tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
11.05.2016
Kim Cương
Hồi ký Kỳ nữ Kim Cương (2)



Kỳ 3: Ba tôi - Người hậu tổ


Ba tôi là ông Nguyễn Ngọc Cương, trong giới sân khấu thường gọi bằng cái tên thân thương ông bầu Cương hay là anh Tư Cương.


Từ trái qua: NSND Bảy Nam (vai Lý Nhu), Kim Cương (vai Điêu Thuyền) và Bích Thuận (vai Lữ Bố) trong vở Phụng Nghi Đình (1956) - Ảnh tư liệu


Theo chú Năm Châu, chú Ba Dân, má Phùng Há thì ba tôi là người có công đóng góp nhiều cho sân khấu cải lương trong những ngày phôi thai.


Ba tôi là người đầu tiên có công đem văn hóa châu Âu áp dụng cho sân khấu cải lương và biết bao công trình khác nữa mà ba đã hi sinh đóng góp cho sân khấu. Nên lúc đó trong nghề thường gọi ba tôi là hậu tổ.


Bệ đỡ của nhiều sao sáng


Bà nội tôi là bà Lưu Thị Ngoạn, một “siêu sao” của ngành hát bội Sài Gòn, vừa là “bà bầu” của mấy đoàn hát bội như Phước Sương, Phước Tường, Phước Thắng. Ngoài ra bà còn là người cất rạp hát Palikao nổi tiếng (nay còn di tích ở chợ Bình Tây). Không chỉ giỏi văn nghệ, bà nội còn là một phụ nữ vừa đẹp vừa tiên tiến.


Tôi nghe kể lại, khi cả nước Việt Nam chỉ có 99 người đàn ông được cấp bằng lái xe thì bằng lái xe của bà nội tôi là bằng thứ 100. Bà giao thiệp rất rộng, từ những quan lại trong triều đến những thương nhân, các nhà tư bản đến cả toàn quyền Đông Dương hồi ấy là ông Georges Catroux, rồi ông kế vị là Jean Decoux đều hết lòng quý trọng bà. Gia đình kể lại, ngày khai trương rạp Palikao, đích thân ông toàn quyền Decoux cắt băng khánh thành.


Ba tôi được sinh ra trong một hoàn cảnh đặc biệt như thế. Ba thừa hưởng tất cả tinh hoa của một tâm hồn nghệ sĩ cùng những thành tựu giáo dục hiện đại của phương Tây lúc bấy giờ. Bà nội cho ba sang Pháp học ngành y, hi vọng ba sau này sẽ thành một vị “docteur” danh giá.


Nhưng những buổi học khô khan của y học không làm ba thấy hứng thú bằng những giờ được “bay bổng” trong các tác phẩm văn học nghệ thuật Tây phương. Thế là ba quyết định bỏ ngành y sang học ngành sân khấu tại Paris.


Lúc ấy phong trào đờn ca tài tử vừa nở rộ, các đoàn hát như Trần Đắc, Năm Tú, Nam Đồng Bang, Tái Đồng Bang... liên tục ra đời. Tất cả đều lấy tích tuồng từ những truyện Tàu như Phụng Nghi Đình, Xử án Bàng Quý Phi, Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê hay từ những tác phẩm văn học nước nhà như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều... với những y trang áo dài khăn đống như đời thường. Cách hát theo lối ra bộ, quy ước từng động tác cho từng loại nhân cách cố định. Cả cách hát lẫn cách diễn xuất đều khá nặng nề và khuôn khổ.


Khi về nước, ba đem một luồng gió mới cho sân khấu nước nhà khi mang về một loạt tác phẩm văn học của các tác giả kinh điển như Victor Hugo, Molière, Shakespeare... Ba tôi và chú Năm Châu chuyển thể thành những vở cải lương với nội dung cách tân, trang phục phong phú theo đúng phong cách Tây phương.


Cách diễn cũng không còn đóng khung trong mấy loại hình tính cách kiểu trung - nịnh - gian - hiểm mà lối hát ra bộ quy định. Mỗi nhân vật được tự do diễn đúng tính cách của vai tuồng. Từng câu ca cũng tùy theo tính cách, tâm trạng, tình huống nhân vật mà biến tấu.


Người diễn truyền cảm qua giọng hát. Tính ước lệ trong biểu diễn cũng giảm xuống. Vai diễn trở nên gần với công chúng.


Đờn ca tài tử vốn phát triển trong giai đoạn này, nhưng được sự chăm chút cách tân từ những bậc tiền bối như ba đã tạo ra loại hình nghệ thuật mới là cải lương đa âm đa sắc, đa phong cách và đi vào đời sống dễ dàng.


Cải lương dần dần đi vào máu thịt của công chúng, trở thành một món ăn vừa sảng khoái vừa nhân hậu trong đời sống tinh thần của xã hội miền Nam đầu thế kỷ 20. Những ngôi sao cải lương được săn đón ca ngợi. Ánh hào quang của sân khấu có sức thu hút vô cùng mạnh mẽ.


Từ chỗ đó, lượng người theo đoàn hát cũng tăng và có nhiều nghệ sĩ tên tuổi định hình và tồn tại với thời gian bằng một dấu ấn riêng biệt.


Chính vì là người sáng lập một trào lưu mới nên Đoàn cải lương Đại Phước Cương của ba tôi dễ dàng là đoàn hát hàng đầu. Ba tôi vì muốn xây dựng một đội ngũ nghệ sĩ chuyên nghiệp từ ca đến diễn nên đã dày công đào tạo để đưa lên sân khấu rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi lúc bấy giờ như cô Thanh Tùng, cô Ngọc Sương, cô Kim Thoa, cô Bảy Ngọc, cô Năm Cần Thơ... và các chú Năm Nghĩa, Năm Phồi, chú Tám Danh, Ba Du, Từ Anh.


Trong số đó có cả cô Ái Liên - thân mẫu của nghệ sĩ Ái Xuân, Ái Vân - lúc đầu là nghệ sĩ đàn mandolin với những bản nhạc Pháp lời Việt. Ba tôi tập từng bước để bà đứng được trên sân khấu và trở thành nghệ sĩ vang danh một thời.


Ly kỳ tình ái


Ba là người dám yêu và dám sống chết với tình yêu của mình. Má kể mối tình đầu của ba là một cô nữ sinh trẻ đẹp con một gia đình danh giá ở Sóc Trăng. Nhưng trong thời gian ba đi học ở Sài Gòn, cô ấy lại bị ép gả cho ông Chủ Chợ - một người Pháp lai rất có thế lực và tiền bạc.


Hay tin, ba tôi tức tốc bỏ học chạy về Sóc Trăng đúng ngày đám cưới diễn ra. Họ hàng hai bên đang tưng bừng làm lễ rước dâu nhưng tới khi ra mắt hai họ thì cô dâu biến mất.


Thì ra ba tôi đã trèo cửa sổ tầng 2 vào buồng tân hôn “rước” cô dâu đi trước rồi. Hậu quả của cuộc “rước dâu” đặc biệt đó, bà nội tôi phải bôn ba nhờ ông toàn quyền Decoux can thiệp, điều đình suốt mấy năm trời ông Chủ Chợ mới chịu bỏ qua cho.


Và thêm một chuyện tình cảm nữa của ba tôi đã làm chấn động cả xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Lúc ấy ba tôi đang yêu cô Năm Nhỏ - một ngôi sao lớn của sân khấu hát bội. Đạo diễn Đinh Bằng Phi - người chuyên nghiên cứu về hát bội - đã viết:


“Cô xuất sắc trong các vai kép đủ loại, lão, tướng, hề, mỗi vai đều biểu diễn rất tài tình, người trông điệu nghệ, ai ai cũng phải cúi đầu khâm phục...”.


