Ông Giàng A Tăng dẫn đầu một nhóm dân công của bản Hmông Nà Tọ Thượng xuống công trường xây dựng cầu, một công trình trọng điểm của tỉnh. Ông già đẹp như một vị tướng trong truyện cổ, người cao lớn phương phi, trán rộng, mũi thẳng, mắt sáng, da dẻ hồng hào, râu dài và đen nhánh. Con ngựa ô ông cưỡi mình rất trường, bốn chân thon, cao, chạy nước kiệu êm, giá như cầm bát nước trên tay cũng khó mà sánh ra.
Đi qua các lán, ông đều dừng ngựa, ngó vào, hỏi:
- Này, công nhân! Có thấy của mình con trai Giàng Từ Quán đâu không?
- Quán nào, cụ?
- Quán bộ đội, chuyển sang làm cầu ở đây mà!
- À biết biết! Cụ đến chỗ lắm sắt thép kia kìa!
Đội cầu của tỉnh đang bắt tay vào thi công chiếc cầu treo do trung ương thiết kế. Trên bãi đất bằng phẳng của bờ sông Lung Sa, công trường đang trải ra những máy móc, vật liệu... Nghĩa là tất cả những gì dùng để tạo nên chiếc cầu vút qua con sông hiểm trở và sâu thẳm như một vết nứt của đất.
Người từ các nơi đổ về công trường cuồn cuộn như suối lũ. Vào những buổi nắng hểnh, đủ các loại quần áo phơi trên dây thép và sào nứa. Xoè như bướm hoa là váy Hmông. Sẫm màu chàm, thêu thùa kỹ lưỡng như quần áo văn công là trang phục của chị em Dao đỏ. Xen kẽ vào đó là những bộ âu phục ka-ki, pô-pơ-lin hoặc quân phục bạc màu.
Nhiều dãy lán mọc nhanh như một điều cấp báo để cho công nhân ở và làm việc. Có những dãy làm vội, trịt xuống đất như cái dấu ớ (Ù) để cho bà con đi dân công ở tạm vài tuần. Bà con các dân tộc vùng cao, từ lâu khát khao có một chiếc cầu vượt qua con sông hiểm trở này, nên xung phong đi góp công đông như trẩy hội.
Thu - đông, con sông Lung Sa rất hiền lành, nước chảy liu riu như buồn ngủ. Nhưng cuối xuân, khi có mưa nguồn, con sông bật dậy như giãy nảy. Lũ về nhanh và mạnh đến ngỡ ngàng. Lúc đó lao rầm cầu khó khăn lắm. Nỗi lo toan ấy cứ xoắn xuýt trong giấc ngủ của mọi người, nhất là các đồng chí có trách nhiệm. Quán là tổ trưởng tổ sắt, anh biết điều đó, nên rất chăm chỉ, cần mẫn uốn thật nhanh cốt thép để đổ bê-tông phục vụ công trình. Ai cũng muốn nhanh tay cướp lấy thời gian.
Quán là bộ đội công binh chuyển sang, anh làm việc đã nghiêm túc, lại rất khẩn trương. Nhiều thanh niên cứ ước mơ được như anh. Thừa hưởng vóc dáng của người cha, lại giỏi võ, Quán trông đẹp trai lắm. Làm việc nhanh như đùa, đã thế, thổi khèn khéo như miệng con chim khướu. Cứ nhìn anh đang làm việc trong tổ sắt kia thì rõ. Tay, chân, vai, lưng, bụng nổi múi cuồn cuộn như bạnh chè vè của cây dẻ đã cao tuổi mỗi khi anh uốn những thanh thép khá to. Với sức lực ấy, anh uốn thép nhẹ nhàng như ta uốn song, mây trong bếp lửa. Thỉnh thoảng anh lại phật cánh tay vào không khí làm vang lên những tiếng vù vù như cánh cung bật. Tính Quán sôi nổi và hồn nhiên. Anh vừa làm, vừa kể chuyện chiến đấu cho anh em trong tổ nghe. Cô Phàng, tổ viên, người Hmông hoa rất thích chuyện và thỉnh thoảng lại hỏi tiếp lúc anh đang kể:
- Cái ca-nô ấy sau rồi ra sao nữa?
- Tôi hàn lại và dùng như thường!
- Anh biết hàn à?
- Có tí chút thôi!
Quán đang kể lại những trận chiến đấu của đơn vị anh trên dòng sông Nhật Lệ. Hồi chiến tranh Giôn-xơn, chúng thả xuống bến phà này khá nhiều bom từ trường. Đơn vị anh quyết tâm khai thông bến phà, đưa xe vào chiến trường. Quán tự nguyện xin lái ca-nô phóng thật nhanh để rà phá bom. Chiếc ca-nô nhỏ như thoi, lướt trên mặt nước, bom nổ dựng những cột nước cao vút. Nhiều lúc ca-nô chổng phộc lên như định chui tọt xuống đáy sông...
Mỗi lần Quán dừng kể, cô Phàng lại giục:
- Kể nữa đi anh!
- Để hôm khác nhé! Hôm nay cô Phàng tự xem lấy bản vẽ và uốn cốt thép cho những tấm bê-tông lát mặt cầu, chú ý thanh vai bò, nó phải chịu nhiều lực nhất!
- Được rồi! - Phàng trả lời vui vẻ và đi làm ngay công việc Quán giao.
Quán lại dặn tiếp:
- Nhớ cạo sạch gỉ ở những thanh thép nhé!
- Biết rồi, sao anh dặn nhiều lần thế!
Cả bản Nà Tọ Thượng ai cũng thừa nhận Quán là một người tài trí, và bây giờ, sau mười năm đi bộ đội lại học thêm được cái tính cẩn thận. Anh thường dặn các tổ viên: “Dao sắc chưa đủ khỏe, phải cái nắm vững, cái chỗ kê tốt mới được. Việc nhỏ làm tốt thì việc lớn mới thành, cái gì cũng cẩn thận đã!” A Mỷ, vợ anh hồi còn tìm hiểu nhau, rất yêu anh cũng là do cảm cái trí thông minh của anh. Hồi ấy anh chưa đi bộ đội, còn ở nhà phụ trách thanh niên bản. Chi bộ giao cho chi đoàn đi tìm nguồn nước cho dân dùng và để chống hạn. Chẳng ai lạ gì nước ở vùng cao, tìm nó khó hơn cả tìm măng trái mùa. Biết bao nhiêu già làng phải ngán ngẩm, lắc đầu xua tay như gặp củ mài ăn vào giữa tảng đá. Ấy thế mà Quán tìm được, mới lạ chứ! Anh để ra mấy buổi sáng, dậy từ lúc gà rừng chưa gáy sáng tiếng đầu tiên để xem các khe đồi, khe núi. Mấy ngày sau, anh cắm que chỉ chỗ đào. Chả khác gì một bàn tay tiên, đào đâu, được đấy. Ba cái giếng nước mạch trong thực trong, lúc nào nước cũng đùn lên sui sủi như sôi. Bản vui như có hội hàng mấy tháng liền. Dân bản Nà Tọ Hạ cũng sang thồ nước về dùng. Các cụ già bên ấy bảo con cháu: “Thế nào, gà người gáy, gà mình cũng phải cất tiếng lên chứ!”. Thanh niên liền họp và cử A Mỷ sang mời Quán giúp đỡ. A Mỷ cứ lo ngay ngáy, sợ Quán làm cao, hoặc giữ “bí quyết nhà nghề” không chỉ bảo cho.
Ngồi nghe đầu đuôi câu chuyện, Quán cười và bảo:
- Đúng là tôi không sang được rồi. Hôm nay phải đi họp bàn về công tác trị an ở trên huyện. Tìm giếng không khó đâu. Hồi tôi đi học, thầy giáo dạy thôi!
- Nhưng chúng tôi đã được học đâu!
