có làm lễ “tuyên bố”, “vui duyên mới không quên nhiệm vụ”, nhưng không một ngày sống chung với nhau.


Tôi nghe được một chuyện lạ trên đường dây giao liên. Một trạm bị trận càn đánh trúng, các đoàn khách chạy tan tác, giao liên cũng lạc mất. Sau trận càn, một nhóm người từ các đoàn khách tụ tập lại, có người già, phụ nữ. Có một người là bộ đội nhưng là y tá, không có súng. Đi đứng sắp tới làm sao đây? Mọi người bàn bạc, cử người bộ đội chỉ huy đoàn. Tình thế bắt buộc, một chuyến vượt rừng không mong muốn, nhưng ý chí rất lớn, mọi người phải thoát ra khỏi vòng vây, về đến nơi an toàn. Tôi đã lấy chuyện đó làm cốt truyện cho một cuốn tiểu thuyết, câu chuyện về một chuyến vượt rừng của một đoàn người pha tạp nhưng không ô hợp.


Trong tiểu thuyết, tôi đặc biệt chú ý tới nhân vật hai người buôn thuốc Tây. Đó là hai người dân, không dính líu gì tới kháng chiến, chỉ là người buôn bán, kiếm lợi nhuận. Nhưng họ cũng lặn lội trong rừng, chịu bom đạn, đói khát, nhiều khi bị trúng bom, đồ đạc tan hoang cả, giữ được tính mạng là may. Nhưng họ không thối chí, vẫn miệt mài lặn lội, không giàu có gì, như một nghiệp dĩ họ phải gánh chịu. Trong chiến tranh thường có nhiều người dân như vậy, sống bám theo các cơ quan, các đơn vị bộ đội, tự lấy cuộc sống khổ cực của mình làm lẽ sống. Số người đó không ít, trái lại ngày càng đông, sống tách biệt hẳn với làng xóm, nhà ở lộ thiên nhưng bọn địch gọi là “bất hợp pháp”, có thể tự do oanh kích. Trên đường đi tôi gặp không ít những xóm dân như vậy, giao liên hay chọn đường qua đó để khách có chỗ ghé nghỉ chân, gọi họ là “người của mình”, yên tâm không có tai mắt địch trong đó, có thể nhờ vả mọi chuyện. Ngay ở gần cơ quan tôi cũng có những xóm dân như vậy. Chúng tôi đi đâu họ theo đó, ăn ở tạm bợ, buôn bán mọi thứ, con cái lớn lên gởi vào cho chúng tôi, ở luôn tới ngày giải phóng, thành cán bộ cho tới ngày nay. Tôi thường phân vân về những người đó. Sao họ chịu cực khổ bom đạn như vậy? Vì cái gì? Chỉ mất mát thôi, được gì đâu? Cái gì khiến họ gắn bó với chiến khu, với kháng chiến? Họ thích cuộc sống ở rừng, lãng du rày đây mai đó, muốn là người kháng chiến, nhưng không thích bị quản lý trong tổ chức?


Ở trạm Bố Bà Tây có xóm dân gần đó, có người dân tên Năm Cổ, tên chúng tôi đặt, do anh thích nói năng theo kiểu văn chương biền ngẫu cổ xưa, nói “em gái” anh thêm “em gái ngày xưa”, nói “qua cầu”, anh thêm “qua cầu dệt lụa”. Không biết anh tiêm nhiễm tuồng tích cải lương từ hồi nào, anh có thể nói suốt ngày như vậy. Chuyện kể có lần viết thư về thăm mẹ, anh viết bằng văn vần. Mở đầu tả cảnh rừng, anh viết: Ở rừng có rất nhiều cheo, Thuở con đi ba má hãy còn nghèo. Rồi gợi ý xin tiền, anh viết: Đám mía trước nhà bán chưa ba má nhỉ? Anh ký tên bên dưới, thay vì Con của mẹ, anh viết: Người năm cũ. Anh tốt bụng, thích anh em văn nghệ, chúng tôi qua lại thường ghé anh. Anh cũng theo dõi chúng tôi qua lại. Có lần tôi đi cùng nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, đến gặp anh, chưa chào hỏi anh đã báo tin: “Lư Nhất Vũ vừa đi xuống, Huỳnh Phương Đông đi lên”. Anh ở căn nhà nhỏ đạm bạc, lúc nào cũng cặm cụi không biết làm gì, nhưng lúc nào cũng có món gì đó đãi khách, chầu trà với kẹo đậu phộng, phong bánh in, miếng khô trâu vừa phơi một nắng.


