Hết cháy lại dời
Với hơn một thế hệ người Sài Gòn, chợ Bến Thành là anh Bảy Chà và quảng cáo cho kem Hynos, là tiếng rao inh ỏi của khô cá thiều, là bảng báo điện tử diệu kỳ chạy bằng bóng đèn, là cầu vượt ngất ngưởng bên trên công trường Diên Hồng, là mùi khô mắm muối càri dầu thơm vải vóc xanh đỏ tím vàng, là bao sắc màu âm thanh mùi vị trộn lẫn tạo nên trong ký ức một không gian hỗn tạp mà hừng hực nhựa sống của đất Sài Gòn.
Chợ đã có trước khi người Pháp đến, nhưng khởi thuỷ nằm bên sông Bến Nghé, ở một bến cận thành Quy (thành Gia Định), nên có tên Bến Thành. Chợ nhóm vào khoảng giữa, tính từ cột cờ Thủ Ngữ đến đầu đường Nguyễn Huệ hiện nay (khi ấy còn là một con kênh). Sau trận binh lửa của Lê Văn Khôi, thành Quy bị triệt hạ, phố chợ này cũng không còn sầm uất. Năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định. Không lâu sau đó, chợ Bến Thành bốc cháy. Chợ làm bằng vật liệu thô sơ, cột tre mái lá nên đã bị thiêu huỷ hoàn toàn. Một năm sau, Pháp cho xây lại chợ ở quãng giữa đường Nguyễn Huệ ngày nay. Tháng 7.1870, chợ lại cháy, Toà đô chính Sài Gòn cấp một ngân khoản 70.000 quan để dựng lại chợ bằng sắt. Phố chợ thêm sầm uất vì là nơi trên bến dưới thuyền cho người lục tỉnh tới lui buôn bán. Trong bài Kỷ niệm lịch sử về Sài Gòn in trong tạp chí Excursions et Reconnaissances số 23 tháng 5 – 6 năm 1885, Trương Vĩnh Ký viết: “Cái chợ to nhất mà sự buôn bán nhộn nhịp nhất ở vào quãng từ cột cờ Thủ Ngữ đến tận đường Mac Mahon” (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Tờ báo Lục tỉnh Tân văn thời đó cũng thuê hai căn phố lầu trong khu này để tiện giao dịch với độc giả và phóng viên từ các tỉnh. Năm 1887, con kênh trước chợ bị lấp biến thành đại lộ Charner, khu chợ càng đông đúc với đủ các gian hàng của người Hoa, người Ấn, người Pháp. Chợ càng sầm uất thì càng đáng lo ngại vì đã cũ kỹ, nên đến năm 1911 chính quyền thuộc địa Pháp quyết định dời chợ về vị trí hiện nay, khi ấy còn là một cái ao sình lầy có tên Bồ Rệt (Marais Boresse), gần ga xe lửa đi Mỹ Tho. Khuôn viên chợ được giới hạn bốn mặt: nam là Place Cuniac (quảng trường Quách Thị Trang ngày nay), mặt bắc là đường d’Espagne, đông là Viénot, tây là Schroeder. Năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đổi tên các con đường này thành Lê Thánh Tôn, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Chợ do nhà thầu Brossard et Maupin (tiền thân của hãng gạch bông Thanh Danh) khởi công từ năm 1912, đến cuối tháng 3.1914 thì hoàn tất, lễ khánh thành chợ diễn ra suốt ba ngày đêm từ 17h ngày 28, kéo dài đến 30.3, với hơn 100.000 người tham dự!
Đến năm 1970, dân số thành phố Sài Gòn đã lên tới 4 triệu, ngôi chợ trung tâm được xây từ đầu thế kỷ 20 coi như lỗi thời, hội đồng thành phố mở cuộc thi vẽ đồ án kiến trúc để xây một ngôi chợ mới thật khang trang. Trong tám đồ án gửi tới dự thi, đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng đoạt giải nhất. Vị kiến trúc sư này đã tận dụng toàn thể diện tích ngôi chợ cũ gồm phần phía trước, cũng như khu bán trái cây phía sau, và xây thành nhiều tầng, có hầm để xe. Phía trước nóc chợ vẫn có một ngôi tháp mang dáng cũ nhưng cao đến 50m, phần trên của tháp sẽ là nhà hàng và phòng trà mở cửa ngày đêm. Các tầng lầu càng lên cao càng được nới rộng. Đây là một lề lối kiến trúc táo bạo, cần một kinh phí lên tới trên 2 tỉ đồng tiền Sài Gòn khi ấy, vượt quá mức ngân sách để có thể thành hiện thực.
Mãi đến ngày 1.7.1985, chợ Bến Thành mới được cải tạo và sửa chữa lớn, nhưng giữ nguyên dáng vẻ phía trước cùng với tháp đồng hồ. Chợ sửa xong vào ngày 25.8 cùng năm. Đến năm 1992, chợ được cải tạo hệ thống điện, và thay sạp gỗ bằng sạp sắt. Năm 1999 chợ được sửa hệ thống thoát nước, thay toàn bộ mái ngói bằng tôn. Do phải tận dụng tối đa diện tích sử dụng để có thể chứa gần 1.500 sạp trong một ngôi chợ chỉ được thiết kế 400 sạp, yếu tố mở ngày xưa dần không còn, chợ cũng không giữ được hành lang thông thoáng xung quanh mà thay vào đó là những mái tôn giả ngói, che kính bốn bề. May mắn là chiếc tháp đồng hồ vẫn nguyên dạng, cùng với những phù điêu mang hình ảnh chỉ dẫn cho từng ngành hàng bán ở mỗi cửa chợ – hai gia sản bất khả xâm phạm của chợ Bến Thành.
Từ dạo sửa chợ đến nay, thi thoảng lại rộ lên tin xây mới chợ Bến Thành, hay biến chợ thành trung tâm thương mại. Những năm 1990 có một số phương án đầu tư của các công ty Ý, Thái Lan mà trong đó chợ Bến Thành được xây dựng thành một cao ốc hàng chục tầng. Gần đây nhất là hồi tháng 5.2008, công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam (Tedi South) khi khoan lấy mẫu thăm dò địa chất chuẩn bị xây ga ngầm tuyến metro số 1 của TP.HCM tại hai cổng phía nam và tây chợ Bến Thành, đã làm tiểu thương ăn ngủ không yên. Không chỉ tiểu thương của chợ, cư dân thành phố và cả nước, thậm chí người Việt hải ngoại luôn tập trung nỗi lo của họ vào ngọn tháp đồng hồ đã trở thành hình ảnh biểu trưng của Sài Gòn, bởi mỗi chiếc đồng hồ ở đó từng đo những thời khắc lịch sử của thành phố phương Nam này. Nhiều người Việt tha phương đã xây lên những ngôi tháp đồng hồ tương tự của chợ Bến Thành ở những thành phố lạnh lẽo mà họ lạc bước tới, hòng tìm thấy chút hơi ấm của quê nhà. Ước mơ của họ, đôi khi chỉ là được một lần trở về để rảo bước cho trọn 136m đường từ cửa nam ra cửa bắc, 96m từ cửa đông sang cửa tây của chợ Bến Thành, được thả hết ngũ quan va đập xô bồ với những gì chỉ có ở đất Việt...
Họ đâu biết rằng sẽ có lúc con cháu mình trở lại ngôi chợ này với cuốn guidebook “Hành tinh cô đơn” trên tay, hay lớ ngớ trong một đoàn du lịch được hướng dẫn bằng một thứ tiếng không phải là tiếng Việt.
Thương nhân đất vàng và vị thần bí ẩn
Ở chợ Bến Thành, từ “tiểu thương” giờ đây không còn thích hợp, mà họ xứng với danh xưng “thương nhân” hơn, từ cung cách mua bán đến giá trị sở hữu sạp. Đã qua rồi thời những bà già miệng móm mém nhai trầu tay phe phẩy quạt uể oải mời khách.
Thế hệ ấy đã qua đời, hoặc để sạp lại cho đời con, đời cháu kinh doanh. Như dì Mao đã mất, dì Tím mẹ Việt Nam anh hùng hay dì Hai Tiếng có mặt ở đây từ 50 năm trước nay quá già yếu không ra chợ nổi nữa. Nên truy nguyên nguồn gốc thì chẳng còn mấy sạp đáng gọi là “cố cựu”, bởi hầu hết đã đổi chủ, thay ngành hàng hoặc cho thuê (với giá từ 1.000 – 2.000 USD/tháng). Như sạp 916 gần cửa tây do bà Phạm Thị Lai bán rau cải từ năm 1950, đến 1986 sau khi sửa chợ bà Lai mất, con là Mai tiếp tục buôn bán hàng nhựa gia dụng và tạp phẩm, năm 2.000 đến nay cho thuê bán hàng lưu niệm. Sạp 918 của bà Đỗ Thị Dô bán bếp lò, hàng sành sứ Bình Dương cũng vậy: đến năm 2006 bà giao lại cho cháu nội là Nguyễn Thị Thuỳ Lan kinh doanh. Hay sạp 944 của bà Bồ Thị Cục xưa bán gạo, từ 1986 giao cho con gái là Lê Thanh Hương Mai kinh doanh giấy vệ sinh, hoá chất tẩy rửa...
Nổi lên thay thế là những tên tuổi mới, được PR bằng các công cụ internet hẳn hoi, như Bé Chè, như Bún suông cô Mai... Thế hệ này quen gọi khách là “sir”, biết chào mời khách bất kể chủng tộc nào bằng tiếng Anh, Pháp, Nhật, Hàn... Mà lại không phải tiếng bồi, vì nhiều người có bằng đại học ngoại ngữ hẳn hoi, được chủ sạp thuê với mức lương từ 2,5 – 3,5 triệu đồng/tháng.
Câu “tấc đấc tấc vàng” khi vào chợ Bến Thành thì đúng cả hai nghĩa: giá sạp ở đây cao nhất nước, và nhất cả châu Á không biết chừng. Giá sang nhượng tuỳ vào vị trí trong trục đường chữ thập của chợ và ngành hàng, vài con số sau đây tuy có thể là “giá ảo” nhưng vẫn đáng tham khảo: giá cao nhất là khu pha lê: 200 – 300 lượng vàng; lưu niệm: 80 – 200 lượng; giày dép: 80 – 100 lượng; ăn uống: 40 lượng; quần áo may sẵn, vải: 40 – 50 lượng; khu rau cải: 15 – 25 lượng.
Thậm chí giá sạp chợ đêm bên ngoài (chỉ là một miếng đất quy ước là “sạp” trong khoảng thời gian từ 19h – 23h45 và sẽ biến mất vào ban ngày) mà giá sang nhượng cũng không dưới trăm triệu! Giá cả ấy xứng đáng với ngôi chợ hàng đầu của 18 chợ đầu mối, mấy năm nay còn gánh thêm chức năng là địa điểm tham quan cho khách du lịch nước ngoài. Thêm một lý do để chợ cấm hẳn thuốc lá.
Không khói thuốc, chợ cũng vắng cả mùi nhang khói cố hữu của cõi bán buôn. Hỏi ra mới biết vì hai phen phát hoả mà sau khi xây mới vào năm 1914, nơi thờ cúng của tiểu thương được đưa lên cao, vào trong tháp đồng hồ, và tồn tại cho đến nay.
Đường đi lên gian thờ nằm ở cánh phải cửa nam của chợ, chật hẹp, cũ kỹ và bày biện thô sơ không tương xứng với ngôi chị cả của 238 chợ Sài thành. Bài vị của “thần chợ” chỉ được ghi vỏn vẹn “Linh thần”, với pho tượng nhỏ bằng gỗ đỏ mang hình dáng của một thổ thần.
Không có tài liệu nào nói về vị thần bí ẩn này. Theo ông Phạm Văn Tân – phó ban quản lý chợ Bến Thành, đó có thể là danh tướng Nguyễn Hữu Cảnh – người mở cõi phương Nam, nhưng chỉ là suy đoán bởi nhân dáng tượng trông khá phồn thực với chiếc bụng phệ phơi trần. Ông Nguyễn Văn Hoành, 58 tuổi, người nhận là “trụ trì” của gian thờ này, cũng không cho biết gì hơn ngoài thông tin: cha ông là Nguyễn Văn Quân lập ra nơi thờ thần chợ từ khi chợ mới khánh thành; năm 1951 ông lọt lòng mẹ (nghĩa đen) ngay tại nơi này và sau khi cha mất thì ông “kế vị”, cùng một người nữa tên Khánh chăm sóc thần chợ để mỗi cuối năm thì mở thùng phước thiện hưởng lộc. Dù chưa rõ tung tích nhưng còn có tượng để thờ, rõ ràng tiểu thương chợ Bến Thành may mắn hơn đồng nghiệp ở chợ Bình Tây – bao năm cúng vái một cái bệ gạch, còn tượng Quách Đàm thì được cất giữ cách đó cả chục cây số.
Trong nhang khói mịt mù của mùa lễ tháng bảy, trông vị thần chợ bé nhỏ vẫn tự tại với nụ cười an nhiên bất chấp mọi bể dâu, chợt nhớ câu ca xưa:
Chợ Bến Thành dời đổi Người sao khỏi hợp tan Xa gần giữ nghĩa tào khang Chớ ham nơi quyền quý mà đá vàng phụ nhau...
Chợ Bến Thành mở cửa từ 7h – 19h, chợ đêm mở từ 19h – 23h45. Trung bình mỗi ngày có 10.000 khách vào ra chợ. Chợ có 1.437 sạp, 6.000 tiểu thương, 11 doanh nghiệp. Ngành kinh doanh nhiều sạp nhất là thực phẩm tươi sống, trái cây, hoa tươi: 350 sạp; quần áo mùng mền: 320; vải sợi: 175; tạp phẩm: 173; công nghệ phẩm: 129; ăn uống: 80; giày dép: 80; sành sứ: 50; dụng cụ gia đình: 40; mỹ phẩm: 30; ít nhất là vàng bạc: 10.
Diện tích chợ: 13.056m2; trong đó diện tích sạp: 5.276m2, lối đi 6.116m2, hành lang – văn phòng – nhà vệ sinh: 1.664m2. Đường chữ thập rộng 5m, từ cửa nam đến cửa bắc có 22 “hẻm”, đông xuống tây có 9 “hẻm”. Chợ có 16 cửa.
Hữu Bảo
Nguồn: sgtt.com.vn
|