Hai vai tuồng bất hủ mà cô đảm nhiệm tạo thành kiệt tác mà từ thuở đó đến mai sau, khó có ai sánh được là vai Trương Phi trong vở Triệt Giang Thủ Cổ Thành và Cao Lan Anh trong Ngũ Biến Báo Phu Cừu.


Ở vai Trương Phi, khán giả không ngờ đó là do một người phụ nữ diễn. Cô đổi ra giọng đàn ông, từ tiếng nói đến gầm thét vang to sang sảng, bộ múa gọn gàng chững chạc thể hiện đúng mức tính cách của một vị tướng uy nghi và nóng nảy.


Còn ở vai Đào Lan Anh, cô phải năm lần cải trang, một mình diễn năm nhân vật khác nhau, mỗi người một tính cách như gã ăn xin phong cùi, cô gái điên qua ải, ông già quá tuổi, thầy tu say rượu và cuối cùng là tên sơn đông mãi võ. Người ta còn nhắc nhớ cô là người phụ nữ đầu tiên múa lân trên sân khấu hát bội.


Lúc đó ba tôi là một công tử con bà bầu gánh lại đẹp trai, phong độ nên tình yêu đã nảy nở giữa hai người. Nhưng oái oăm thay, bác Hai tôi - anh ruột của ba - cũng say mê cô Năm. Và để chia rẽ hai người, bác Hai mới bàn với bà nội là gửi ba sang Pháp học để lo tương lai cho ba.


Không dám cãi lời mẹ, ba tôi đành chia tay người yêu và hẹn sẽ sớm quay về. Nhưng sáu tháng sau, ba tôi hay tin bác Hai đã cưới cô Năm Nhỏ bằng một đám cưới linh đình.


Mấy năm sau ba tôi về nước. Cô Năm và bác Hai đang chuẩn bị chờ đón đứa con đầu lòng. Nhưng một chuyện không may xảy ra, trong một tai nạn, bác Hai bị thương nặng. Biết mình không qua khỏi, bên giường bệnh, bác Hai cầm tay ba tôi khóc và xin lỗi, đồng thời gửi gắm vợ con lại nhờ ba săn sóc. Trước tình cảnh thương tâm, để yên lòng người ra đi nên ba tôi hứa chu toàn lời trăng trối đó.


Hai năm sau mãn tang bác Hai, ba tôi chính thức làm đám cưới với chị dâu mình và nuôi con của anh như con ruột. Sau này anh cũng trở thành một nghệ sĩ sân khấu với nghệ danh Ngọc Trai.


Giữa thời phong kiến khắt khe, hành động cưới chị dâu của ba tôi có thể bị coi là loạn luân, đáng lên án. Nhưng nhờ hấp thu văn hóa phương Tây, coi tình cảm con người là trên hết và là một nghệ sĩ có tâm hồn phóng khoáng, cởi mở nên những rào cản luân lý đó không đủ sức ngăn cản ba tôi.


Sau tình chị là duyên em


Trong suốt thời gian đào tạo cho sân khấu những ngôi sao sáng, ba tôi cũng gặp nhiều mối tình sôi nổi nhưng kết cục vẫn không chống lại được quy luật lợi danh của nghiệp cầm ca.


Ba tạo ra rồi bị mất đi, rồi lại tạo ra. Mỗi người ba đào tạo thành danh đều lần lượt rời bỏ ba để đi theo danh vọng cao sang hơn.


Ngay cả đối với má tôi cũng là một mối tình đặc biệt. Lúc đó má Năm Phỉ là vợ của ba - một đệ nhất đào thương của sân khấu miền Nam. Năm 1935, ba đưa má Năm sang đấu xảo ở Paris và giành được giải nhất.


Má Năm tài hoa lộng lẫy và tánh tình cũng cởi mở không thua ba. Khi trở về, phần đã có vinh quang trong tay, phần cũng chán ngán cuộc sống bôn ba cùng đoàn hát, nên má nghĩ cách để dứt áo ra đi. Nhưng sợ ba buồn khổ và để lòng mình ra đi cũng nhẹ nhàng hơn, má Năm gầy duyên cho ba với má tôi.


May mắn là má rất yêu thương ba và ba cũng dễ dàng đón nhận tình yêu mới khi tình yêu cũ đã không còn có thể nắm níu. Lần này, với quyết tâm tìm một người mẹ cho con và một người vợ cho mình, chứ không phải một ngôi sao cho sân khấu nữa, nên ba khá an tâm với cuộc sống hiện tại.


Tình yêu “thay thế” đó đem lại hạnh phúc cho hai cuộc đời bất hạnh trong hôn nhân. Tiếc là cuộc vui ngắn ngủi vì ba qua đời sớm. Nhưng chị em tôi được sinh ra giữa tình yêu thương ấm áp của ba má.


Bao nhiêu vết thương đã trải qua với má, bao nhiêu thất bại đã tràn qua hôn nhân của ba đều không nghĩa lý gì với hạnh phúc của ba má, trong đó có chúng tôi.


Tôi và em tôi luôn tự hào mình được chào đời trong hạnh phúc đó dù nó ngắn ngủi muộn màng.


Với dì Năm Phỉ, chị gái của má, tôi gọi bằng má Năm, không chỉ vì lệ thường của các gia đình Nam bộ mà còn bởi má Năm là người đã cứu vớt, cưu mang mấy mẹ con tôi khi lâm vào cảnh ngặt nghèo, khốn khó trong hành trình chạy loạn những năm 1950.


Cùng với má Bảy Nam, má Năm Phỉ là người sắp đặt cuộc đời tôi bằng cách đưa tôi vào học ở trường dòng của các sơ, với mong muốn tôi phải là đứa con gái đằm thắm, nết na, theo nề nếp, khiêm cung của một gia đình gia giáo, thay vì phiêu bạt giang hồ, sống phóng khoáng, tự do của cuộc đời nghệ sĩ.


Nhưng cũng thật trớ trêu thay, cũng chính hai má lại đưa đẩy tôi đến với sân khấu và ghi đậm những dấu ấn mạnh mẽ trên con đường nghệ thuật của tôi sau này.


Kỳ 4: Vào nghiệp cầm ca


Mọi chuyện lại thay đổi đột ngột vào mùa hè năm tôi 19 tuổi. Năm đó tôi thi rớt tú tài 2 - một kỳ thi trọng đại của đời học trò.


Điều đáng ngại với những học trò thi rớt là không hoàn toàn chắc năm sau mình có thể đậu. Tôi hụt hẫng và hoang mang.


Trong tâm trạng đó, tôi gói ghém đồ đạc đi thăm má mà không cần ai cho phép. Lúc đó má đang hát ở Châu Đốc...


Đêm định mệnh với Nụ cười sơn cước


Về thăm má là tôi được trở về đoàn hát, trở lại không khí sôi động một thời tôi từng quằn quại nhớ thương. Má tôi vui lắm. Má hát hay hơn, diễn nồng nhiệt hơn. Giống như cái thời má mang thai tôi. Nhưng cảm giác tôi lại khác xa.


Quen với cuộc sống chỉn chu, nề nếp ở nhà dòng, tôi đôi khi thấy khó chịu với những bát nháo ở đoàn hát. Những nhốn nháo tôi từng nhớ thương giờ trở nên quá lạ lùng.


Sau một tuần đoàn diễn ở Châu Đốc thì bỗng một hôm tôi thấy không khí có vẻ căng thẳng, nhốn nháo hơn mọi ngày. Tôi không hiểu lúc ấy tình hình chiến sự như thế nào, nhưng giữa suất hát bỗng nghe xa xa có tiếng súng nổ.