Người trạm trưởng cũng là chỗ thân tình, chúng tôi đi về anh đều ra đưa đón. Có lần anh bồng con đi ra, chỉ tay vào tận mặt nhà văn Lý Văn Sâm nói: “Nè, ông làm bài hát dễ ca lắm đó nghen!”. Đó là lời khen, người quê chân chất thường có kiểu biểu lộ tình cảm thô thiển như vậy. Ông Lý Văn Sâm là nhà văn nổi tiếng, viết tiểu thuyết từ thời Tiểu thuyết thứ bảy, đăng tải nhiều kỳ, chuyện đường rừng rất hấp dẫn, đến giờ tôi vẫn nhớ những truyện như “Tiếng đàn Chìn-kha-la”, “Kòn-trô”. Ở rừng, rảnh rỗi ông có viết thêm lời ca cổ, và ở lĩnh vực này ông cũng tỏ ra tài hoa, lời ca sinh động di dỏm. Ví như các bài theo điệu “Ú liu ú xáng”, hoặc bài theo điệu “Lý con sáo” như thế này: Tía em chúa sợ xe lội nước, Nghe đùng đùng ông đổng mất tiêu, Cứ như thế ổng đi tới chiều, Khi trở về vẻ mặt buồn hiu.


Một lần khác, Lý Văn Sâm đi chung với nhạc sĩ Hoài Mai, ở lại trạm mấy ngày, thấy đã thân tình, e dè ngỏ lời với người trạm trưởng nhờ mua ít đậu xanh nấu chè ăn bồi dưỡng cả tuần đi đường. Chuyện lương thực ở rừng là quan trọng, các thứ “ăn chơi” như đậu xanh nấu chè là thứ hiếm có. Người trạm trưởng đứng ở đầu võng ông Lý Văn Sâm, đưa ngón tay gõ nhịp lên sợi dây võng nói: “Là một”. Ý muốn nói còn cần gì nữa không, không lẽ chỉ nhờ mua đậu xanh thôi? Mọi người chỉ hâm mộ tác giả Thanh Lý làm lời ca cổ, còn nhà văn Lý Văn Sâm không ai biết.


Tôi có nói đến một trạm tên là Cồn Cỏ. Đó là tên do anh em đặt, vì tính chất trơ trọi của nó, theo một địa danh có nhiều chiến sự ở miền Bắc thường nghe thấy trên đài phát thanh. Trạm ở giữa đồng, như một chiếc cồn giữa biển, chỉ có cây bụi và cỏ, đầy những gò nổng. Khách đến nơi giữa đêm tìm một gò khô ráo lủi vào, cây bụi cao không quá đầu không thể che được gì, cột chằng chéo có thể giăng võng ngủ tạm, hoặc chỉ có thể nằm khoanh dựa lưng vào gò đất. Gay nhứt là củi nấu, không có cây, chỉ có cỏ và những cành lá cây bụi, các đoàn khách qua lại thường xuyên đã vặt trụi. Nhưng người kháng chiến là những người cực kỳ tháo vát, trong đó có bản thân tôi, như tôi có lần kể cảnh đêm mưa trong vườn cao su của Sư đoàn 9. Chuyến đó, tôi đi với anh Đinh Quang Nhã. Tôi nói anh cứ yên tâm, anh đi tìm nước vo gạo đi, chuyện củi để tôi lo. Tôi sục vào các bụi bờ, một cọng cỏ một nhánh cây bằng ngón tay tôi cũng quơ lấy, nhổ cả gốc những bụi le cằn cỗi, lá le khô tôi cũng gom. Cuối cùng lửa vẫn nổi lên, khắp nơi các đoàn khách đều đỏ lửa. Chúng tôi nằm gác chân chờ cơm chín, anh Nhã thậm chí còn châm được trà bằng chiếc ca Mỹ. Anh là người tập kết. Những người tập kết thường ghiền trà, trong chiến khu chống Pháp gọi là UTQ, tức “uống trà quạu”.


