Tính cách vua Gia Long và Minh Mạng
Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX qua hồi ức của Michel Đức Chaigneau (Lê Đức Quang, Trần Đình Hằng dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2016) là một góc nhìn độc đáo, khác lạ về Huế, về triều Nguyễn và đất nước Đại Nam thời Gia Long, Minh Mạng trong cuộc tiếp xúc với người Pháp và văn minh phương Tây.
Sự khác biệt giữa hai cha con
Ngày nay, hiếm có người Pháp nào không biết đến sự kiện là vào cuối thế kỷ XVIII, theo sự khẩn khoản của Đức Ông Pigneau de Béhaine, giám mục Adran (giám mục Bá Đa Lộc - PV), nhiều người Pháp đã đến xứ Cochinchine (Nam kỳ - PV) để hỗ trợ cho vua Gia Long, vốn đã bị mất quyền kiểm soát vương quốc tiếp theo sau những cuộc chiến chống lại những kẻ nổi dậy (chỉ nhà Tây Sơn - PV).
Khi lên ngôi, vua Gia Long đã không muốn nhìn nhận uy thế vương quyền của Thiên triều và ngài tự xưng vương một cách độc lập, mặc cho những yêu sách và đe dọa từ triều đình Trung Hoa. Vua Minh Mạng đã không có lòng can đảm để noi gương cha: ngài đã chấp nhận là chư hầu của hoàng đế Trung Hoa và xin được phong vương. Ngay từ khởi đầu, vị vua mới lên ngôi đã bỏ rơi chính sách của vua Gia Long để áp dụng chính sách của Trung Hoa, như chúng ta đã biết, đó là bài ngoại và căm thù đạo Công giáo.
Vua Minh Mạng rất am tường và thích trau dồi văn thơ thi phú Trung Hoa, thậm chí còn được xem như là một bậc túc Nho, có vẻ uyên thâm về chữ nghĩa hơn cả vua cha. Nhưng ngài thiếu hẳn những đức tính vốn có của vua Gia Long: vị vua đầu tiên của triều đại nhà Nguyễn có tính cách nhanh nhạy và đôi khi cũng đưa ra những quyết định không công bằng, thế nhưng ngài biết phục thiện và sửa chữa sai lầm. Vua Minh Mạng lại có tính trầm ngâm và tự cao, đầu óc lo lắng và đa nghi làm cho nhà vua trở nên nghi hoặc, tính tình cứng cỏi của nhà vua cũng thường đẩy ngài đến chỗ đưa ra những quyết định bất công một cách lạnh lùng.
Michel Đức Chaigneau là một người con lai mang hai dòng máu Pháp - Việt. Cha ông là Jean-Baptiste Chaigneau, người Pháp, có công giúp vua Gia Long đánh bại Tây Sơn nên được phong Chưởng cơ, tước Thắng Toán Hầu và đặt tên VN là Nguyễn Văn Thắng. Từng sống ở Huế gần một phần tư thế kỷ, lại có điều kiện gần gũi triều đình cho nên những trang hồi ức của Michel Đức Chaigneau trong cuốn Souvenirs de Hué (Cochinchine) ấn hành tại Paris năm 1867 đã thể hiện một cách sinh động về cuộc sống, những cuộc tiếp xúc, những biến động ở Huế - VN đầu thế kỷ XIX.
Vua Minh Mạng không có được sự yêu mến của quần thần, mọi người đều e ngại sợ sệt. Trước khi lên làm vua, chung quanh ngài là một nhóm nhà Nho như ngài, và ngài đã tỏ lộ với họ sự hào hứng của ngài trước những định chế thành tựu của Trung Hoa. Khi nhà vua lên ngôi, những nhà Nho trở thành những người quân sư và hùa theo với họ là những quan lại vốn không được hậu đãi dưới triều vua tiền nhiệm.