- Thế này nhé! Cứ sáng sớm ra xem đồi núi, chỗ nào có sương mù bay là là tức là hơi nước nó bốc lên đấy! Muốn cẩn thận thì đào xuống đấy một cái hố con con, đem bát úp xuống. Hôm sau ra lật bát lên mà có giọt nước đọng là đúng phía dưới có mạch nước ngầm. Cứ đào là ra nước thôi!
A Mỷ về làm, quả đúng vậy. Và từ đấy, đêm đêm trên đường nối hai bản có tiếng đàn môi hòa nhịp, quyện vào nhau thổ lộ khúc tâm tình. Sau đó họ cưới nhau. Khi đứa con trai đầu lòng ra đời thì Quán lên đường nhập ngũ.
- Quán ơi! Mày điếc cái tai à?
Mải làm việc và suy nghĩ, Quán chẳng nghe thấy tiếng bố gọi. Đến khi ông cụ gắt lên, anh mới giật mình quay ra và reo to:
- Tù chi (cái gì thế), bố?
- Này! Liệu mà về giải quyết việc nhà, vợ mày nó muốn bỏ mày đấy!
- Thật không, bố?
- Mày hãy liệu lấy, cái nợ của cha mẹ với con cái tao đã lo xong, mày không giữ tốt thì phải chịu... Thôi, tao đến nhận việc với công trường đã!
Câu nói của bố làm cho Quán bồn chồn và phân vân. Người Hmông quê anh có câu cửa miệng: “Bố mẹ nợ con trai một nàng dâu. Con trai nợ bố mẹ một con trâu”. Câu nói có từ bao giờ chẳng ai nhớ nữa. Có một điều cho tới nay bà con vẫn tâm niệm cho đó là một “đạo lý” quan trọng vào bậc nhất, không theo là trái với “đạo trời”, mà bổn phận làm con, làm cha mẹ đều phải trả. Ngoài ra còn biết bao tập tục khác ăn sâu vào đầu óc, vào tập quán, tư duy, tín ngưỡng và trở thành đạo lý hoặc thói quen đạo đức... Nó trói buộc con người, rũ bỏ nó để đi theo cái mới không thể giải quyết trong chốc lát được. Chính A Mỷ và ông bố cũng nằm trong vòng luẩn quẩn đó.
Hồi anh về nghỉ phép để chuyển ngành, bố anh rất tần ngần và băn khoăn nhưng không nói ra. Nhưng hôm anh gần đi thì A Mỷ nói:
- Không đi đánh Mỹ nữa thì ở nhà phát nương nuôi con! Anh đi đến bao giờ nữa? Bố già mà nhà chẳng có lấy một con trâu, nhỡ ra anh làm thế nào?
Quán ngớ người ra. Anh chưa kịp nói gì thì A Mỷ đã nói thêm:
- Tôi đi đâu cũng thui thủi một mình. Mai anh ra nương mà xem vợ chồng người ta!
A Mỷ càng nói bao nhiêu, Quán càng thông cảm và thương bấy nhiêu. Anh đi chiến đấu mười năm, ở nhà bố già, con dại đều do A Mỷ trông nom, săn sóc và chờ đợi. Giờ anh về, A Mỷ thở phào sung sướng như người vừa gánh nặng đi trên một đoạn đường xa gặp người đón rồi gánh đỡ. Nhưng anh lại ra đi. A Mỷ buồn và giận anh lắm. Quán không dám trách vợ. A Mỷ phải lo những cái mà các cô dâu trong bản phải lo. A Mỷ bị hoàn cảnh chi phối như những người trong bản bị chi phối... Anh rất muốn bố anh và A Mỷ nghĩ khác đi, rộng lớn hơn, xa hơn, tới cái chung hơn, nhưng chưa biết làm thế nào, chưa biết nên bắt đầu từ đâu, cứ lúng ta lúng túng chờ thời gian rỗi nghĩ cách sau.
Đêm lên đường, anh thủ thỉ với vợ:
- Mọi công việc ở làng bản mình rồi sẽ đổi khác, cái A Mỷ lo chỉ là lo xa thôi!
Quán muốn nói nhiều nữa; muốn giải thích cho vợ hiểu sự đổi khác nay mai của quê hương và vì sao cái lo của A Mỷ chỉ là lo hão. Nhưng anh biết dù có nói dài bao nhiêu cũng phải đợi thời gian, đợi thực tế rành rành thì A Mỷ mới tin được. A Mỷ đã quen trao niềm tin cho thực tế. Anh muốn nói cả chuyện mình có nghề nghiệp học trong bộ đội, nay phải dùng nó để phục vụ công cuộc xây dựng quê hương. Có như vậy miền núi mới tiến nhanh được. Nhưng A Mỷ lặng im không nói gì, và ông bố nằm ở giường ngoài cứ thở dài làm cho anh thêm ái ngại. Anh nằm nghĩ miên man rồi ngủ lúc nào không biết.
Hôm tiễn anh đi trả phép, ra đầu bản, chị rân rấn nước mắt làm Quán thêm bối rối: Dà dà, ngày mình nhập ngũ, A Mỷ có khóc đâu!
Hôm nay nghe bố nói thế, lòng anh thêm rối như chàng làng mắc bẫy, chỉ mong chóng hết giờ đi gặp bố hỏi cho ra ngọn ngành.
Hôm nay ông Giàng A Tăng nghỉ tập xe đạp và cùng con đi cắt cỏ ngựa. Mùa thu cỏ hơi hiếm, phải bòn nõn lau thái cho nó nhai. Quán cầm liềm cung cúc đi trước. Ông cụ chạy gằn theo sau.
- Này, tao cũng đến bán ngựa đi để mua xe đạp thôi!
Ông cụ đã bắt đầu mê xe đạp. Quán biết thế nên chiều nào cũng giữ xe cho bố tập. Khi đã đi được, cụ thích lắm, thao thức cả đêm và bây giờ thì tập lai hàng. Cụ thú nhất là nó chở khỏe mà chả cần cỏ rả gì sất.
- Ngựa tuy chậm và vất vả nhưng trong lúc ta chưa làm được đường cho xe đạp thì nó vẫn hơn chứ!
- Cứ có cầu rồi khắc có đường tốt!
- Thế bố phải động viên vợ con để con đi làm cầu chứ!
Ông cụ lặng im ngẫm ngợi. Hai cha con đến bãi để vật liệu ngổn ngang những máy móc và sắt thép, nhìn những cỗ máy lạ, cụ lại hỏi:
- Cái này để làm gì?
Quán lại giảng cho cụ:
- Máy này để hàn thép, bố ạ! Nó có thể nối những thanh thép vào với nhau!
- Hàn súng kíp rạn, được không?
- Tốt quá đi!
- Mày hàn được chứ?
- Được!
- ????, sao không bảo tao từ hôm ở nhà?
Khẩu súng của ông cụ phải nghỉ mấy mùa săn rồi. Xuống chợ huyện, chẳng thợ nào nhận hàn cho. Nay cụ khấp khởi:
- Dà dà, hôm nào tao gửi xuống!
Lên tới một gò đất cao nhìn rõ toàn cảnh công trường, Quán dừng lại chỉ dẫn cho bố về chiếc cầu tương lai:
- Dây cáp sẽ kéo qua sông và chăng lên những cái tháp cầu cao gần hai chục mét, trên dây cáp sẽ có những cái quang để treo cái rầm cầu rồi lát bê-tông cho xe đi qua!
- Liệu cầu có nhảy không?
- Không bị rung một tí nào!
- Thế cái chỗ dựng nhiều tre kia là cái gì?
- Đâu? à, đó là giàn giáo định vị để đổ bê-tông bốn cái tháp cầu!
- Con gì kia?
- Đấy là máy gạt đất, nó gạt bằng mấy chục người làm, chắc họ vừa đem từ tỉnh về!
Ông cụ kéo áo lau mắt rồi đứng chống tay hông nhìn phóng xa về nơi công trường làm việc. Nét mặt cụ giãn nở một niềm vui hả hê. Quán biết bố mình đang vui. Anh lặng im đứng nghe trái tim mình đập rộn rã. Bao năm rồi ông cụ sống với bản làng trên núi cao, quan niệm về đất nước có khi cũng chưa thấy hết cái rộng dài, giàu đẹp của quê mình. Nay thấy con cái biết nhiều, biết rộng, thấy máy móc có khả năng làm việc lớn lao của con người, ông cụ tránh sao khỏi bàng hoàng. Đi nhiều tầm mắt sẽ rộng ra, kích thước lòng người và sự nhận thức cũng cao lớn lên nhanh chóng...
Bỗng ông cụ quay sang Quán:
- Đợt này tao về sẽ cho vợ mày xuống công trường mà xem cầu!
Quán biết bố mình đã có những cái nhìn mới nên anh tiếp luôn:
- Bố thấy đấy, mọi người lo việc lớn lao. Ở nhà cứ quẩn quanh chẳng đâu vào đâu cả! A Mỷ xuống vùng thấp thì kêu nóng. Ở nhà một mình thì kêu buồn như góa bụa, cứ theo cái lý cũ quá! Cứ muốn con phải về là thế nào?
- À à... ừ, cũng phải! Tao sẽ bảo nó dần dần. Mai kia xa công trường, tao cũng thấy nhớ nữa là mày!...
Công trường đã chuyển sang một giai đoạn mới. Mùa xuân đã về rồi! Quán mải mê và cần mẫn làm việc cho đến một hôm bỏ kính hàn ra, nhìn lên các sườn núi thấy hoa ban đã nở trắng ngần cả đồi núi. Lòng Quán rộn lên nỗi nhớ quê nhà và vợ con. Bây giờ trên vùng cao đã ăn tết rồi. Tết Hmông sớm hơn tết ta gần một tháng. Bận quá không sao mà về được. Thư cho vợ hai, ba cái mà chẳng thấy xuống. Từ ngày ông cụ về đến nay cũng chẳng thấy tin tức gì. Tất cả lặng lờ như cái ống nước dựng xó bếp.
Đứng trên giàn giáo cao vút của những tháp cầu, Quán nhìn rõ mùa hoa xuân đang nở tầng tầng lớp lớp giữa nắng vàng rực rỡ. Mùa hoa nhắc Quán nhớ tới ngày hội Nào Cha năm xưa, anh đã hát tỏ tình cùng A Mỷ:
“... Hạt mưa sấm(1) qua hạt mưa bụi(2)
Không ướt tàu lá lau
Đêm nay ta nói với mình cạn lời
Mai, sáng lối
Ta lại làm tiếng sáo vang vang đỉnh núi...”
Rồi ngày cưới đến. Họ hàng đông đủ cả. Ông trưởng họ treo lên nhà Quán một tổ ong và chúc đôi vợ chồng trẻ sinh con đẻ cái, chăn nuôi, trồng ngô lúa nhiều như tổ ong kia. Thế mà mình cứ đi biền biệt mãi, chắc vợ con sẽ cho mình là người không biết cầm đũa gắp, không biết cầm đũa gẩy.
Càng lên cao, dây cáp điện càng phải nối dài ra nên điện yếu hẳn đi, hàn khó quá! Thời gian càng ngày càng gấp, khó khăn ngày một đẻ ra thêm. Mượn đâu cho ra máy điện có công suất cao hơn bây giờ?
Quán xuống xem lại máy. Anh đi lùng quanh và giậm chân bực dọc như người đứng trốc tổ kiến. Miệng anh lẩm bẩm luôn luôn: làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ? Lũ sắp có rồi!
Một ngày phải nghỉ hàn, Quán buồn lắm. Anh ngẩn ngơ ra ra vào vào rồi trở về tổ sắt giúp cô Phàng uốn cốt thép lát mặt cầu. Cô Phàng giờ đã là tổ trưởng tổ sắt rồi. Quán chuyển từ tổ sắt sang tổ hàn. Chuyện tình cờ, làm cho cả đội cầu phải bàn tán mất mấy ngày. Ai cũng cứ tưởng Quán chỉ biết nghề sắt thôi. Đến hôm đội cầu tìm mãi không ra thợ hàn bậc 5 để hàn cốt thép cho tháp cầu, mọi người lo bấn lên. Đồng chí phó tiến sĩ phụ trách kỹ thuật của trung ương cử lên cứ nhất quyết phải có thợ bậc 5 mới được. Trong lúc mọi người đi chạy thợ, Quán đến gặp phòng kỹ thuật và xin kiểm tra tay nghề thợ hàn. Kết quả không ngờ. Ông phó tiến sĩ cứ ôm lấy anh mà nhấc bổng lên mãi.
Thấy anh buồn như sợi lanh ngâm nước, cô Phàng bàn:
- Hay ta đấu hai máy hàn nhỏ cho thành máy to?
- Không có phương tiện. Đấu trực tiếp, hỏng!
- Làm sao cho nó ngắn cáp tải đi nhỉ?
Nghe đến đó, Quán dừng tay làm việc và ngẫm nghĩ, lát sau anh chạy vụt đi, chẳng chào hỏi ai, làm cho mọi người ngỡ ngàng.
Quán về gọi ông đội trưởng đội cầu và ông phó tiến sĩ ra ngoài bàn bạc.
Mấy tiếng đồng hồ sau, máy phát điện để hàn lại nổ giòn giã trên một giàn giáo cao và vững chắc. Dây cáp tải ngắn lại. Ánh lửa hàn lại lóe sáng cả một vùng. Ông phó tiến sĩ lại ôm lấy người Quán mà lắc và khen:
- Anh nhỉ! Nhiệt tình làm cho tay ta trở thành khéo léo, óc ta thành thông minh, đúng không? Đúng quá đi chứ!
Cứ theo giàn giáo định vị, Quán hàn những thanh thép có đường kính khá lớn cho bốn trụ cầu. Từng thanh thép tròn lẳn và được đánh bóng như vừa lấy ở lò cán thép ra cứ nối tiếp nhau theo nhóm và lên cao mãi.
Quán làm việc quên cả giờ nghỉ. Lửa hàn lúc nào cũng sáng lóe quanh anh như một vòng hào quang rực rỡ. Ngọn lửa nhiệt huyết ấy đang nối liền những thanh thép thành một khối để dựng lên bên sông những tháp cầu vĩnh cửu sừng sững như một đài kỷ niệm. Mỗi khi cầm mỏ hàn lên tay, Quán lại nhớ tới người thầy dạy nghề cho mình. Đó là đồng chí đại đội trưởng của đơn vị. Hồi ấy, đơn vị trụ bến phà sông Gianh. Đại đội trưởng đã dạy anh hàn tỉ mỉ, đã rèn luyện và kết nạp anh vào Đảng. Có lần nằm trong hầm anh đã tâm sự với Quán: “Chỉ sợ “tạnh” sớm quá, chứ mình mà còn thì tha hồ khó khăn, tha hồ vất vả, tha hồ bom đạn Mỹ. Cứ thử thách đi, ta chấp nhận tất cả!” Anh đã làm đúng như thế cho đến ngày “nằm” lại bên bờ một con sông lạ bên kia dãy Trường Sơn. Hôm nay, đứng trên giàn giáo để xây dựng quê hương, Quán biết rằng gian khổ, hy sinh, đổ mồ hôi, sôi nước mắt cũng không kém trong chiến đấu. Nhưng bản thân mình so với những người đã nằm xuống kia chưa thấm vào đâu cả. Mình còn nhàn quá! Còn nhàn quá! Phải nhanh chóng giải quyết việc nhà để làm tốt công tác xây dựng quê hương.
- Quán ơi! Quán à! Mày điếc cả tai, lại điếc cả mắt à? Mày không thấy tao à?
Quán bỏ kính hàn ra, nhưng vẫn còn lóa mắt, chưa nhìn thấy bố. Anh loay hoay nhìn xuống chỗ gọi và định thần lại, reo to:
- Bố lại xuống thăm con ạ!
- Đi làm cho tao khẩu súng đi!
- Đợi hết giờ đã chứ! Vợ con có xuống không ạ?
- Có!
- Thế đâu rồi?
- Thì mày cũng phải xuống để nói chuyện với tao đã nào! Cứ ở trên ấy, hừ hừ...
Con ngựa ô phải đứng đợi lâu quá, nó bồn chồn chỉ muốn tung vó lao đi cho thỏa chí. Ông Giàng A Tăng vuốt râu tự hào nhìn đứa con trên giàn giáo và lòng ông rộn vang tiếng máy.
A Mỷ đi dân công và xuống thăm chồng giữa lúc công trường đang ở vào thời kỳ nước rút. Quán cố hàn cho xong tháp cầu cuối cùng để cho kịp đổ bê-tông.
Tuy còn là mùa xuân nhưng đã nghe ì ầm tiếng sấm phía chân trời xa vẳng lại. Những trận mưa rào đã được báo hiệu. Một con ve sầu trước mùa kêu lanh lảnh suốt ngày như tiếng cưa máy cưa vào thời gian giục giã.
Đồng chí đội trưởng bảo Quán:
- Ở nhà bàn bạc với chị ấy cho ổn đi đã!
Quán cười bẽn lẽn:
- Đâu khắc vào đó, thủ trưởng ạ!
Chuyện gia đình nói với nhau lúc nào chả được. Quán không muốn vì việc mình mà làm ảnh hưởng đến cả một hệ thống công trình đang làm việc hối hả.
Công trường thu xếp cho A Mỷ làm việc ở tổ sắt cùng với cô Phàng. Ở đó, A Mỷ chỉ việc cạo gỉ và đánh bóng những thanh thép để chuẩn bị đem đi hàn trụ cầu. Công việc tưởng như nhàn, nhưng lại rất quan trọng, phải tỉ mỉ và kỳ công. Vài ngày sau, A Mỷ dần quen với công việc. Chị đứng thoải mái cầm bàn chải sắt chà xát vào những thanh thép rồi lại lấy dao cạo gỉ, sau đó lấy giẻ lau sạch bóng.
Dáng người mẹ một con ấy trông có hơi đẫy, nhưng vẫn còn săm se khỏe mạnh, đầy sức lực của tuổi trẻ. Những bắp tay tròn lẳn, trắng như men sứ làm việc thoăn thoắt. Mái tóc vấn trần không đội khăn để lộ ra một vầng trán rộng với khuôn mặt hơi dài, mũi thẳng, mắt sáng như nhìn có tia.
A Mỷ vừa làm việc, vừa nói chuyện với cô Phàng. Giọng chị nhẹ như một hơi thở lướt và kéo dài ở âm cuối nên du dương như hát:
- Cô Phàng ơi, cạo sắt cẩn thận như làm sạch củ mài ấy nhỉ!
- Còn hơn ấy! Hồi anh Quán dạy em, anh ấy dặn đi dặn lại phải làm thật kỹ việc này đấy!
- Sao vậy, cô Phàng? Lúc đổ bê-tông, nó che đi hết, có ai nhìn thấy đâu mà sợ!
Phàng dừng tay, đầu nghiêng nghiêng như một con chim non rồi giải thích cho A Mỷ:
- Vì thế nên cũng phải cẩn thận, chị ạ! Nếu để nó gỉ, nước ở bê-tông ngấm vào càng làm cho nó chóng gỉ hơn, và nó sẽ gỉ cho đến khi nào hết thanh thép đó mới thôi. Lúc đó cột bê-tông tự nhiên mất cốt thép và trở thành rỗng, trụ cầu sẽ giảm độ bền!
A Mỷ lại cặm cụi làm việc. Phàng ngắm chị thấy mến yêu và kính trọng chị hơn. Cô hỏi khẽ:
- Sao chị xuống thăm anh chậm thế?
A Mỷ cười ngượng ngùng:
- Cũng một phần tại ông cụ đấy! Đi dân công về, cụ không giục tôi đi gọi anh Quán về nữa, mà lại bảo: “Mày ở nhà cùng hợp tác xã làm cho xong vụ này đã, xuống thăm nó sau. Quán nó bận lắm, xuống chậm ngày nào hay ngày đó!”
Sau những giờ làm ca, cô Phàng dẫn A Mỷ đi xem các loại máy móc làm việc, cho A Mỷ đi nhờ ô tô về tỉnh xem chiếu bóng. Những buổi đội cầu tổ chức văn nghệ, cô Phàng đều kéo chị đi và đưa chị lên sân khấu thổi một khúc dân ca bằng đàn môi. Cuộc sống của tuổi trẻ mới mẻ ùa vào nhanh chóng chiếm lấy những tâm hồn lành mạnh. A Mỷ đã thấy yêu cuộc sống công nhân và ước ao được như cô Phàng: “ừ nhỉ, sao lâu nay ta không nghĩ đến điều đó?”
Mấy hôm nay A Mỷ rất mủi lòng và thương Quán. Trên giàn giáo cao gần hai chục mét, Quán hàn suốt hai ca liền, thỉnh thoảng có hôm ba ca. Trên cao gió thổi lộng óc. Dòng sông Lung Sa cuốn lên vì gió. Mỗi hôm hết ca về nghỉ, người Quán mệt nhoài. Có lần anh về buồng thì gà rừng đã xao xác gáy ngoài nương. Da mặt anh đã mai mái. Hai mắt hơi trũng vào bao quanh hố mắt một quầng thâm mờ. Anh nằm ngủ trông vất vả quá. Chân tay quăng quật ra tứ phía. Trong lòng còn ngổn ngang những suy tư, những việc này nọ. Anh biết nén đi, bình lặng làm việc cho quê hương, cho công trình cầu đang ở vào thời điểm nút của thời gian cho phép.
A Mỷ ngồi nhìn anh ngủ, trong lòng rộn bao suy nghĩ và ước mơ. Chị cũng giống bố chồng, bị cuộc sống công nghiệp làm cho say mê. Ở chị, còn có niềm tự hào nữa. Đêm đêm, trên giàn giáo cao cao, Quán biết làm cho ánh lửa sáng khắp cả một vùng. Ánh sáng ấy, chưa ai thấy có trong các cửa hàng thợ rèn, thợ bạc ở chợ huyện. Lạ quá, cứ như tia chớp của trời đất vậy.
Khi anh tỉnh dậy, A Mỷ hỏi:
- Đội cầu còn lấy người làm công nhân không?
Ông Giàng A Tăng nghe các con bàn, cũng hào hứng:
- Tao cũng vui lòng đấy! Liệu tao đi có được không?
A Mỷ theo bố chồng về xã làm giấy tờ. Hôm xuống nhận việc thì bốn tháp cầu đã đổ bê-tông xong và đang tưới nước nóng cho tăng độ đông kết. Bên bờ sông bây giờ sừng sững những tháp cầu sánh tầm cao với núi. Những thanh thép, những mối hàn chắc chắn đã ẩn náu trong kia để giữ gìn sự vững chắc. Không ai nhìn thấy nó nữa. Chỉ thấy những tháp cầu uy nghi như tượng đài.
Người ra đỡ hòm quần áo cho A Mỷ không phải Quán, mà là cô Phàng. Cô an ủi A Mỷ:
- Chị thông cảm nhé! Anh ấy đi nhận công trình mới rồi! Độ tháng nữa chị em mình lại tới bờ một con sông khác và lại dựng những tháp cầu!...
Từ đó, vợ chồng A Mỷ theo đội cầu đi suốt. Họ làm nòng cốt cho những cặp vợ chồng khác ra đi tiếp để xây dựng quê hương vùng cao. Tấm lòng chân thật và nhiệt tình của họ liên tiếp hiện lên cùng với những tháp cầu bên bờ các con sông.
Sông Đà - 1975
BNK.
Nguồn: Bùi Nguyên Khiết - Bóng dáng thân yêu. NXB Hội Nhà văn, 2004.
sachvan.vn
|