Chiến sự càng ác liệt, đường giao liên càng phải thông suốt. Năm 68 tham gia chiến dịch Tết Mậu Thân, tôi theo cánh quân của ông Tư Thân đánh vào phía Tây Nam Sài Gòn, từng đợt có việc phải về Ban chỉ huy, hoặc Hội văn nghệ Sài Gòn- Gia Định, tuy đoạn đường ngắn nhưng phải qua hai con sông Vàm Cỏ. Nhiều người có thể tự đi, nhưng tôi một mình phải nhập vào đường dây giao liên. Thường đi trong đêm là tới, nhưng đó là con đường máu. Lần đó, tôi bị thương phải về sau nằm viện. Vết thương do miểng bom, nhưng không phải bom nổ. Miểng bom nằm trong bùn tôi đi chân không dẫm phải, cứa ngang giữa lòng bàn chân, tôi luôn lội bùn nên không thể lành. Anh Tư Ấp, chính trị viên tiểu đoàn cương quyết bắt tôi phải trở ra sau nằm viện, kêu người liên lạc đưa tôi qua trạm giao liên, viết tờ giấy giới thiệu bằng bàn tay không có con dấu gì cả nhưng vẫn được công nhận. Từ trạm giao liên một tổ ba người súng ống đầy đủ đưa tôi đi, cùng mấy người khách nữa, ai cũng có công việc quan trọng. Chúng tôi đi len lỏi trong những khóm lá dừa nước, những bờ ruộng mấp mô, những khu dân cư im lìm. Chó không sủa, có lẽ đã quen những chuyến đi. Chúng tôi đến bờ sông Vàm Cỏ Đông, ghé vào một nhà có lẽ là cơ sở, tổ giao liên bàn chuyện ghe xuồng với chủ nhà. Chủ nhà có vẻ căng thẳng. Tổ giao liên cũng lo lắng. Một người nói với tôi: tàu lính tuần tra đang đi tới lui trên sông. Nhưng không thể không vượt sông, đâu có con đường nào khác. Mọi người tiếp tục công việc chuẩn bị. Không có máy nổ, cần giữ bí mật, chúng tôi sẽ đi trên hai chiếc ghe bốn chèo, một người khách cùng chèo tiếp. Người giao liên hỏi tôi lội được không? Tôi nói được. Chúng tôi đi ngay. Người chủ nhà ra bến nghe ngóng hai đầu, ra hiệu xuất phát. Trời không trăng, ghe chèo thật mau, lặng lẽ, hòa trong bóng đêm. Đến quá nửa sông bỗng nghe ầm ầm, một chiếc tàu tuần tiễu hiện ra từ xa. Tổ giao liên bàn nhau, kêu tất cả chúng tôi sang hết một ghe, một người giao liên ở lại ghe bên kia. Tất cả nhanh chóng chỉ trong mấy phút, tôi chưa hiểu chuyện gì thì nghe anh nói: “Mấy anh đi đi, tôi chết với nó”.


Chuyện chỉ là một trong hàng ngàn chuyện ác liệt trong trận đánh đó, nhưng mỗi lần nhớ lại tôi thấy đau thắt. Chúng tôi chèo phóng vô bờ, nghe súng nổ phía sau, biết chuyện gì xảy ra. Nhưng không ai nói gì, không một lời thốt lên lúc đó, và mãi về sau lúc chúng tôi cặp bờ phóng đi gần như chạy. Chúng tôi đến chỗ của mình, chia tay hai người giao liên, vẫn không một câu hỏi về người giao liên ở lại phía sau. Những ngày tháng đó đầu óc chúng tôi điếc đặc, tim chai sạn, chúng tôi chỉ nghĩ đến những gì phía trước. Những người giao liên là những người chiến sĩ, và là chiến sĩ xung kích.


7 –Trận đánh Tết Mậu Thân năm 68


Từ Bù Đốp dự Đại hội anh hùng lần II vừa về tới cơ quan, tôi được lịnh chuẩn bị đi công tác về Khu Sài Gòn- Gia Định, gọi là I4. Tôi lờ mờ đoán có một chiến dịch lớn nào đó. Thường có chiến dịch quan trọng, những trận đánh lớn, như chiến dịch Đồng Xoài trước đây, hoặc trận càn Gian-xơn Xi-ty, kể cả ruồng biệt kích, tải vũ khí (X4), cơ quan cử tôi, “người của chiến trường”. Cùng đi với tôi có anh Viễn Phương, là người của I4, nay trở về cơ quan cũ.


Sau này, tôi có vài lần sang Mỹ dự hội thảo về văn học chiến tranh Việt Nam, một nhà văn Mỹ chuyên nghiên cứu về trận đánh Mậu Thân, cho rằng đó là trận đánh then chốt, thậm chí quả quyết ai không biết trận đánh ấy, coi như không biết chiến tranh Việt Nam.


Chúng tôi cũng đi con đường ấy về Long An, rẽ sang trái đến một cụm rừng thưa, đó là điểm tập cho các cơ quan dân chánh tham gia chiến dịch. Mọi tin tức về chiến dịch đều được giữ bí mật tuyệt đối, quân đội đang còn ở rất xa, nghe đâu Sư đoàn 9 còn ở tận Phước Long. Trận đó ta đã tạo được bất ngờ lớn, CIA còn không biết. Nhưng bất ngờ với địch cũng bất ngờ với ta, nhiều đơn vị không được phổ biến không kịp chuẩn bị gì cả. Chuyện đó tôi hãy nói sau.


Chúng tôi chỉ được học tập chuyện vào thành phố, tiếp cận thế nào, đường sá ra sao, cách tiếp xúc với dân cần những điều gì. Được làm căn cước giả của Sài Gòn, nghe đâu Liên Xô làm dùm cho, một người tên Chín Cò chuyên điền thông tin cá nhân, trông mặt từng người ghi vào mục nghề nghiệp. Ví như tôi năm đó chưa tới ba mươi, ông ghi: sinh viên. Người nào trông dày dạn láu lỉnh, ông ghi: buôn bán. Thậm chí có người mặt mày trông u ám thế nào, ông ghi: ở đợ.