Ban đầu còn rời rạc nhưng càng lúc càng dữ dội. Một lát sau, đoàn hát được lịnh phải đóng cửa rạp lại để giữ khán giả khỏi ra ngoài, tránh những điều đáng tiếc xảy ra.


Để mọi người không hoảng loạn, đêm diễn vẫn cứ tiếp tục. Tiếng súng từ xa vẫn ầm ĩ nổ, mỗi lúc một gần hơn, các diễn viên trong đoàn cũng cố hát to hơn, hay hơn để khán giả không để ý đến tình hình đang diễn ra bên ngoài.


Cuối cùng vở hát vẫn phải đến hồi chấm dứt nhưng súng thì vẫn còn tiếp tục nổ rền ngoài xa. Khán giả không thể ngồi mãi trong rạp được. Sự hỗn loạn chắc chắn sẽ xảy ra và kéo theo những đáng tiếc không thể lường trước.


Má tôi suy nghĩ một lúc rồi quyết định cho diễn viên lần lượt ra sân khấu, người hát vọng cổ, người ca tân nhạc, người diễn tấu hài để kéo sự chú ý của khán giả chờ cho tiếng súng kết thúc.


Các cô chú trong đoàn lần lượt ra sân khấu cho tới khi không còn ai có thể hát được nữa. Trong khi đó tình hình vẫn chưa được ổn định. Má nhìn tôi lo lắng.


Rồi má hỏi: “Con biết hát bài nào không?”. “Dạ con biết hát bài Nụ cười sơn cước.” Má ngập ngừng vài giây rồi cuối cùng quyết định: “Kim Cương ra đi con!”.


Sau hơn 10 năm xa sân khấu với nỗi nhớ dai dẳng ám ảnh suốt thời đi học, tôi đã trở lại sân khấu trong cái nhốn nháo của chiến tranh như thế đó. Lúc đó tôi nào hiểu mình đang vô tình bước chân vào một con đường mà nhiều năm nay má và má Năm đã cố tình đẩy tôi ra.


Tôi chỉ biết khán giả cần được thu hút, tiếng hát cần được cất lên. Phải là những lời ca hấp dẫn lôi cuốn. Vậy là tôi hát say sưa.


Có lẽ mọi người bị thu hút vì tự nhiên giữa những nghệ sĩ chuyên nghiệp son phấn lượt là lại xuất hiện một con nhỏ mặc cái đầm xanh đồng phục trường dòng.


Hình ảnh rất mới mẻ nên tạo một không khí bất ngờ đầy thú vị. Mọi người muốn tôi hát nhiều hơn, ở lại sân khấu lâu hơn. Tiếng yêu cầu cứ vang lên làm tôi phải hát liên tục ba bài.


Kỷ niệm đó diễn ra trong rạp Lạc Thanh ở Châu Đốc. Châu Đốc - một thị trấn biên giới nhỏ nhắn - đã gắn với hành trình tôi như vậy. Nơi bắt đầu nghiệp cầm ca một cách bất đắc dĩ, nơi đưa tôi về cái nôi mà cũng là về với bản chất của chính mình. Tôi sau này được ngang dọc thế nào, được thỏa thuê tung hoành ý tưởng ra sao đều nhờ cái đêm định mệnh đó.


Nếu không có đêm hát đó, có lẽ má sẽ không tạo điều kiện cho tôi trở lại với sân khấu và cũng không nhìn thấy được cái duyên sân khấu của tôi để rồi dắt tôi theo. Nếu không làm một nghệ sĩ, không băng mình qua những kịch bản, lăn lộn với những vai diễn, cái tâm tình nhạy cảm và nhiều mâu thuẫn của tôi chắc khó bề có chỗ dung chứa. Châu Đốc khơi trong tôi mối duyên truyền kiếp với sân khấu.


Ba mươi năm sau, chính Châu Đốc là nơi kết thúc chuyện tình cuối cùng của tôi, chuyện tình yêu tươi đẹp làm tôi hạnh phúc nhất, hi vọng nhất và đau đớn nhất.


Trừ Phan Thiết, nơi ba tôi trút hơi thở cuối cùng, chưa có nơi nào để lại dấu ấn với tôi nhiều bằng Châu Đốc. Cái xứ sở đó với tôi mang một duyên phận lạ kỳ. Và tôi đã nhập cuộc một cách dễ dàng như là sinh ra đã thế.


Bước qua lời nguyền


Tôi tiếp tục ở lại đoàn hát với má cho đến hết mùa hè như bao nhiêu kỳ nghỉ hè của những đứa học trò khác. Đúng lúc đó, đoàn của má cũng tới chu kỳ trở về thành phố biểu diễn.


Theo lệ của những đoàn hát, khi có vở hay thường diễn ở thành phố trước. Diễn hết các rạp ở Sài Gòn rồi sẽ đem vở đi lưu diễn khắp các tỉnh. Khi diễn xong ở các tỉnh, đoàn hát phải về thành phố dựng vở mới. Khán giả Sài Gòn rất sành điệu và khó tính.


Mỗi lần về phải có vở tuồng độc đáo, phải có khám phá đặc sắc mới mẻ nào đó ra mắt thì đoàn hát mới giữ được tên tuổi của mình. Tất cả các đoàn hát đều phải như thế và cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt.


Má tôi đang muốn tìm một nhân tố mới cho những vai tuồng lạ. Đào hát thì nhiều nhưng tìm một người nổi bật để tạo đột phá thì không bao giờ dễ kiếm. Lần này, nhìn thấy tôi trên sân khấu với một sức sống tươi tắn, hồn nhiên, được khán giả chào đón nồng nhiệt, má dường như quên bẵng đi những phũ phàng mà nghề hát đem đến, không còn quan tâm những hoạch định tương lai như một lời nguyền tôi phải thoát nghề hát.


Má nghĩ nên khai thác gì đó ở cái nét hồn nhiên non trẻ của tôi. Vậy là má bàn với soạn giả Duy Lân viết riêng cho tôi một vở. Không lâu sau, soạn giả Duy Lân cho ra đời vở Giai nhân và ác quỷ, được đo ni đóng giày riêng cho tôi.


Tuồng hát phù hợp với lứa tuổi và tâm hồn của một cô gái mới lớn. Cô thương cha và muốn cứu cha. Nhân vật cô gái nhỏ bé nhưng tấm lòng lại thật lớn lao. Cô đã hi sinh tất cả mơ ước hạnh phúc tương lai để cứu cha, kế đó là để cứu một người có hình hài ác quỷ.


Tôi thích những người tốt được phước báo, thích những người lương thiện được cuộc sống an lành. Chính vì vậy tôi thích câu chuyện trong Giai nhân và ác quỷ.


Tôi đã hát bằng tâm trạng của một cô gái ngây thơ trong trắng, giàu yêu thương. Sự đồng cảm với tâm hồn nhân vật cô gái cùng năng khiếu con nhà nòi, cộng với tính ham học ham diễn đã chắp cánh cho tôi bay bổng trong vai tuồng của mình.


Tôi diễn trong trạng thái thăng hoa hồn nhiên mà không hề nghĩ vở diễn sẽ đưa tôi lên vị trí ngôi sao.


Ngay lập tức vai diễn của tôi nổi đình nổi đám trong giới cải lương. Tôi mang đến cho cải lương một không khí mới vô cùng sinh động. Không phải bằng những vai trẻ con nhí nhảnh thời Na Tra lóc thịt mà lúc này tôi chính thức trở thành đào thương son phấn lượt là, chính thức bước vào nghiệp cầm ca bằng hình ảnh một giai nhân.


Báo chí hoan nghênh tôi hết lời, khen ngợi tôi như một hiện tượng. Họ nhìn thấy tôi có một tương lai sáng rực trong sự nghiệp cải lương, có mấy ai được như tôi thành danh ở tuổi 19 với một bản lĩnh diễn xuất vững vàng.


Trên tờ báo Tiếng Dội, ký giả Nguyễn Ang Ca ưu ái đặt cho tôi biệt danh “kỳ nữ”, ý muốn ám chỉ là một thiếu nữ có tài năng kỳ lạ. Cái tên tôi dường như không thể thiếu trong đoàn hát của má. Vậy là tôi ở lại với đoàn hát, từ giã các xơ thân yêu, bỏ lại ngày khai giảng tôi hằng dự định suốt những ngày hè.


Đi một quãng đời thật xa, ngồi nhìn lại tôi chợt thấy cuộc đời tôi sao luôn có những khúc ngoặt định mệnh quá ngỡ ngàng. Trừ thoại kịch, môn nghệ thuật tôi phải vượt đủ thứ để theo thì mọi thứ đến với tôi ngoài tầm kiểm soát.


Lúc nhỏ đang tung tăng với đoàn hát tưởng đâu mãi mãi mình lang thang như gió như mây, thì đùng một cái bị đưa vào nhà dòng, vào với những khuôn khổ nghiêm ngặt tưởng như ngột ngạt, sắp chết cứng tới nơi.


Rồi khi đã quen môi trường nhà dòng với quá nhiều giáo lý đạo nghĩa cuộc đời, quá nhiều những chân lý sâu xa của nhân loại, quen với tiếng chuông ngân mỗi sáng, với một cuộc sống êm đềm, tôi lại nhảy phóc một cái trở về sân khấu đầy sóng gió với những cuộc cạnh tranh.


Kỳ 5: Làm điều không tưởng


Trong tận cùng mong muốn, tôi thèm một cái gì đó của riêng tôi mà cả má Năm và má tôi đều không thể dạy được. Chẳng ai thấy, chỉ có tôi biết tôi phải làm một cái gì khác.


Nghệ sĩ Kim Cương trong Lá sầu riêng - vở kịch được rất nhiều khán giả nằm lòng, yêu thích từ thuở ban đầu của kịch nói miền Nam - Ảnh tư liệu


Lúc đó, phong trào ca vọng cổ gần như là phong trào chủ đạo của các đoàn cải lương. Những giọng ca bất hủ như Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Hương (con gái nghệ sĩ Năm Châu), Năm Nghĩa, Thanh Tao, Kim Chưởng, Thúy Nga... đang được khán giả rất say mê.


“Giờ đây nhớ lại giai đoạn thành lập đoàn kịch, tôi mới thấy tuổi 20 khi đó sao mà đầy lửa đam mê. Nói làm là làm, thấy khó chồng chất vẫn làm, khó tới đâu gỡ tới đó, càng khó càng bước tới không chùn. Sức trẻ cộng đam mê đúng là tường thành nào cũng trèo qua được


“Ra sân khấu mà không ca không hát gì sao?”


Tôi còn nhớ lúc đó chú Năm Châu muốn tìm một lối mới cho sân khấu nên đề ra tiêu chí: sân khấu phải THẬT và ĐẸP. Ban đầu chú dựng những vở diễn cho Đoàn Năm Châu rất ít bài ca, chỉ chú trọng phần diễn xuất. Thế là đoàn của chú gặp phải sự phản đối của không ít khán giả thời thượng lúc đó.


Sau cùng chú phải viết thêm thật nhiều bài ca cho những vở diễn và để một tấm bảng lớn trước cửa rạp: “Tuồng hát đêm nay có 100 bài ca Tây - Tàu - ta”. Sự kiện này cũng là cột mốc đánh dấu một giai đoạn hưng thịnh của sân khấu cải lương lúc bấy giờ.


Cải lương đang cường thịnh đến độ từ già tới trẻ, từ Nam tới Bắc đều mê và thuộc lòng một vài câu vọng cổ, ca hoài không chán.


Tôi rất tâm đắc quan niệm “sân khấu thật và đẹp” của chú Năm Châu, và tôi còn chịu ảnh hưởng về lối diễn xuất chú trọng diễn nhiều hơn ca của má tôi và má Năm Phỉ. Thêm vào đó có lẽ một phần do tôi ca vọng cổ không hay lắm nên tôi bắt đầu băn khoăn về con đường nghệ thuật của mình.


Tôi muốn tìm một con đường mới, chẳng những cho riêng mình mà còn cho sân khấu. Con đường đó tôi có thể lột tả tận cùng tâm trạng nhân vật, được nói thay tiếng nói từ nơi sâu nhất nỗi lòng của những thân phận người, để vạch lối đi vào tim bằng một thứ ánh sáng chân thật, nhất là để đào xới cảm xúc phức tạp mà tôi từng nghĩ ra hoặc từng trải qua. Cái ước muốn mãnh liệt đó đeo riết theo tôi từng ngày.


Năm 1956, tôi quyết định từ giã sân khấu cải lương để chuyển qua thoại kịch (kịch nói) - một con đường mới mẻ, riêng biệt nhưng cũng đầy chông gai và thử thách.


Tôi thành lập đoàn kịch giữa thời hưng thịnh của cải lương là một điều mọi người cho là không tưởng vì hai chữ “kịch nói” còn quá xa lạ với khán giả lúc đó. Thậm chí có khán giả lớn tuổi của tôi đã hỏi: “Nghe nói mày bỏ cải lương để qua kịch nói hả? Mà kịch nói là cái gì, mày ca bài gì?”.


Tôi cắt nghĩa cho bà hiểu là kịch nói chỉ diễn bằng lời mà không có bài ca. Bà sửng sốt hỏi lại: “Sao? Mày định ra sân khấu nói chuyện không vậy hả, rồi không ca không hát gì hết hả? Rồi tao coi cái gì?”...


Trước những câu hỏi chân chất, dễ thương như vậy, tôi chỉ biết cười và hiểu rằng để phát quang một con đường đi đến nghệ thuật kịch nói không phải là dễ.


Quả thật, tôi đang đứng trước không ít khó khăn, thử thách. Nếu mê kịch ít ít một chút có lẽ tôi dễ dàng bỏ cuộc. May là tôi quá mê, cộng cái tính nữ tướng nói đi là đi, nói đánh là đánh, tôi dũng mãnh bước tiếp, mạnh dạn bươn qua những cái nhìn ái ngại cười cợt, đạp bằng chông gai để mở đường.


Đoàn kịch Kim Cương ra đời


Tôi bị đặt trước ba thử thách mà chỉ có cách vượt qua mới mong tạo dựng được con đường riêng của mình.


Thử thách trước hết là kịch bản. Các soạn giả tên tuổi lúc bấy giờ như Hà Triều, Hoa Phượng, Thiếu Linh, Thu An, Nguyễn Phương... đều đã có một chỗ đứng vững vàng trên sân khấu cải lương, với số nhuận bút khá lớn.


Không ai có thì giờ để viết kịch nói chỉ để diễn một tuần rồi bỏ mà tiền thù lao chẳng được bao nhiêu. Hơn nữa cũng ít người có được sự đồng cảm nghệ thuật với tôi để viết ra những vở dài có chiều sâu cho sân khấu kịch nói.


Trong tình cảnh đó tôi đành phải “tự biên tự diễn”, tự mình viết kịch bản cho chính mình. Nhưng vì không tự tin nên tôi không dám để tên Kim Cương mà núp bóng dưới bút danh Hoàng Dũng.


Cái khó khăn thứ hai là diễn viên. Khó tìm được những người đồng cảm say mê kịch nói như tôi. Đành phải tụ tập các anh chị có cùng quan điểm rồi vừa tập vừa sửa cho nhau.


Chúng tôi như những phác thảo đầu tiên trên sân khấu kịch nói miền Nam rồi tu dưỡng, rèn luyện để từng ngày hoàn chỉnh hơn. Thế là những diễn viên kịch nói đầu tiên ra đời như: Vân Hùng, Xuân Phát, Phi Bằng, Thúy Hồng, Lan Phương, Thúy Hoa, Thúy Phượng, Tuyết Vân, Kim Vui...


Dàn diễn viên mới, một loại hình nghệ thuật mới và kịch bản chưa qua trường lớp. Bao nhiêu cái khó đó chồng chất lên con đường thoại kịch của tôi. Tôi lúc đó lại còn quá trẻ.


Nhưng cái thử thách quan trọng nhất của tôi lúc đó là TIỀN. Có thể nói đó là cái khó khăn khó vượt qua nhất lúc này.


Thành lập một đoàn kịch bao nhiêu thứ đều cần đến tiền. Kịch nói lại hoàn toàn mới lạ. Trong con mắt của người đương thời, kịch nói thật thiếu hấp dẫn.


Nếu nói về sân khấu, nó không có chất trữ tình bay bổng của cải lương, không có những lời ca ngọt ngào, mùi mẫn của những nghệ sĩ đang được yêu thích.


Nếu nói về tính tả thực, nó lại thiếu cái sống động của điện ảnh. Rất nhiều người hoài nghi tính khả thi của thoại kịch ở miền Nam Việt Nam. Giới chủ rạp đều không ủng hộ thể loại này.


Tôi tìm hoài không có rạp hát nào chịu cho đoàn kịch biểu diễn. Ông chủ rạp Thanh Bình (kế chợ Thái Bình ngày nay) là chỗ thân tình lâu năm của má tôi, thấy hoàn cảnh tôi như vậy rốt cuộc cũng đồng ý cho thuê rạp với một điều kiện: trả trước tiền rạp một tuần, vì sợ không có khán giả tôi sẽ bỏ nửa chừng.


Trong lúc tôi đã sạch túi lo cho đoàn kịch thì đào đâu ra tiền thuê rạp trước một tuần. Chưa diễn được suất nào mà thấy nợ đã chồng chất.


Sau cùng tôi đành gom hết tư trang, tiền bạc dành dụm của tôi và má đem bán để đóng đủ bảy ngày tiền rạp. Bắt đầu từ đó Đoàn kịch nói Kim Cương ra đời.


Và Lá sầu riêng xuất hiện


Tuần lễ đầu tiên công diễn, tôi đã đặt hết bao nhiêu hi vọng và lo sợ, vì thành công hay thất bại của chương trình là quyết định cho con đường kịch nói của tôi sau này.


Chúng tôi ra mắt vở đầu tiên Tôi là mẹ. Nhưng vì chưa thật sự tự tin nên tôi tăng cường phần tân nhạc mở đầu với những tên tuổi ca sĩ đang được yêu thích bấy giờ như: ban hợp ca Thanh Long, Ngọc Cẩm - Hữu Thiết, ca sĩ Minh Trang, Minh Hiếu, Thúy Nga..., vũ đoàn Lưu Bình Lưu Hồng, các màn vũ của Thu Thủy, Kim Xuân, Kim Thu; phần âm nhạc do Khánh Băng, Lan Phương, Lê Duyên, Phùng Trọng đảm nhiệm.


Bước mở đầu đã thành công ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi. Khán giả đã hoàn toàn bị chúng tôi chinh phục, đã khóc, đã cười theo từng diễn xuất của diễn viên.


Đêm đó cả đoàn gần như không ngủ được vì quá hân hoan sung sướng. Thế là kịch nói đã có một hướng đi mặc dầu còn nhiều chông gai trước mặt.


Tiếp sau thành công đầu tiên, chúng tôi nhận được nhiều khích lệ từ khán giả và dư luận báo chí nên ngày càng tự tin hơn, diễn tốt hơn và cho ra đời những vở kịch ngày càng chỉn chu, có chiều sâu hơn.


Liên tiếp nhiều kịch bản của Hoàng Dũng như: Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo, Nhớ một chiều xuân, Sắc hoa màu nhớ, Trà hoa nữ, Áo người trinh nữ, Cánh hoa tàn, Nước mắt con tôi... trình diễn trên sân khấu Kim Cương trong sự háo hức, chờ mong của khán giả.


Mỗi một vở kịch đều có nội dung và sắc thái riêng biệt, nhưng phải nói Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo và Trà hoa nữ là những vở kịch được khán giả nhắc đến nhiều nhất. Danh hiệu ngôi sao cải lương của tôi dễ dàng bị lãng quên.


Người ta quên dần những hình ảnh dịu dàng trong sáng của A Liễu trong Giai nhân và ác quỷ, vẻ nũng nịu của Điêu Thuyền, vẻ thương cảm trong Xử án Bàng Quý Phi hay điệu bộ nhí nhảnh, ngây thơ của hoàng thái tử Ngọc Giao trong Phấn hậu cung... mà mỗi lần gặp tôi là họ lại gọi tên cô Diệu của Lá sầu riêng hay cô Bê bán hột vịt lộn của Dưới hai màu áo.


Đi đâu tôi cũng được nhận ra. Câu mà tôi nghe nhiều nhất khi khán giả gặp tôi là “Chị ác lắm, làm tụi tui khóc quá trời luôn với Lá sầu riêng”. Điều ngạc nhiên và hạnh phúc nhất với tôi là người ta gần như muốn quên tôi là một nghệ sĩ mà chỉ nhớ tôi là một người gần gũi.


Sau khi Lá sầu riêng ra đời, giới báo chí và dư luận đều sững sờ. Bất ngờ thứ nhất là do tôi bỏ hẳn một loại hình nghệ thuật tông nòi bốn đời lừng lẫy ngay giữa thời rực sáng, đang giữa lúc ăn khách rầm rộ.


Nghĩa là tôi bỏ một vị trí ngôi sao đi làm một người lao công khai mở một con đường lạ lẫm quá nhiều chông gai. Bất ngờ thứ hai là thoại kịch lại có thể thu hút được khán giả từ trí thức tới bình dân.


Quan niệm miền Nam không thể tồn tại thoại kịch bị phá vỡ. Giới phê bình đi tìm nguyên nhân và nhận xét tính độc đáo trong kịch bản, dàn dựng và diễn xuất của đoàn Kim Cương.


Thời kỳ huy hoàng của sân khấu kịch


Phải nhìn nhận một điều là sau năm 1975, miền Nam mới có một sân khấu kịch dài diễn thường trực hằng đêm.


Có thể nói thời kỳ sau giải phóng là thời kỳ huy hoàng của sân khấu kịch. Giai đoạn này, đêm nào chúng tôi cũng có suất diễn, những ngày lễ tết có khi chúng tôi phải diễn liên tiếp ba suất một ngày.


Lúc này chúng tôi đã đủ điều kiện và hoàn cảnh để xây dựng hoàn chỉnh một đoàn kịch nói chuyên nghiệp mang đậm dấu ấn kịch miền Nam.


Trong suốt 20 năm, đoàn Kim Cương đã tạo dựng được uy tín và cảm tình khán giả mọi giới, mọi nơi từ Nam chí Bắc. Đoàn kịch Kim Cương giờ đây đủ sức nuôi sống anh em trong đoàn, riêng tôi được thỏa chí tung hoành, chinh phục những thử thách trên con đường mà mình đã chọn.


Kỳ 6: Người tình duyên phận


​Gần 19 tuổi, tôi nghe phong thanh gia đình bàn tán đến chuyện trăm năm của tôi. Tôi được má cho biết gia đình hai bên là chỗ thân thiết từ lâu ở Mỹ Tho. Thậm chí khi má anh chuyển bụng, má tôi đã đi rước mụ để cho anh chào đời.


Gia đình anh là một gia đình gia thế, ba anh là một ông Đốc phủ sứ, má anh là một người phụ nữ “tứ đức tam tòng”, riêng cá nhân anh là một người lịch thiệp và thành đạt.


Tôi chưa hề biết yêu và cũng như bao người con gái khác lúc bấy giờ, cứ nghĩ rằng chuyện vợ chồng là do “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”.


Hơn nữa anh là người xứng đáng, một địa vị mà rất nhiều người con gái mơ ước. Nên tôi không có ý kiến gì...


Làm mệnh phụ hay làm đào hát?


Hơn một năm, qua sự sắp xếp của gia đình, chúng tôi cũng có nhiều dịp gặp gỡ riêng với nhau được vài lần.


Tôi cũng thấy vui vui khi được “sánh bước” bên anh trong những buổi lễ long trọng của ngành tư pháp. Anh là một ngôi sao sáng trong lãnh vực này - một ông chánh án trẻ tuổi đẹp trai, tương lai đầy hứa hẹn.


Còn tôi cũng là một ngôi sao đang được đặt nhiều kỳ vọng trong ngành sân khấu nước nhà. Vậy nên đi đến đâu chúng tôi cũng được tiếp đón bằng sự ngưỡng mộ của mọi người xung quanh.


Mỗi lần như vậy, tôi cũng có chút hãnh diện và thầm mơ ước cả hai sẽ giúp đỡ nhau, ở bên nhau trên con đường sự nghiệp của hai đứa đang trải rộng dài trước mắt.


Trong khi tôi được báo chí và đông đảo khán giả ái mộ thì anh lại là người ít đến xem tôi diễn. Có thể do anh bận nhưng cũng có thể anh muốn giữ sự uy nghi của một ông chánh án nên không... tiện đến rạp hát thường.


Tôi cũng vô tâm không thắc mắc về điều đó. Mãi cho tới một đêm, anh phải đưa má anh đi xem tôi diễn vở Phụng Nghi đình.


Qua ngày hôm sau, trong một bữa cơm gia đình anh, tôi được nhiều người khen tặng và chính anh cũng khen tôi diễn vai Điêu Thuyền rất đẹp, rất có duyên...


Tôi biết mình diễn rất... ăn sân khấu, nhưng lần đầu tiên được anh khen tôi cũng cảm thấy “mát lòng”. Nhưng chưa hết cảm giác lâng lâng man mác đó thì anh nói:


- Đám cưới xong, có lẽ anh sẽ “ít để” cho em tới rạp hát.


Tôi ngạc nhiên tột độ, vì đối với tôi, sân khấu là niềm tự hào cũng như là nguồn vui sống. Tôi đang nhìn đời bằng màu hồng của một “kỳ nữ” đang lên, tràn đầy sức xuân. Tôi thắc mắc hỏi:


- Sao vậy? Không tới rạp hát thì em diễn ở đâu?


Anh dứt khoát trả lời:


- Coi hát cũng không cho chứ đừng nói chi leo lên sân khấu mà diễn.


- Sao vậy? - tôi sửng sốt hỏi lại.


Bằng tất cả sự nghiêm túc và dứt khoát, anh nói:


- Em có thấy bà chánh án nào mỗi đêm đến rạp hát diễn để rồi hết ôm thằng cha này đến ngồi lên lưng thằng cha kia không?


Tôi tá hỏa, hồi hôm tôi đóng vai Điêu Thuyền, có cảnh tôi ngồi lên lưng “thằng cha” Đổng Trác, có lẽ vì vậy mà làm anh và gia đình “sốc”. Tôi không cãi lại nhưng từ câu nói đó, tôi bắt đầu suy nghĩ.


Tôi đang đứng trước ngã ba đường để quyết định cho cuộc sống của mình trong tương lai. Là một mệnh phụ phu nhân của anh hay tiếp tục là một cô đào hát?


Cuộc rút chạy của “đào thương”


Có lần, chúng tôi cùng ăn tối với nhau trong một nhà hàng. Trong khi chờ đợi, tôi lấy chiếc nhẫn đang đeo của mình bỏ vào cái dĩa và búng qua búng lại cho... đỡ buồn. Tôi không ngờ hành động đó lại khiến anh giận dữ. Anh nghiêm trang nói:


- Em làm gì kỳ vậy? Có phải người đàn ông vừa đi qua là “người quen cũ” của em không? Em tháo chiếc nhẫn ra để ngầm cho hắn biết rằng em đang đi với chồng sắp cưới, xin đừng chào hỏi phải không?


Thời gian này có một khán giả nữ ái mộ tôi trên mức “bình thường”. Đương nhiên, chị không thể nào “chấp nhận” việc tôi sắp lấy chồng, nên đã tìm mọi cách để phá cho tan.


Chị thường xuyên gửi những bức thư nặc danh, gieo rắc vào anh đủ thứ nghi ngờ về tôi.


Phần anh tuy không hoàn toàn tin những bức thư “quái gở” như thế, nhưng do những thành kiến của xã hội lúc bấy giờ, lâu dần anh cũng không tránh khỏi bị nó tác động.


Thế là giữa chúng tôi có một bức tường ngăn cách.


Thêm một lần nữa anh khiến tôi ngỡ ngàng. Không ngờ trí tưởng tượng của anh dồi dào đến vậy. Một hành vi vô thưởng vô phạt của tôi cũng khiến cho anh nổi giận.


Và một hôm, tình cờ tôi nghe được trận cãi vã khá quyết liệt giữa anh và ông em trai bác sĩ của mình về sự có mặt của tôi trong gia đình.


Thì ra, anh cũng phải trải qua nhiều giằng co, trăn trở để đến với tôi. Thế là sự phân vân của tôi giữa hai con đường đã có lời đáp. Tôi quyết định rút lui.


Tôi rút lui một cách cũng rất là... “nghệ sĩ”, vẫn vui vẻ, lịch sự, vẫn “thưa” vẫn “dạ” mỗi lúc gặp anh. Nhưng những dịp như thế thưa dần.


Anh cũng bắt đầu thấy được thái độ đó của tôi. Một hôm, anh gọi tôi vào phòng, đóng cửa lại, bắt tôi ngồi xuống ghế đàng hoàng.


Và với tất cả sự nghiêm túc của một ông chánh án, anh bắt đầu “thẩm vấn” tôi.


- Tại sao hôm giỗ bác Tư ở Mỹ Tho em không về?


- Tại sao đầy tháng của cháu bác Tám em không có mặt?


- Tại sao em không nghe điện thoại của anh?


- Tại sao em nói em không có nhà khi anh biết chắc em đang ở trên lầu?


- Tại sao em gửi trả chai dầu thơm anh vừa mới mua cho em?


Tôi không nhớ hết còn bao nhiêu cái “tại sao” nữa... Và bằng tất cả sự dịu dàng của một cô “đào thương”, tôi trả lời:


- Dạ thưa anh, dạ... tại... em hết thương rồi...


Anh điên tiết vỗ bàn hét lớn:


- Tại sao lại hết thương?


- Dạ, hết thương vì tại... tại... hết thương... chớ ai biết tại sao?


Lẽ dĩ nhiên anh không thể chấp nhận được câu trả lời vô lý đó, phần tôi cũng không muốn phân trần hay cắt nghĩa nhiều thêm bởi chắc chắn nếu tôi có giải thích cặn kẽ tới đâu anh cũng sẽ không hiểu được.


Sau ngày hôm ấy tôi chánh thức tránh mặt, mặc cho sự giận dữ của anh và ngỡ ngàng của hai bên gia đình.


Anh tìm tôi nhiều lần nhưng không được nên đã viết cho tôi rất nhiều thơ, thái độ của anh có phần nhẹ nhàng hơn, tình cảm hơn, trên tiêu đề của mỗi bức thơ anh đều kèm theo một câu Kiều, chẳng hạn như:


“Sen lìa ngó ý, còn vương tơ lòng”


“Chữ thương còn một chút này


Không cầm cho vững lại giày cho tan”...


Cuộc gặp sau nửa thế kỷ


Rồi 50 năm sau... Năm 2014, chúng tôi có dịp gặp lại nhau tại Pháp, cả hai đã không còn như xưa nữa.


Phần tôi, qua những trải nghiệm đớn đau của cuộc đời, lòng tôi giờ này đã thanh thản trước mọi chuyện, không còn nhớ đến những câu trách cứ hay những lần hờn dỗi của nhau mà chỉ nhớ lại những kỷ niệm đẹp, ngây thơ trong sáng của ngày xưa.


Phần anh, đã là ông già 90 tuổi, mắt đã mờ, bước đi không còn vững, nhìn tôi không còn rõ nữa, nhưng có thể do tâm anh chưa được bình lặng như tôi nên anh vẫn cứ thắc mắc không biết tại sao chuyện chúng tôi lại không thành.


Tại sao tôi lại từ chối anh, tôi đã không bằng lòng anh ở điểm nào, trong khi anh đã đối xử với tôi rất đúng mực? Trong khi nhiều thầy bói danh tiếng lúc đó đều bảo hai tuổi này hợp lắm, sẽ thương nhau tới chết, thế sao tôi lại bỏ anh?


Anh đổ thừa cho nhiều người ngày xưa đã vì ganh ghét hay đố kỵ mà tìm cách chia rẽ chúng tôi.


Tôi bình thản cười và nói với anh:


- Không ai chia rẽ mình hết, vì lúc đó anh là ngôi sao, em cũng là một ngôi sao, mà hai ngôi sao sáng như vậy thì khó có thể sống chung trên một bầu trời, thế thôi.


Anh nói:


- Sau 50 năm xa cách, nghe tên Kim Cương trong điện thoại, anh đã muốn xỉu, anh không tưởng tượng được còn có thể nghe lại tiếng nói của em.


Suốt thời gian qua anh vẫn dõi theo trên những bước đường em đi, anh buồn khi thấy em không hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng, nhưng vui mừng khi biết em đã thực hiện được những ước vọng của mình.


Tôi nói mình cũng rất vui khi biết anh đã thành công trên đường công danh sự nghiệp, anh đã trở thành một công chức có nhiều uy tín trong ngành tư pháp, đồng thời anh lại là một dân biểu có tiếng nói mạnh mẽ lúc bấy giờ.


Trong không khí giá buốt của Paris, chúng tôi vẫn cảm thấy ấm áp khi cả hai đều cởi mở nhắc về những kỷ niệm vui buồn ngày xưa, những chuyện giận nhau không đáng gì.


Nhắc lại từng gương mặt của những người thân quen ngày cũ và chúng tôi đã cùng cười với nhau thật nhiều khi nhớ lại những lần cãi vã lẩm cẩm ngày xưa.


- Có lẽ cuộc tình nào không đến được với nhau mà vẫn còn thương nhớ cũng đều là cuộc tình lớn, phải không em?


KỲ 7: Kỳ nữ Kim Cương và tình yêu đầu tiên


Năm 1954, má Năm tôi (nghệ sĩ Năm Phỉ) mất. Thế là bảng hiệu Năm Phỉ đã được thêm vào hai chữ Kim Cương, và từ đó tôi trở thành trụ cột để lèo lái gánh hát Năm Phỉ - Kim Cương.


Lúc bấy giờ, ngoài vở Giai nhân và ác quỷ, Phấn hậu cung, tôi đã có những vai tuồng khẳng định chỗ đứng trong lòng khán giả như Hai ngọn lửa thiêng, Đường về Lam Sơn, Hiệp nữ áo xanh...


Nhờ đó, với sự dẫn dắt của má và các cô chú Duy Lân, Giáo Út, Ba Vân...; tôi đã mạnh dạn thế những vai nổi tiếng đã tạo nên tên tuổi của má Năm tôi ngày xưa như trong các vở Lan và Điệp, Xử án Bàng Quý Phi, Phụng Nghi đình...


Trong một cuộc họp báo, tôi đang say mê thao thao nói về tương lai của đoàn Năm Phỉ - Kim Cương, thì bất ngờ có một câu hỏi ở hàng ghế cuối cùng từ một anh ký giả: “Xin cô cho biết quan điểm của cô như thế nào về tình yêu?”.


Tôi thật sự ngỡ ngàng và bối rối vì tôi chưa hề nghĩ đến vấn đề này.


Tình yêu mật ngọt


Thế là chúng tôi “phải” gặp nhau để... bàn về chuyện “tình yêu”, ngồi đối diện nhau thật lâu. Anh kể cho tôi nghe về những mối tình đẹp trong văn học.


Anh ca ngợi sự bất tử của tình yêu một cách say mê. Còn tôi thì ngồi nghe như “nuốt trọn” từng lời của anh với tất cả xúc động của một thiếu nữ 20 tuổi đời chưa biết yêu là gì!


Và từ đó, chúng tôi thường gặp nhau hơn, anh mua tặng tôi nhiều sách hay và góp ý về những vai diễn của tôi, tôi đã học được ở anh nhiều vấn đề từ nghề nghiệp đến cuộc sống. Anh có mặt thường xuyên hơn trong những buổi diễn của tôi, có những vở anh xem cả chục lần không chán!


Có một hôm, anh mời tôi đi xem phim. Trong lúc tôi đang chăm chú theo dõi tình tiết của bộ phim thì tôi cảm nhận được một bàn tay ấm áp nắm chặt tay tôi.


Sau giây phút ngẩn ngơ, tôi đã để yên tay tôi trong tay anh. Từ giây phút đó, tôi đã cảm nhận được thế nào là sự ngọt ngào của tình yêu.


Lúc đó, đoàn Năm Phỉ - Kim Cương tuy đông khách nhưng tiền bạc đều do má và các cậu quản lý, nên tôi không có nhiều tiền trong túi. Anh thì, với số lương khiêm nhường của người ký giả, cũng không dư dả gì. Nên anh thường đưa tôi đi xuống ngồi ở bến tàu Bạch Đằng - ngồi ngắm những con đò xuôi ngược hay đi tản bộ hàng giờ trong Sở thú...


Chỉ cần uống với nhau một ly nước chanh, ăn cùng nhau một gói đậu phộng mà sao chúng tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng.


Chuyện chúng tôi yêu nhau được lan truyền trên các báo. Báo Tiếng Dội dành nửa trang để đăng hình và tiểu sử của chúng tôi: Một ký giả trẻ đầy hứa hẹn trong tương lai và một ngôi sao sân khấu đang trên đà phát triển, yêu nhau với một tình yêu trong sáng, đầy lãng mạn.


Ai cũng cho rằng đây là mối tình đẹp nhất trong năm. Ai cũng ủng hộ, ai cũng vui mừng, chỉ riêng một người quan trọng nhất lại phản đối quyết liệt. Đó là MÁ TÔI.


Không bút mực nào tả nổi sự phẫn nộ và sửng sốt của khoảnh khắc má tôi khi thấy hình chúng tôi đăng song song trên báo cùng dòng chữ “Mối tình đẹp nhất trong năm” trong một bài báo lớn. Má không bao giờ tưởng tượng ra tình huống này.


Má chưa tha thứ được chuyện tôi dám cãi lời từ bỏ cuộc hôn nhân mà gia đình đã đặt nhiều kỳ vọng, và má lại càng không thể chấp nhận được má là người biết sau cùng chuyện thương yêu của tôi.


Má nghĩ chuyện báo chí loan tin rầm rộ như vậy là có ý đặt má trước một chuyện đã rồi. Má trả lời một cách dứt khoát với mọi người: “Không thể nào có cuộc hôn nhân này”.


Từ đó, má đã cho người theo kiểm soát tôi gắt gao, và với anh thì má cấm tiệt không được tới gặp tôi ở bất cứ chỗ nào.


Những ngày hạnh phúc


Chúng tôi đau khổ vô cùng, nhưng càng cấm đoán thì sự thương nhớ càng mãnh liệt hơn. Có những đêm anh chỉ biết đi vòng vòng quanh nhà tôi, hi vọng nhìn thấy bóng tôi trên cửa sổ.


Nhất là mỗi khi nghe tôi đau hay bị má đánh, anh tất tả nhờ bạn bè lén đem đến cho tôi vài chai dầu và những lời thương yêu thắm thiết. Tôi cũng không chịu nổi sự xa cách này nên tôi nghĩ chỉ có cách phải đi khỏi Sài Gòn mới mong thoát khỏi sự kiểm soát gắt gao của má.


Lúc đó, đoàn Nam Phong của dì Chín Bia đang lưu diễn các tỉnh và mỗi lần được “kỳ nữ” Kim Cương tăng cường thì doanh thu tăng cao, nên chuyện tôi ra giúp là điều dì Chín luôn luôn tha thiết. Biết thế nên tôi nhắn dì Chín là tôi sẵn sàng ra “tăng cường” cho dì Chín vài đêm.


Má đã bằng lòng để tôi đi Phan Thiết vài ngày nhưng không quên nhắc nhở dì Chín phải “canh chừng” tôi chặt chẽ. Hôm đưa tôi ra xe lửa, má đã cẩn thận kiểm tra danh sách những người khách đi cùng toa với tôi, và má yên lòng khi không thấy tên anh trong đó.


Khi tàu ra khỏi ga Bình Triệu thì anh lù lù xuất hiện cạnh tôi. Tôi hỏi:


- Anh lấy vé cách nào mà má tìm không ra vậy?


Anh cười:


- Má chỉ biết tên anh qua bút danh trên báo chứ làm sao má biết tên thật của anh trong giấy tờ được.


Đêm đó có lẽ là một trong những đêm hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi. Hai chúng tôi ngồi trên những bậc thềm ở cửa toa tàu nhìn trăng lên, nhìn những đốm lửa bay ra từ đầu tàu - giống như những chùm pháo bông cùng chúc mừng hạnh phúc của chúng tôi.


Những ngày kế tiếp ở Phan Thiết cũng là những ngày hạnh phúc. Tôi đưa anh đi thăm lại rạp Thất Ngàn, nơi đã để lại cho tôi một dấu ấn đau buồn của tuổi thơ; tôi đưa anh đến lạy Phật ở chùa Phật học Phan Thiết, nơi đã cưu mang ba tôi trong những ngày cuối đời; tôi đưa anh lên lạy mộ ba tôi như một lần ra mắt...


Chúng tôi đang tung tăng để hưởng những ngày hạnh phúc ít ỏi của mình. Chúng tôi mướn xe ngựa đi dọc bờ biển lộng gió, đang đắm chìm trong tiếng sóng thương yêu thì tôi nhìn xuống đường, chợt thấy dì Chín đứng chống nạnh, đang trợn trừng nhìn chúng tôi bằng cặp mắt sửng sốt và giận dữ. Hai mươi bốn giờ sau, tin này đã đến tai má tôi.


Đòn roi của má


Sự kiện anh đi Phan Thiết với tôi trở thành thùng xăng đổ vào ngọn lửa đang giận dữ của má. Về tới Sài Gòn má đánh tôi nát hết hai cây roi mây.


Và má đã trút hết bao nhiêu trách nhiệm và giận dữ vào anh. Má tới tòa báo nơi anh làm việc để “hỏi tội”.


Má đã thẳng tay đánh anh tại rạp hát trước mặt bao nhiêu người, khi thấy anh mon men đến gặp tôi. Và má cũng không quên tìm đến gia đình anh với bao nhiêu lời trách cứ nặng nề và giận dữ.


Tất cả những sự việc đó đã là giọt nước làm tràn ly nước chịu đựng của anh đối với tình yêu của chúng tôi.


Anh nói với tôi: “Trong tình yêu của tụi mình, anh đã làm xong trách nhiệm, anh đã đưa gia đình chính thức đến xin cưới em, anh đã nhẫn nhục chịu đựng thái độ gay gắt, vô lý và độc đoán của má, thương em thì anh thương rất nhiều nhưng lòng tự trọng của một người đàn ông đối với gia đình cũng như đối với xã hội không cho phép anh chịu đựng thêm được nữa”.


Trong cơn giận dữ, anh không kiềm chế được nên đã có những lời nặng nề với má tôi. Đó là điều làm cho tôi đau đớn vô cùng…


Sau những dỗi hờn chúng tôi lại càng thắm thiết hơn, có lần anh ôm tôi vào lòng và bảo:


- Thôi tụi mình bỏ hết, trốn khỏi thành phố này nhe em. Em đã trên 18 tuổi rồi, có quyền tự do kết hôn, không ai có quyền ngăn cản hết.


Tôi khóc ngất trong tay anh và nói:


- Không dễ dàng như vậy đâu anh. Em không nỡ phụ bao nhiêu tình cảm của khán giả đang dành cho em, còn trách nhiệm với mấy chục gia đình trong đoàn hát. Em còn phải thay thế ba lo cho hai đứa em nhỏ, hơn nữa, cuộc đời nghệ sĩ của má đã khổ nhiều rồi, em không muốn má phải khổ hơn nữa vì em.


Anh đẩy tôi ra, lạnh lùng nói:


- Sao em có nhiều trách nhiệm với mọi người như vậy mà lại không có trách nhiệm với tình yêu của tụi mình?


Tôi ấp úng:


- Anh... anh... ráng chờ một thời gian nữa, để má bớt giận rồi hãy tính...


- Anh không thể chờ được một việc mà không chắc nó có tới hay không. Má anh đã già rồi nên muốn anh sớm yên bề gia thất. Nếu em dứt khoát không đi, anh phải cưới vợ theo ý gia đình thôi...


Một tháng sau, được tin anh cưới vợ.


Cầm thiệp cưới của anh trong tay, tôi không biết mình đang mơ hay tỉnh. Lần đầu tiên tôi mới biết đau khổ vì tình. Đi đến đâu cũng là những con đường chúng tôi từng tung tăng bên nhau, đến rạp hát cũng là nơi anh từng ngồi xem tôi diễn...


Tôi cảm thấy trống rỗng, mọi sự kiện quanh tôi đều như vô nghĩa. Tôi lên sân khấu diễn như một cái xác không hồn. Những tiếng vỗ tay, những lời khen ngợi lúc này không sao lấp được những đau đớn trong trái tim tôi.


(còn tiếp)


Nguồn: Hồi ký Kỳ nữ Kim Cương


tuoitre.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »