Đã lấy máu xương đền nợ nước
Chớ đem thành bại luận anh hùng
Chiều, nắng vàng hiu hắt. Chiều thôn quê vắng lặng. Thôn xóm tiêu điều sau một cuộc tang thương. Nhiều người bị giết, nhiều người bỏ làng, bỏ xóm ra đi. Bọn lính làng rầm rập ngoài đường. Từng đàn người bị xỏ tay cột thành xâu, lôi đi trên đường, máu me tơi tả.
Cô Bảy Lánh ẵm con ngồi trong nhà dì Chín ở ấp Bầu Dã. Cô bỏ nhà trốn qua đây đã mấy hôm rồi. Chồng cô, anh Hai Dâu cũng trốn về miệt Bầu Cút trên năm ngày nay, không biết lành dữ thế nào. Bác Bảy Sáng cũng biệt tăm, dượng Chín Bỉnh cũng biệt tích. Bà con bơ vơ như rắn mất đầu. Quanh mình ngày đêm bọn mật thám chó săn, bọn lính làng phản phúc hoành hành, bắt bớ, cướp bóc, bắn giết, hãm hiếp.
Cô Bảy nhớ lại những ngày hạnh phúc đã qua; những ngày quân thù rệu rã, khiếp sợ, những ngày hầu như mình được làm chủ lấy mình, những ngày người dân nghèo được sống sung sướng trong vòng tay của Đảng, những ngày mà trong trái tim mỗi người chói rực một mặt trời hy vọng. Những ngày Nam Kỳ tiền khởi nghĩa.
Còn giờ đây, tuy giữa ban ngày mà trước mắt chỉ có một màu đen u tối. Hai hàng nước mắt nóng hổi bỗng tuôn trào và lăn dài trên má. Cô Bảy Lánh siết chặt con nhỏ vào lòng, gục đầu âm thầm nức nở.
Bỗng tiếng mõ vang lên dội dội: Cum! Cum! Cum! Cum! Cum! Cum!.
Tiếng mõ hồi một. Tiếng mõ đe dọa thảng thốt như tiếng gọi của tử thần.
Xen vào tiếng mõ là tiếng loa nhức nhối xói vào tai: “Nghe đây! Nghe đây! Tất cả dân làng dân ấp phải cấp tốc tề tựu trước trạm canh để đi truy lùng Cộng sản! Cấp tốc! Cấp tốc! Ai chậm trễ, ai vắng mặt sẽ bị trừng trị! Nghe đây! Nghe đây!”.
Cả làng nhốn nháo. Trong nhà, người này ngó người kia, mặt xanh như tàu lá. Bầy chó hoang ốm đói cũng len lén chạy trốn trong những lùm chuối sau hè. Vợ chồng cha con xầm xì bàn tán, rồi tất cả những người đàn ông riu ríu đi ra trước trạm canh, mặt gầm xuống đất.
Tiếng mõ mỗi lúc một vang xa. Tiếng loa mỗi lúc một vang xa, nối tiếp từ làng này sang làng khác.
Trong vòng một tiếng đồng hồ, chúng đã tập họp được cả ngàn dân. Chúng ra lịnh cho tất cả trai tráng nắm tay nhau lại thành một vòng tròn lớn, bao vây cả khu rừng cao su Bàu Cút.
Cô Bảy ẵm con đi tới đi lui trong buồng, gan ruột cồn cào phập phồng lo lắng. Cô tự hỏi: “Chúng vây bắt ai đây? Phải là người quan trọng lắm chúng mới huy động dân chúng cả làng, cả tổng”.
Bỗng dì Chín bước vào, lấm lét.
Cô Bảy Lánh hỏi nhỏ nhỏ: “Có chuyện gì vậy dì Chín?”.
- Tao cũng không rõ. - Dì Chín trả lời - Nghe nói mấy đứa nhỏ thả trâu trong rừng cao su, nó gặp mấy người có vẻ đói khát lắm. Mấy ông đưa tiền nhờ tụi nó ra xóm mua bánh tráng. Tụi nó ra quán dì Tư Nhớ mua mấy ràng bánh tráng. Rủi ro lại gặp thằng hương quản Dữ. Thằng này đánh hơi thấy có chuyện lạ liền bắt mấy đứa nhỏ đánh đập tra khảo. Mấy thằng nhỏ chịu đòn không thấu liền khai sạch những gì nó thấy trong rừng. Nó nói mấy bữa trước trong rừng người ta tựu về đông vui lắm, bữa nay đã tản đi đâu hết, chỉ còn có mấy người có gươm có súng. Tụi lính làng đề quyết đó là Cộng sản đang ẩn trốn nên quyết vây bắt lập công. Bây giờ tụi nó đang huy động trai tráng khắp ba bốn tổng. Tao lo quá!
Cô Bảy Lánh càng chết điếng trong lòng. Nghe đâu dượng Chín Bỉnh và anh Hai Dâu đều trốn trong rừng Bàu Cút, Bàu Kín.
*
* *
Trong rừng cao su Bàu Cút ông Chín Bỉnh nghe tiếng mõ hồi một vang vang thì bất giác giật mình. Ông đứng bật dậy: “Chắc có biến!”.
Đại bộ phận nghĩa quân đều đã phân tán cả rồi. Trong rừng giờ này chỉ còn có ông Chín Bỉnh và bốn người tự vệ thân tín, võ nghệ cao cường, ông Chín có trách nhiệm bám lại chiến trường để nắm tình hình dân chúng và khi cần thiết thì chỉ đạo ứng phó.
Mấy hôm đầu, bà con cô bác có tổ chức tiếp tế cơm nước đầy đủ.
Từ hôm qua đến nay, quân địch lùng sục, tra xét, bắt bớ gắt gao quá, bà con không tổ chức tiếp tế được. Các ba các má, các chị ngó hướng rừng cao su mà rưng rưng nước mắt.
Ban chiều, khi anh em định nhờ các cháu chăn trâu đi mua bánh tráng, ông Chín đã có ý can ngăn, nhưng rồi thấy anh em đói quá, cuối cùng ông cũng xuôi theo. Ông không ngờ một phút yếu mềm của người chỉ huy đã dẫn đến tai hại dường ấy.
“Giờ chắc chúng nó đang bao rừng”. Ông Chín Bỉnh đoán như thế và sự thật cũng đúng như thế. Biết rõ rằng tai họa đang đến, nhưng ông Chín không hề rối trí. Đại bộ phận nghĩa quân đã rút về miệt rừng già.
Ông Chín gọi bốn đồng chí tự vệ đến ngồi quanh mình sau một chòm gai rậm bên gốc cao su, cùng nhau bàn bạc. Ông trầm tĩnh nói: “Chắc rằng quân địch đã đánh hơi được chúng ta và đang huy động nhân dân vây bắt. Việc này thật cũng chẳng có chi lạ. Đây là một trong những tình huống tôi đã dự liệu từ trước, và đã có kế hoạch ứng phó.”.
Ông dừng lại trong giây lát, nhìn thẳng vào mặt từng đồng chí, tha thiết dịu dàng, rồi ông nói tiếp: “Các đồng chí! Nếu ta tập trung lại, quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng thì rồi tất cả nếu không hy sinh thì cũng bị bắt. Nào ta có sợ gì hy sinh nhưng hy sinh như thế là vô ích. Bây giờ các đồng chí hãy tản ra mỗi người một góc, tìm bụi rậm mà ẩn núp. Một mình tôi sẽ đứng ra đương cự với giặc. Chúng sẽ tập trung sức vây bắt tôi mà không quan tâm đến các đồng chí. Và tôi tin chắc rằng, bà con cô bác bị giặc lùa đi lùng bắt chúng ta đây, nếu như có ai trông thấy các đồng chí thì người ta cũng sẽ mắt lấp tai ngơ. Sống lâu ngày trong dân, tôi hiểu rõ, ngoài bọn mật thám, bọn hội tề, bọn chúa đất ác ôn, người dân nghèo khổ không ai nỡ hại người yêu nước”. Ông ngừng một giây, nét mặt bỗng đanh lại: “Tôi sẽ chống cự đến lúc sụp mặt trời. Bấy giờ lợi dụng đêm tối, các đồng chí sẽ rút ra khỏi vòng vây, lui về mạn rừng già, ẩn náu tạm thời để bảo toàn lực lượng”.
Tất cả bỗng nhao nhao phản đối:
- Đại ca nói như thế là sai rồi! Anh đã cùng chúng tôi uống máu ăn thề đồng sanh, đồng tử. Bây giờ tới lúc tử sinh, sao anh lại muốn chết một mình? Anh em chúng tôi thề quyết cùng anh chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng. Giết được năm ba thằng giặc rồi có ngã xuống cũng mát lòng, hả dạ. Từ bao nhiêu năm nay đại ca đã cưu mang chúng tôi, vì chúng tôi mà anh đã bao phen vào ra sanh tử. Nay được chết cùng đại ca, được chết bên cạnh đại ca há chẳng phải là điều sung sướng hay sao?
Ông Chín Bỉnh bỗng sa nước mắt:
- “Các đồng chí! Tôi vẫn biết các đồng chí đều là những trang nghĩa khí, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Giờ phút này các đồng chí lại gọi tôi là đại ca và xem mình là tiểu đệ như cái ngày đầu chúng ta chích máu ăn thề, kết tình huynh đệ, thề đồng sinh đồng tử, diệt kẻ ác, cứu người lành, nguyện xóa bớt nỗi đau dưới cõi trần. Nhưng các đồng chí ơi, đã từ lâu rồi chúng ta không còn là đại ca và tiểu đệ. Chúng ta đã thành những chiến sĩ cách mạng một lòng vì nước vì dân. Cái nghĩa khí chúng ta không phải là cái nghĩa khí nhỏ hẹp của những người chỉ biết vì nhau mà chết, mà là cái nghĩa khí lớn lao của những người chiến sĩ cách mạng biết vì Tổ quốc, vì nhân dân mà hy sinh xương máu. Hôm nay tôi có chết, đó là tôi vì nhân dân mà chết. Hôm nay các đồng chí có sống ấy là các đồng chí vì nhân dân mà phải sống. Lời nói của tôi bây giờ không chỉ là lời nói của anh em bè bạn, mà đây là lịnh của người chỉ huy, là lịnh của cách mạng, của nhân dân.”.
Đã nghe tiếng la hét và mấy tiếng súng nổ ở sát mé rừng. Ông Chín Bỉnh đứng phắt dậy:
- Thôi ta hãy ôm nhau lần cuối cùng rồi chia tay vĩnh biệt. Ông Chín Bỉnh ôm từng chiến sĩ vào lòng. Anh em khóc rống cả lên. Ông Chín Bỉnh cũng đầm đìa nước mắt. Rồi ông bước lùi lại, xô anh em ra, kiên quyết: “Thôi! Thời gian cấp bách lắm rồi, hãy chấp hành mệnh lệnh! Vĩnh biệt các em”.
Nói thế rồi ông xoay lưng, từng bước, từng bước tiến về phía bìa rừng.
*
* *
Ông Chín Bỉnh đi chầm chậm về hướng có tiếng loa vang. Ông bước đi không ngoảnh lại. Ông đoán rằng bọn lính làng, bọn đầu sỏ ác ôn tập trung nơi đó.
Gần đến bìa rừng, nhìn qua kẽ lá ông thấy đồng bào bao quanh đen nghẹt. Người nào người nấy đều có vẻ mệt mỏi, ủ rũ, buồn rầu.
“Bà con cũng khổ sở vì giặc lắm rồi” - Ông Chín suy nghĩ, lòng xót xa, chua chát.
Tiếng loa lại vang vang: “Hãy nghe đây! Nghe đây! Hỡi dân làng, dân ấp! Bọn Cộng sản đang thế cùng lực kiệt, chúng đang chết đói, chết khát trong rừng! Đồng bào hãy xông vào mà bắt chúng! Ai bắt được Cộng sản sẽ được trọng thưởng! Ai giết được Cộng sản sẽ được trọng thưởng! Nghe đây nghe đây!”.
Tiếng loa thúc giục, xô đẩy, nhưng đồng bào đâu vẫn đứng đấy im lìm. Bỗng có những tiếng quát tháo dữ dội và tiếng roi gậy chan chát.
“Chúng lại hành hạ bà con” - Ông Chín Bỉnh nghe lòng thắt lại.
Ông bước lên mấy bước, nép vào một gốc cao su, đưa nòng súng lên trời nổ liền ba phát. Tiếng súng nổ chát chúa làm bà con hốt hoảng, bỏ chạy nháo nhào. Bọn lính làng kinh hãi, lớp nằm rạp xuống đất, lớp chen lấn tháo chạy. Ông Chín Bỉnh cất tiếng vang trầm, và êm ấm: “Bà con cô bác! Chín Bỉnh đây! Chín Bỉnh đây! Bà con có nghe không? Chín Bỉnh có vũ khí trong tay nhưng vũ khí này không bao giờ bắn vào bà con cô bác”.
Rồi ông quay sang bọn lính làng mật thám. Giọng của ông đanh lại, sang sảng như sấm rền, như nổ lửa như thép gang:
- “Hỡi bè lũ tay sai của giặc! Tao là Chín Bỉnh đây. Tao chỉ hận là chưa quét sạch được lũ xâm lăng để cởi xiềng nô lệ cho đồng bào. Tao chỉ tiếc là chưa phanh thây xẻ thịt được bọn bây để trả thù cho bà con cô bác. Nhưng thất bại hôm nay sẽ là thắng lợi của ngày mai.”.
Bỗng “Đoàng! Đoàng! Đoàng!”. Mấy tiếng súng nổ. Đạn bay cắm phập vào gốc cao su nơi ông Chín đứng núp. Rồi tiếng loa lại vang lên:
- “Hỡi dân làng! Dân ấp! Hãy xông lên bắt cho được tên Chín Bỉnh! Đầu sỏ Cộng sản! Ai bắt được Chín Bỉnh sẽ được trọng thưởng! Ai giết được Chín Bỉnh sẽ được trọng thưởng! Hãy tiến lên!”.
Không một ai nhúc nhích. Lại tiếng roi, tiếng gậy vun vút. Bà con rên rỉ, kêu than nhưng vẫn không một ai bước lên nửa bước!
Từ trong miệng loa, một giọng đanh ác bỗng vanh lên: “Ta là Cai tổng Long Tuy Hạ, ta ra lệnh: dân làng dân ấp hãy xông lên bắt giặc Cộng sản. Ta sẽ đếm ba tiếng: “Một. Hai. Ba” Ai không xông tới, lòng kẻ đó còn hướng về giặc cộng, súng của ta sẽ bắn nát đầu - Chúng bây hãy liệu lấy hồn. Phải ra sức bắt cho được tên Chín Bỉnh”.
Nó ngưng một chút rồi bắt đầu đếm: “Một!”.
“Chúng sẽ bắn giết đồng bào đây! Không thể để máu đồng bào vô tội phải tuôn trào”. Ông Chín Bỉnh nghĩ thế rồi nâng súng về phía loa vang: “Đoàng!” Tiếng loa im bặt.
Chỉ còn nghe tiếng Chín Bỉnh vang dội cả khu rừng: “Hỡi lũ tay sai tàn ác! Chín Bỉnh đây! Chúng bay hãy cùng Chín Bỉnh đây đọ sức! Đồng bào vô tội, bây đừng giết hại bà con!”. Đến đây, Chín Bỉnh bỗng nấc lên - giọng nói của ông như đầm trong nước mắt.
Lũ giặc biết lòng ông quá đau thương vì nỗi khổ của đồng bào. Tên Cai tổng Long Tuy Hạ đã chuồn đâu mất, một tên nào đó lại hung hãn gào vang: “Ta đếm: Một! Hai! Ba. Ai không xông lên, kẻ đó sẽ mất mạng!” - Một.
- Hai!.
- Ba!
Không một ai nhúc nhích! Một loạt súng khô khốc nổ vào giữa đám đồng bào! Những tiếng kêu như xé ruột: “Trời ơi! Chết tôi rồi! Chết tôi rồi!”.
Tiếng khóc than, tiếng rên siết nổi lên. Ông Chín Bỉnh nghe đau nhói trong tim. Nghe lòng như phực lửa.
Không còn tự kiềm chế được nữa, ông bước ra thét lớn:
- “Quân dã man! Đừng giết hại đồng bào! Chín Bỉnh đây! Hãy cùng ta đọ sức”. Trong một giây xúc động và sơ hở, ông đã bước ra khỏi gốc cao su nơi ông ẩn núp.
Kẻ thù chờ có thế.
Một loạt súng nổ vang! Chín Bỉnh nghe đau nhói ở vai! Ông chờn vờn ngã xuống rồi gượng lại, đứng lên, tựa vào gốc cao su! Máu trào đỏ cả ngực áo!
Bà con bỗng thét lên: “Trời ơi! Chú Chín bị thương rồi!”. “Nó bắn chết chú Chín rồi!”. Có mấy người chạy vượt tới bên ông. Họ chạy vượt lên không phải để bắt ông mà để đỡ ông. Ông mỉm cười, dang rộng hai tay chờn vờn bước tới như muốn ôm bà con. Lại một loạt súng: “Đùng! Đùng! Đùng!”. Ông Chín Bỉnh nẩy người lên ngã vật xuống miệng vẫn mỉm cười lẩm bẩm: “Vĩnh biệt! Vĩnh biệt bà con” và lan man trong lòng, ông còn suy nghĩ: “Chắc các đồng chí! Các tiểu đệ của ta đã thoát cả rồi!”.
Ông nằm bất động! Mặt ngửa lên vòm lá cao su xanh dịu, những tia nắng cuối ngày xuyên qua tán lá chiếu lên mặt ông rạng rỡ. Mái tóc và hàm râu của ông đã bạc trắng cả rồi! Có lẽ mới bạc từ mấy hôm nay.
Tất cả bà con bỗng quỳ xuống trước thi hài ông, đau thương nức nở.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007. |