Dự kiến chúng tôi vào thành phố trước giờ nổ súng, trà trộn vào dân hoạt động “hợp pháp”. Do đó, theo nguyên tắc hoạt động nội thành chúng tôi phải giữ bí mật nhân dạng, sinh hoạt tách biệt không ai biết ai, đi xuống nhà bếp ăn cơm, lấy nước sôi phải che mặt. Ông Ba Lý, tức nhà thơ châm biếm Nhất Tiếu tài danh, phụ trách cánh chúng tôi. Lấy cớ không được lộ diện, chúng tôi kêu: “Ông Ba Lý ơi, lấy giùm bình nước sôi”. Ông đi lấy nước sôi cho chúng tôi, nhưng lầm bầm: “Tụi bây biết mặt nhau hết rồi, còn làm bộ!”.


Giờ G. đã điểm, chúng hành quân một đoàn rất đông, nối đuôi nhau thành một hàng dài chừng ba bốn trăm người, trời chiều chưa tắt nắng, ít người trong Hội văn nghệ chúng tôi biết nhau, còn không ai biết ai. Mọi chuyện ngay từ đầu đã có nhiều bất cập. Nhiều năm đi đánh trận chưa khi nào chúng tôi thiếu cảnh giác đi “lộ thiên” đông người như thế. Ai cũng chỉ biết đại khái có trận đánh lớn ở Sài Gòn, nhưng trận đánh thần tốc, như Nguyễn Huệ đánh Thăng Long thì không ai biết. Chính người dân còn biết hơn chúng tôi. Chúng tôi đi trong ánh chiều, đi băng đồng rồi vào làng. Dân làng đổ ra đứng hai bên đường chào đón chúng tôi. Vì là ngày Tết, trước nhà nào cũng bày ra bánh trái, thuốc lá trên những chiếc sàng, ai muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Một cụ già quần áo lụa trắng, tóc bạc trắng chống gậy lập cập đi ra giơ tay với chúng tôi, run run nói:


“Phen này ráng thắng nghen các con!”.


Giữa đêm hôm đó chúng tôi đến Tân Nhựt, một làng ven Sài Gòn, ngủ vài ba tiếng đồng hồ, trời chưa sáng nghe súng nổ. Chúng tôi không phải là một đơn vị có tổ chức, chỉ là một đoàn người được tập họp lại từ nhiều ngành nghề, được một trung đội trang bị đơn sơ bảo vệ. Vậy mà đi lộ thiên, rần rần như Sài Gòn đã giải phóng rồi. Có lẽ đoàn người đã bị lộ từ hôm qua, việc nghỉ chân ở xóm ấp đã được địch xác định, từ sáng sớm đã bị tập kích bằng bộ binh và trực thăng. Bộ binh địch nổ súng từ ngoài đồng áp vào, trực thăng quần đảo xả súng bắn trên đầu. Chúng tôi được chỉ dẫn chạy xuống núp dưới ven lá dừa nước. Vùng Long An và Nam Sài Gòn, trong nhiều năm chiến tranh, ven lá dừa nước là “rừng rậm”, “địa hình” cho du kích và bộ đội địa phương. Suốt ngày hôm đó, từ sáng sớm tới chiều tối chúng tôi chịu đựng hỏa lực khủng khiếp của đạn trực thăng, cối, pháo, đạn bộ binh địch từ khắp nơi bắn tới.