Trong số những quan lại này có cả những người đã ganh tỵ với tình cảm vua Gia Long dành cho các quan người Pháp, nay với vị vua mới, những con người như thế bắt được cơ hội để thực hiện việc rắp tâm sàm tấu hãm hại mà họ đã không thành công dưới thời vua Gia Long. Không cần thiết phải nói ra là những ai khác đã ủng hộ quan lại người Pháp rồi cũng sẽ lần lượt bị thất sủng.
Ngài Tả Quân, Tổng trấn Sài Gòn
Trong số những quan lại là bạn của các quan người Pháp, chỉ có ngài Tả Quân, Tổng trấn Sài Gòn (Lê Văn Duyệt - người dịch), là còn dám đối đầu với nhà vua mới lên ngôi và đám cận thần. Quan Tả Quân công khai trách cứ nhà vua đã giẫm đạp lên chính sách khôn ngoan và đáng trân trọng của vua cha, đã thiếu bổn phận biết ơn đối với những công thần tận tụy tận trung, nhờ vào những vị này mà ngày nay ngài mới có được ngôi báu.
Quan Tả Quân có một ý chí hơn người với những tài năng ngoại hạng về chiến đấu và cai trị. Khắp chốn đều e sợ ngài, tuy vậy ngài lại được dân chúng yêu mến do tính tình cương trực. Ngài Tả Quân là một trong năm vị đại công thần của vương triều và được sự tin cậy hoàn toàn của vua Gia Long. Vua Gia Long trước khi mất đã khuyến cáo ngài Tả Quân là phải theo dõi tính cách thiếu kinh nghiệm của vị vua nối ngôi trong những năm đầu trị vì và bảo vệ vị vua trẻ chống lại những kẻ thù có thể làm hại.
Vua Gia Long cũng yêu cầu con trai mình nghe theo những lời khuyên bảo của bậc tôi trung này. Nhưng vua Minh Mạng, thay vì nghe những góp ý của ngài Tả Quân, lại làm ngược lại hết; và thay vì nhìn nhận sự trung tín và lòng tận tụy của vị Tả Quân, lại căm thù ngài tột cùng. Tuy vậy, vua Minh Mạng đã không dám truất đi chức Tổng trấn đất Sài Gòn của Tả Quân, cũng không dám bức hại trù dập vì uy tín của ngài với dân chúng. Không thể thỏa mãn được lòng căm thù, vua Minh Mạng chỉ còn biết chờ cái chết của ngài Tả Quân.
Tôi được biết là ngài Tả Quân qua đời vài năm sau khi gia đình chúng tôi vĩnh viễn rời khỏi xứ Cochinchine. Và rằng để bôi nhọ ký ức về ngài, vua Minh Mạng đã cho tổ chức một phiên xử để kết án thi thể còn lại của ngài.
Chính trong tình thế như vậy mà cha tôi, theo như những mong đợi của chính phủ Pháp, sẽ trình lên vua Minh Mạng đề án một hiệp ước hữu nghị và thương mại giữa hai đất nước, Pháp với An Nam.
Diện kiến vua Minh Mạng
Cha tôi nôn nóng muốn gặp vua Minh Mạng. Sau khi báo tin xin được tiếp kiến, cha tôi đã đến điện Cần Chánh.
Vua Minh Mạng đón tiếp cha tôi với sự trang trọng pha lẫn một chút lạnh nhạt. Tuy vậy, nhà vua có vẻ hài lòng khi thấy cha tôi quay về lại xứ này.
Nhà vua trấn an cha tôi rằng ngài sẽ vẫn xem ông như một vị quan đã được người tiền nhiệm đánh giá cao và ưu ái nhất.
Cha tôi vốn đã quen tự nhiên thoải mái trước vua Gia Long thì nay hơi bỡ ngỡ khi đối diện với vua Minh Mạng: trước đây cha tôi đã biết ngài sẽ là người nối ngôi nhưng cha tôi lại chẳng có mấy thiện cảm với con người này. Cha tôi bẩm trình đức vua về nhiệm vụ được giao, xin đức vua ấn định ngày giờ xét thấy phù hợp để chính thức tiếp nhận thư và quà tặng của vua Louis XVIII, theo đó ra lệnh chuyển về cung với tất cả nghi thức trang trọng.
Đức vua chuẩn thuận về điểm này, nhưng riêng về dự định ký kết thỏa ước với chính phủ Pháp, vua Minh Mạng chỉ trả lời với những chỉ dấu không rõ ràng: để đúng phép, ngài chỉ vấn an về tình hình của hoàng gia và hỏi thăm về nước Pháp. Sự im lặng của vua Minh Mạng (đối với đề nghị ký kết thỏa ước) là điềm báo sự không thành công của nỗ lực đàm phán với triều đình An Nam.
Ngồi trước mặt vua
Trong một lần tiếp kiến, vua Minh Mạng nói với cha tôi về người trưởng nam đức vua đã gặp vài lần khi vua Gia Long còn tại vị, và bày tỏ mong muốn được gặp. Người trưởng nam mà đức vua nói tới là tôi.
Rồi một hôm, ngài cho người mang đến cho tôi, theo nghi lễ và xếp trong một chiếc hộp, một quần vải thưa màu đỏ với một áo dài vải lụa xanh dương, có lót vải lụa vàng và viền vải thêu chỉ vàng (tôi vẫn còn giữ những tặng vật này). Ít hôm sau khi nhận hộp quà của đức vua, một người mang đến lệnh của vua thông báo cho tôi là ngài có buổi tiếp kiến riêng.
Tức khắc, tôi cho thắng yên ngựa, sau khi báo cho cha tôi biết lệnh của vua. Tôi mặc bộ áo quần đẹp nhất và một lát sau tôi đã đến trước cổng Tịnh Tâm. Người truyền lệnh của vua Minh Mạng đến trước tôi vài phút, chờ tôi ở đó để hướng dẫn, đồng thời cũng đề phòng những phiền toái có thể xảy ra cho tôi từ phía lính tuần và người phục dịch, vì họ phải tuân theo những mệnh lệnh hết sức nghiêm ngặt. Tôi đi theo người dẫn đường vào cung. Sau khi băng qua một cây cầu và một khoảnh đất trồng hoa, tôi đến sảnh chờ, nơi một người tùy tùng chỉ cho tôi lối phải vào để đến phòng tiếp kiến của đức vua.
Ở xứ này không như ở châu Âu, không có tập quán báo danh khi những vị khách đến tiếp kiến hay đến thăm, do đó tôi lặng lẽ đi qua cửa và tức thì diện kiến ngay vua Minh Mạng. Ngài thốt lên khi thấy tôi: “À đây!”, tay ra dấu cho tôi đến gần. Một lát sau, một quan văn phục vụ cho văn phòng của vua đi vào theo lệnh đòi trước đó của đức vua.
Vị quan này trạc khoảng ba mươi lăm bốn mươi tuổi, nhỏ người, mảnh mai, diện mạo gầy gò bất thường, khuôn mặt rám nắng góc cạnh, hai gò má cao, mũi bè ra, cằm hơi tròn, với một chòm tạm gọi là râu có thể đếm được dễ dàng số sợi râu. Môi ông khá mỏng, trên rìa môi trên lơ thơ vài sợi râu. Khăn đóng đội đầu bằng vải thưa màu đen gần như che khuất vầng trán bóng láng, bên dưới lộ ra hai con mắt đen và sáng, bộc lộ sự thông minh và thoáng vẻ tự hào. Vị quan mặc quần trắng với áo dài vải lụa màu xanh dương thật đẹp, tà áo dài ngang bắp chân, che đi một áo ngắn bên trong với cổ áo và tay áo cho thấy có thể đã lâu lắm rồi người mặc đã quên giao cho nô tì giặt giũ. Bề ngoài trông không đẹp người, thậm chí là khá xấu xí, bù lại vị quan có phong thái, cử chỉ của giới quyền quý. Nhà vua lại ra dấu và vị quan đến gần bên tôi. Hai chúng tôi vâng lệnh ngồi xuống khi vua Minh Mạng chỉ cho cả hai một cái sập thấp gần với sập đức vua đang ngồi.
Những ai am hiểu về nghi thức tại triều đình Huế có thể sẽ ngạc nhiên việc đức vua cho phép chúng tôi ngồi xuống trước mặt ngài, trong khi ngay cả các vị quan lớn cũng buộc phải luôn ở tư thế đứng trước đức vua. Điều giải thích cho đặc ân hôm đó với vị quan và cả tôi: vị quan có công việc thư lại ngồi ghi chép những gì tôi dịch ra ở phần dưới của những bức tranh (nước Pháp tặng), và phần tôi phải ngồi thật gần với đức vua để chỉ rõ cho ngài, theo những ghi chú trên tranh, vị trí của các đội quân hay nhân vật xuất hiện trên tranh.
Chỉ có hai chúng tôi là ngồi gần đức vua, các vị quan tùy tùng và vài người chờ mang lệnh truyền thì đứng sau một cánh cửa mở hờ (người An Nam không có tập quán dùng chuông rung để gọi); vài nô tì trẻ tuổi, khoảng mười lăm hai mươi tuổi, đứng yên ở góc phòng, lưng tựa vào vách và luôn sẵn sàng đợi vua ra dấu để chạy đến quỳ xuống dâng lên vua một điếu thuốc đã đốt, mà trước đó chúng đã hút thử vài hơi. Tất cả mọi con người ở đây đều rất chăm chú theo dõi từng cử chỉ của nhà vua.
Người Pháp tại Huế
Tư gia của hai ông quan Pháp Vannier và Chaigneau luôn rộng mở đón chào bất cứ vị nào mặc Âu phục đặt chân đến Kinh thành Huế:
Là thương gia hay chỉ đơn giản là du khách, tất cả đều được đón tiếp theo cung cách hiếu khách đặc biệt kiểu người Pháp.
Những thương thuyền cập bến xứ Cochinchine, với tần suất không cao, thường là thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hay là chiến thuyền của người Anh. Chỉ mãi đến năm 1817, hai ông mới sung sướng được thấy cập bến những thuyền đầu tiên đến từ nước Pháp. Như thế, trong hơn một phần tư thế kỷ, đã không có một người Pháp nào đặt chân đến vùng đất này và hình như nước Pháp đã quên mất nó đi. Chỉ đến tháng 9.1817 mới có thương thuyền của công ty Balguerie, Sarget et Compagnie, đến từ cảng Bordeaux cập bến xứ Cochinchine.
Khi viết những dòng này, tôi sẽ không dám thử gợi ra lại những cảm xúc của hai ông Vannier và Chaigneau khi chứng kiến sự xuất hiện bất ngờ mà hai ông đã hết lòng ước ao mong đợi từ bấy lâu. Thương thuyền Pháp xuất hiện đã làm sống lại nơi hai người những kỷ niệm về quê hương và niềm hy vọng sẽ có ngày về thăm lại tổ quốc xinh đẹp, nơi hai ông vẫn còn người thân và bạn bè. Mỗi vật hai ông thấy trên thương thuyền lại gợi lên một kỷ niệm nào đó của một thời đã qua: hai ông luôn miệng hỏi thăm vị chỉ huy, các sĩ quan và thủy thủ trên con tàu về quê hương sinh thành. Hai vị quan đã tiếp đón hết sức nồng hậu tất cả những người đồng hương và giúp đỡ họ bán hết số hàng hóa chở theo.
Chuyến tàu thứ hai của một công ty khác tại Bordeaux, Công ty Phillipon, cập bến tiếp theo sau chuyến thứ nhất. Chuyến này cũng được đón tiếp như chuyến trước, nhận được sự bảo trợ của hai vị quan người Pháp. Đáng tiếc là hai chuyến hàng đều hoàn toàn không phù hợp với xứ này, làm những chuyến đi thử nghiệm đầu tiên như thế hoàn toàn thất bại.
Vua Gia Long đón tiếp tàu buôn Pháp
Tuy vậy, vì có cảm tình và sự trân trọng với người Pháp nên vua Gia Long, qua trung gian của hai ông Vannier và Chaigneau, đã bày tỏ với những người chỉ huy và áp tải hàng hóa việc ngài lấy làm tiếc là những chuyến tàu buôn khởi đầu như thế đã không thành công, rồi ngài ra lệnh miễn mọi sắc thuế cho cả hai chuyến tàu. Ngài cũng từ chối ngay cả những món quà dâng tặng ngài, và chỉ nhận vài món cho triều đình với điều kiện là được trả tiền. Đức vua cũng bày tỏ với các vị chỉ huy đồng thời áp tải hàng của các chuyến tàu là ngài mong muốn họ trở lại với những hàng hóa phù hợp với nhu cầu bản xứ, ngài cũng chỉ rõ thêm những món hàng nào, và hứa sẽ luôn đối xử với họ như những thần dân đến từ một nước bạn.
Mười tám tháng sau, hai thương thuyền loại ba cột buồm tuyệt đẹp thả neo ở vịnh Tourane (Đà Nẵng), hai chiếc này có tên Larose và Henri, thuộc quyền các chủ tàu đã tổ chức các chuyến trước.
Và đây là những lời trình bày của một trong những nhà buôn trong báo cáo về những chuyến đi đầu tiên đến xứ Cochinchine. Sau khi cho biết những thiệt hại của hai công ty. Vị thương gia nói: “Tin tưởng vào những kết quả tiếp theo mà nước Pháp có thể gặt hái được từ những mối quan hệ như thế, tin tưởng vào sự đón tiếp của đức vua (An Nam) dành cho đại diện những chuyến tàu, qua sự trung gian của những quan người Pháp phục vụ tại triều đình bản xứ, những vị này đã ân cần săn đón với tình cảm thân hữu; được những vị này khuyến khích, các công ty lại cử đi tiếp người áp tải hàng trên một trong những con tàu đẹp nhất, chiếc Larose, trọng tải khoảng 700 tonneaux (đơn vị chuyên chở trên tàu thuyền trước đây của Pháp, một tonneaux tương ứng 1,44 m3) và ít ngày sau đó lại đến lượt chiếc Henri. Lời hứa sẽ vẫn đón tiếp trọng thị như những chuyến trước đó được thực thi hết sức nghiêm túc và chính xác. Hàng hóa đã được tiếp nhận và trang trải một cách sòng phẳng, ngay thẳng và thật chu đáo kỹ lưỡng. Hai con tàu này lúc quay về đã nhập đường, trà và tơ lụa thô, đồng thời cũng mang về tiền của xứ này. Như thế, dưới mọi góc độ, chuyến đi sau này là một thành công trọn vẹn...”.
Từ khi xuất hiện các thuyền buôn Pháp ở xứ Cochinchine, ông Chaigneau luôn nghĩ ngợi hướng về nước Pháp. Không cho triều đình hay biết về ý đồ đã chín muồi, ông lặng lẽ chuẩn bị để rời xứ này ngay khi xuất hiện thời cơ thuận lợi, nếu không trở về vĩnh viễn thì chí ít cũng trong một khoảng thời gian nào đó, để thăm viếng lại nước Pháp, gia đình và đích thân sẽ báo cáo cho chính phủ tất cả những thông tin mà công tước Richelieu, Bộ trưởng của vua Louis XVIII đã nêu yêu cầu liên quan đến xứ sở này.
Cả hai ông Vannier và Chaigneau, những người Pháp còn lại ở chốn Kinh thành Huế, đều có gốc gác ở vùng Bretagne, đã cùng chiến đấu dưới ngọn cờ của vua Gia Long, chia sẻ với nhau tình cảm anh em đồng hương do cùng xuất thân một vùng miền và cùng sinh tử trên đất người. Tình cảm ban đầu đó được bền chặt hơn nữa trong mối thâm tình giữa những người bạn thâm giao.
Michel Đức Chaigneau
Nguồn: Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX qua hồi ức của Michel Đức Chaigneuau (Lê Đức Quang, Trần Đình Hằng dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2016)
|