Không thể nói đó là một trận đánh. Lực lượng bảo vệ chỉ có hơn trung đội lần lượt bị thương vong. Trận đánh từ trên trời giáng xuống, chúng tôi chỉ có chịu đựng. Ngay từ đợt đầu tiên họa sĩ Hoàng Anh của chúng tôi đã bị trúng đạn. Tôi đứng sát bên anh, bên một bụi dừa nước. Con rạch nhỏ, rộng chừng vài sải tay, nước lưng một nửa. Một chiếc trực thăng sà tới, gió từ cánh quạt khiến bụi dừa nước ngã rạp. Có ai đó la lớn: “Lặn đi!”. Đó là một kinh nghiệm lớn. Đạn trực thăng cắm xuống, chỉ có nước làm lực cản, viên đạn bị chạt đi. Tôi hụp lặn thật sâu, vẫn nghe được loạt đạn nổ chát chúa bên trên. Chiếc trực thăng bay qua, tôi trồi lên, lại nghe ai đó la: “Anh ấy bị thương rồi”. Chính là Hoàng Anh. Tôi và vài người dìu anh ấy đi. Họa sĩ Trang Phượng từ đâu tới cùng dìu. Thật ra chúng tôi không biết chạy đi đâu, có biết đường sá gì đâu, ven lá dừa nước cũng chỉ là một ven lá, một mục tiêu, bốn bên là đồng trống. Trang Phượng tìm được một mảnh xuồng bể, chúng tôi đặt Hoàng Anh nằm lên đẩy đi trên bùn, cũng chỉ là hành động bản năng vậy thôi. Rồi tôi lạc sang một cụm lá khác, ở đó có một đơn vị đang chiến đấu, không biết thuộc lực lượng nào, du kích hay bộ đội địa phương. Trực thăng vẫn quần đảo. Có thể chống trả với bộ binh nhưng với trực thăng thật khó khăn, đã bắn cháy mấy chiếc nhưng chúng vẫn bu đến. Lực lượng chiến đấu lần lượt bị trúng đạn, tôi thành người cứu hộ, khiêng vác thương binh tử sĩ lên đặt nằm trên một nền nhà cũ đã bị bom phạt ngang, chỉ còn trơ vài bức tường và cột chống. Có một lúc giữa hai đợt nổ súng, trực thăng quần ra xa, tôi ngồi nói chuyện với một chiến sĩ đang ngồi chống súng dựa lưng tường, rơm phủ chung quanh để nghi trang. Tôi nói đủ chuyện, để bớt căng thẳng, không nghe anh trả lời, lát sau tôi quay nhìn sang thấy anh đã chết từ hồi nào, như người đang ngủ.


Tôi chạy đi lại gặp Trang Phượng với miếng ván đẩy Hoàng Anh. Hoàng Anh đang kiệt sức. Tôi la lên, sau này tôi đã quên, Trang Phượng thường hay nhắc lại: “Anh em mình đằng kia hy sinh nhiều, súng ống nhiều lắm, lại lấy mà chiến đấu!”.


Hoàng Anh mất chiều hôm đó, người văn nghệ sĩ hy sinh đầu tiên hy sinh trong chiến dịch Mậu Thân tôi được biết. Tôi nhớ chiều hôm trước đoàn người xuất phát, đi hơn tiếng đồng hồ trên bờ ruộng nhỏ hẹp bỗng có lịnh truyền xuống: “Dừng lại nghỉ”. Tôi đi sau anh. Đoàn người đi chen nhau, đến một lúc dừng nghỉ anh phải đứng giang chân giữa một khe nước. Anh cười nói với tôi: “Mày coi tao nè! Đêm nay tao có thể ngủ giạng chân như vầy”. Anh là người luôn vui vẻ, hóm hỉnh.


Trận đánh chấm dứt lúc chiều tối, giữa khuya chúng tôi đi tiếp vào Sài Gòn, đến đoạn An Lạc, Phú Định – cầu Ông Thìn. Vậy là sau bốn năm tôi trở lại Sài Gòn. Từ xa nhìn quầng sáng thành phố tôi không có cảm giác gì. Tôi ra đi lúc thành phố thanh bình, đèn đường, xe cộ, nhà hang, quán tiệm, giờ là một thành phố đổ nát, đường đi luôn phải băng qua những cây gỗ, những đống gạch vụn. Chúng tôi vào một nhà, tôi hỏi xin cô gái trong nhà miếng giẻ lau khẩu súng. Cô gái nhìn tôi trân trân, như không nghe tôi nói, tôi lặp lại lần thứ hai cô vẫn làm thinh. Tôi định quát bảo, nhưng nhớ lại điều lịnh trước khi lên đường, tôi quay bỏ đi. Có lẽ do bộ dạng của tôi ghê gớm quá, mặt tái xanh, mắt trợn tròn căng thẳng, mình mẩy tóc tai đầy bùn sình, ba lô và chiếc radio văng mất, chỉ còn lại nịt đạn và khẩu súng. Tôi thấy hơi chút tủi thân. Bốn năm trước tôi cũng là “người Sài Gòn” như cô, sinh viên một trường đại học danh giá, vậy mà cô ta coi tôi như “người rừng”.


Chúng tôi vào ở một nhà vắng chủ. Tất cả nhà khu phố đều vắng chủ, mọi người đã đi tản cư. Ngày Tết, nhà bày biện đồ ăn thức uống đủ cả, trái cây trên bàn thờ, bia và nước ngọt ở bàn khách. Sau bếp nghe cá quẫy lách chách trong khạp nước, thức ăn phòng hờ cho ngày mùng Một, mùng Hai không nhóm chợ. Tôi kéo ghế ngồi, thấy chai nước ngọt và cây khui nằm trước mặt, chủ nhà không kịp uống đã phải ra đi. Sau nhà có chuồng gà, con lớn cả mấy ký khiến tôi ngạc nhiên. Đó là gà công nghiệp, hồi tôi đi, Sài Gòn chưa có. Có một phòng khách lớn cửa khóa kín, tôi dòm vào song cửa thấy trên tường nhà treo nhiều hình những sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, hẳn là những con cái trong nhà. Nhớ điều lịnh “không động đến cây kim, sợi chỉ”, chúng tôi chỉ mượn bếp nấu cơm ăn với lương khô đã kịp chuẩn bị. Hôm sau bà chủ nhà về coi qua nhà cửa, chúng tôi xin phép được ở, xin mua mấy con gà. Bà chủ nhà nói cứ ở, gà cứ bắt ăn, chúng tôi ở giữ nhà bà cám ơn quá rồi. Nhưng chúng tôi cương quyết trả tiền bà đành nhận, lấy giá tượng trưng. Bà không nói gì đến những người con sĩ quan và chúng tôi cũng không hỏi.


Chúng tôi hầu hết đều quen bom đạn, nhưng chỉ ở rừng, lần đầu tiên vào thành phố không khỏi ngỡ ngàng. Chiến trường có vẻ “chật chội”. Sáng bước ra cửa thấy ngay chiếc xe tăng địch lù lù trước mặt. Người bắn súng B40 chỉ quen bắn thẳng, bất ngờ nhìn thấy quân địch trên từng cao, chĩa súng lên bắn bị lực đẩy phía sau dội lại. Nhiều tai họa như vậy. Một đại đội chiếm lĩnh một dãy phố, triển khai đội hình đóng quân, trung một trung hai bên phải, trung ba bên trái. Bỗng nhiên, một trung đội đóng dưới nhà nghe trên lầu có người. Hóa ra đội hình hai bên chồng lên nhau. Có một đơn vị đóng quân một nhà, nửa đêm nghe tiếng kêu cửa, mở ra thấy một sĩ quan đi chơi khuya về, đã say nhè, quát tháo chửi rủa, tao là con chủ nhà không cho tao vô hả?


Lần đầu tiên chiến đấu trong thành phố, nhiều chuyện không tưởng tượng được như vậy.


Chúng tôi chưa móc nối được với ai cả, thấy bơ vơ, không biết đi đâu, làm gì. Cuối cùng, bàn nhau đến gặp ông Trần Bạch Đằng, thủ trưởng cũ, giờ đang đặc phái xuống Sài Gòn, không biết giữ trọng trách gì. Đây là một nhân vật hết sức quan trọng, khá nổi tiếng, không chỉ vì ông là trưởng Ban tuyên huấn đầu tiên và trong nhiều năm, còn là người có tính cách mạnh mẽ, có tài ăn nói, lanh lợi tháo vát, dám nghĩ dám làm. Có thể có người thấy ông ấy hơi phô trương, nhưng sự gan dạ của ông làm lu mờ tất cả. Ở cơ quan ông tự đặt bí danh là Yên Thế, hùm xám đất Bắc. Chúng tôi đến gặp ông, tại chiến trường ác liệt mới thấy rõ phẩm chất của ông. Ông giống một vị tướng hơn con người của Ban tuyên huấn. Ông ở trong một căn chòi gần An Lạc, có chiếc hầm núp rất lớn, với một tiểu đội bảo vệ. Ông ngồi bên trên, chính giữa hầm núp, chúng tôi ngồi quanh ông, cả bọn trông như những anh hùng Lương Sơn Bạc. “Tình hình khó lắm rồi, anh em mình ráng giữ cái thủ cấp!”. Chúng tôi đã biết phần nào, nhưng nghe ông nói càng thêm tin. Ông cho biết đã nổ súng hăm bốn tiếng rồi, đáng lý ra phải chiếm được các điểm chủ chốt như Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tư lịnh hải quân, Đài phát thanh, Bộ tổng tham mưu, Sân bay Tân Sơn Nhứt, Tổng nha cảnh sát… Nhưng tất cả đều gặp trục trặc, sơ xuất không tính kỹ ngày giờ nổ súng theo dương lịch hay âm lịch, lịch miền Bắc hay lịch miền Nam. Nhưng nói chung tính bất ngờ vẫn được bảo đảm, tuy các mũi đều gặp khó khăn. Trông ông có vẻ căng thẳng nhưng tự tin, đó là điều tôi thấy ở ông và hầu hết cán bộ chiến sĩ tham dự chiến dịch tất cả đều một ý chí tiến công, không lùi bước.


Tôi hỏi ông về Nguyễn Văn Tăng, tức Tư Tăng, người biệt động nổi danh tôi quen biết năm trước ở Bù Đốp. Ông cho biết Nguyễn Văn Tăng ở đội biệt động số 4, cụm 1, đánh vào Đài phát thanh, chỉ trong ba phút đã chiếm được đài, nhưng nhân viên kỹ thuật và bộ phận chính trị phụ trách phát thanh bị chặn ở Phú Thọ Hòa, công việc tuyên truyền gây tiếng vang bị phá sản. Sau đó bọn địch phản công, anh em bị thương vong hầu hết, nhưng Tư Tăng vẫn còn sống.


Chúng tôi hỏi thêm và ông cho biết ở Tòa Đại sứ Mỹ, đội biệt động của Ba Đen dùng xe du lịch có hỏa lực B40 đột nhập thẳng vào cổng diệt đám gác cổng, dùng thuốc nổ phá hủy tường vào bên trong chiếm từng 1, tiến lên từng 2 từng 3, nhưng nhiệm vụ bắt sống đại sứ Bunker không thành, nhân viên an ninh của chúng đã lén đưa được viên đại sứ bằng chiếc xe bọc thép sang ẩn náu tại một địa điểm khác. Sau đó chúng phản kích, tất cả bị thiệt mạng, chỉ có Ba Đen bị thương ngất đi, bị bắt. Kết cục là bi đát, nhưng thắng lợi tinh thần là to lớn. Tổng thống Mỹ Johnson nói: “Việt cộng đã đi dạo mát trong sứ quán của ta rồi”.


Chúng tôi hỏi nhiều chuyện nữa, tình hình ở Dinh Độc Lập, Bộ Tư lịnh hải quân, ông cho biết cũng khó khăn như vậy. Ông ngồi trên nóc hầm biết tất cả, không biết thông tin bằng cách nào. Vậy là chỉ mới mấy ngày ta đã thắng lợi vẻ vang, cũng thiệt hại nặng nề. Đó cũng là tình hình của toàn cuộc tổng tấn công, có lẽ đã đến lúc ta nói lên sự thật đó.


Ông đãi chúng tôi chai rượu Tây và nồi cháo vịt. Vịt hãng bị bom pháo chết trắng đồng. Ông nhìn quanh chúng tôi rồi nói trong tất cả chúng tôi ông chỉ tín nhiệm hai người, ý nói về chuyện lăn lộn chiến trường, là tôi và họa sĩ Trang Phượng. Tôi có mấy năm đi theo Sư đoàn 9, họa sĩ cũng thường xuyên đi về các chiến trường. Ông nói sẽ giới thiệu tôi qua với cánh quân ông Tư Thân, Tư lịnh quân đội tỉnh Long An, giờ đang phụ trách cánh quân đánh vào mạn Tây Nam. Đó là một vị chỉ huy kiệt xuất - ông nói thêm - một Sa-pa-ép của Việt Nam, gốc nông dân, không được học hành nhưng có tài quân sự bẩm sinh. Còn tất cả những người khác, ông khuyên, nên trở lại phía sau. Văn nghệ sĩ là vốn quí, không việc gì phải chết một cách vô ích.


Ông thương anh em. Ông lo cho những người lính cũ của ông, trong lúc ông, người chỉ huy, lại đang ở đây, bom đạn ngày đêm dội trên đầu.


Ngay trong đêm hôm đó, sau khi ăn xong nồi cháo vịt, tôi sang cánh quân của ông Tư Thân. Tôi ngạc nhiên thấy ông là con người trắng trẻo phốp pháp, ra dáng tư sản. Nhưng ông là nông dân nghèo hẳn hoi, lội nước giỏi, không ai bằng. Ông kể ông chỉ biết đọc, biết viết, nguyên cuộc kháng chiến chống Pháp chỉ biết làm toán cộng trừ, sang kháng chiến chống Mỹ học thêm toán nhân chia.


Một người cán bộ tham mưu của tỉnh kể tôi nghe một chuyện về tài năng quân sự của ông. Trong một trận đánh công kiên, nhỏ thôi, tập kích một cứ điểm cấp huyện, ông không dự trực tiếp. Nhưng nổ súng mãi không dứt điểm được. Đến giữa đêm, người ta vời đến ông. Ông bảo phải đưa ông đến tận trận địa. Phải mất hai mươi phút. Mất hai mươi phút nữa, ông cho bố trí lại tất cả, thay đổi chỗ đặt đại liên, súng cối, xung kích một, xung kích hai phải ở chỗ này, chỗ kia. Xong rồi, ông cho trận đánh tiếp tục, chỉ nửa tiếng là xong. Sau đó, người ta hỏi ông sao làm được như vậy? Ông nói ông không thể nói, ông chỉ cảm thấy thôi. Ông ở cả đời trên đất này, thằng địch cũng ở đây, ông hiểu chúng, bằng trực giác. Chỉ có thể hiểu địch mới có thể đánh địch.


Tôi nói với ông, ông Trần Bạch Đằng giới thiệu tôi sang đây. Ông nói sẽ đưa tôi xuống tiểu đoàn 1 đang đánh vào mạn cầu Chữ Y, cầu Ông Thìn. Ông không hiểu sao tôi đến đây, làm công chuyện gì? Tôi không thể trả lời. Bản thân tôi cũng không biết, không hiểu mình xuống đây có viết được gì không. Tôi tham dự chiến dịch này như bị cuốn theo một dòng thác, chỉ có đi tới. Nhưng sau khi gặp ông Trần Bạch Đằng nghe ông nói đôi điều về chiến dịch, tôi hiểu đang dự một trận đánh có tính chất quyết định, long trời lở đất, và đó là điều tôi mong muốn.


Đêm hôm đó tôi ngủ chung với Ban chỉ huy của ông Tư Thân ở gian nhà rất lớn, cột gỗ cả mấy gang tay, mái lủng lỗ chỗ đạn pháo. Ông gần như không ngủ, thỉnh thoảng thức giấc tôi thấy ông đi tới lui. Ông nổi lửa hâm lại nồi cháo vịt, hỏi tôi có ăn không? Chỗ nào cũng cháo vịt. Nhìn ông, tôi hình dung đến nhân vật Cu-tu-dốp trong tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của Lép Tônxtôi, vị tướng thức đợi tin từ các mặt trận về.


Sáng hôm sau trực thăng đổ quân, xả súng bắn. Chúng tôi chạy ra đồng bưng lặn xuống cỏ nhưng không che giấu được gì, cố bám lấy những ven lá dừa nước. Suốt chiến dịch chúng tôi luôn chịu cảnh như vậy, trực thăng là thứ đáng sợ nhứt. Bộ binh địch từ ngoài đồng trống bắn vô, các đơn vị vũ trang của ta bắn trả, cao xạ và súng các cỡ vây lấy đám trực thăng nhưng chúng đông như ruồi, nhiều chiếc bốc cháy chúng vẫn xắn xả bay tới quần đảo, nổ máy ầm ầm, quạt cánh làm cỏ ngã rạp xuống. Mỗi lần trực sà tới tôi lại chúi xuống cỏ, đến lúc tôi lạc mất tổ bảo vệ của Ban chỉ huy, thế là tôi bám theo bất cứ người nào cầm súng, nói tôi ở chỗ ông Tư Thân, mọi người đều biết ông cho tôi đi theo.


Một lần, đang lội dưới một đám lá, một người chỉ tay nói với tôi: “Ông Võ Văn Kiệt kìa!”. Tôi nhìn theo, thấy một người mảnh khảnh, đúng ra là rất ốm, bận quần cụt, đang lội trong một đám lá phía trước. Đó là tại Hưng Long – Cần Giuộc. Trong trận chiến đó, người trên người dưới đều chịu cảnh nguy hiểm ác liệt như nhau.


Một chuyện tôi nhớ mãi. Một tổ ba người cầm súng đang chạy bỗng dừng lại, trụ sau một mô đất chĩa súng lên một chiếc trực thăng đang sà tới. Có thể đoán các anh bàn nhau không thể cam tâm chạy hoài, dù chúng hùng mạnh, đang ở trên trời. Đôi bên nổ súng, chiếc trực thăng không trúng đạn, các anh cũng không sao. Mấy lần, chiếc trực thăng đảo lại, rồi tôi chạy đi, không biết sự thể như thế nào.


Tôi vẫn bám theo các đơn vị bộ đội. Một lần, tôi hỏi các anh đơn vị nào, các anh nói ở tiểu đoàn 1. Tôi nói may quá, tôi ở chỗ ông Tư Thân, ông cũng đang định đưa tôi xuống đó, tôi sẽ theo các anh luôn. Không biết trời trưa chiều như thế nào, đầu óc điếc đặc, không thấy đói, không thấy các anh bộ đội ăn uống gì. Tất cả dành hết cho việc quần đảo với đám trực thăng, đám bộ binh địch từ hướng này, hướng kia bắn tới. Bỗng dưng, tiếng súng ngưng bặt, đám trực thăng cũng biến mất. Trời vừa tắt nắng. Chúng tôi vào một nhà nhờ bếp nấu cơm ăn, ra ngoài rạch tắm táp chút đỉnh. Tôi chỉ có bộ đồ trong mình, các anh cho tôi thêm bộ nữa, người cái quần, người cái áo. Chủ nhà ngủ trong chiếc hầm núp rất lớn, kêu chúng tôi ngủ chung quanh, phòng pháo bắn kịp chun núp. Tôi nói lại ý muốn về với tiểu đoàn 1, các anh nói mai sẽ đưa tôi đi gặp Ban chỉ huy. Tôi ngủ chập chờn, đầu óc vẫn còn căng thẳng, thấy hoang mang lạc lõng giữa những người đang chiến đấu.


(còn tiếp)


Nguồn: Ở R - Chuyện kể sau năm mươi năm. Hồi ký của Lê Văn Thảo. Bản thảo tác giả gửi nhà văn Triệu Xuân tháng 3-2016.


 www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »