tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
28.12.2009
Nguyễn Liên
Người lính tiểu đoàn Êđê năm xưa

                         Kính tặng anh hùng LLVT Lê Hữu Kiển


Đã có nhiều bài viết về ông, người lính thuộc trung đoàn Lam Sơn, xứ Thanh “Nam Tiến” trở thành chiến sĩ tiểu đoàn Êđê Dak Lak, từng gắn bó với đồng bào Tây Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Một  người bước ra từ khói lửa chiến tranh, thân thể bị đạn bom xới đi 72% sức khỏe, nhưng ông lại xông vào cuộc chiến mới: chiến thắng bệnh tật, chiến thắng đói nghèo. Rồi ông trở thành người sản xuất giỏi, từng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tặng Bằng khen về thành tích phát triển đàn ong mật ở Dak Lak. Hội Cựu chiến binh biểu dương điển hình về việc thành lập Câu lạc bộ Cựu chiến binh nuôi ong góp phần vào phong trào xóa đói giảm nghèo cho đồng đội… Đó là anh hùng lực lượng vũ trang Lê Hữu Kiển, nguyên chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Dak Lak.


Một người bạn cần có bài báo nói về cách mạng trên đất Tây Nguyên vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng 8 và Quốc kháng 2-9, bỗng tôi lại nhớ đến ông, một trong những người lính tiểu đoàn Êđê của Dak Lak được gặp Bác Hồ, và theo như ông nói thì: “Điều sung sướng nhất là suốt đời làm theo lời Bác”.


Chúng tôi đến căn nhà hai tầng của ông nằm trên đường Phan Chu Trinh, thành phố Buôn Ma Thuột mà không hẹn trước. May mắn gặp được ông đang ngồi trước bàn với chồng sách vở. Chỉ sợ như lần trước gặp được ông thật không dễ, lúc đi thăm đàn ong mật, khi ghé nhà đồng đội bàn cách làm kinh tế, có lần dẫn thân nhân liệt sĩ trở lại chiến trường xưa đi tìm hài cốt đồng đội hàng mấy ngày liền. “Chắc cụ đang viết hồi ký?”. Nghe chúng tôi đoán, ông cười xuề xòa: “Không phải đâu, đang làm bài tập, mình đang học bổ túc văn hóa!”. Rồi ông giãi bày, trước Cách mạng Tháng 8 nhà nghèo như ông làm sao được cắp sách tới trường học chữ, sau đó vào quân đội đi kháng chiến mới được học bổ túc văn hóa. Dần dà cũng có bằng tốt nghiệp cấp hai (lớp 7 hệ 10 năm). Nhưng bổ túc văn hóa chỉ học 3 môn chính thôi, đối với chương trình cải cách giáo dục bây giờ nhìn vào cứ mù tịt, không học thì làm sao biết mà dạy cháu chắt…


Không hiểu sao mỗi lần gặp ông, tôi cũng thấy ngỡ ngàng, kinh ngạc, trong ông luôn đau đáu một nỗi niềm trách nhiệm với cuộc sống. Nhìn dáng mảnh mai, tươi cười, ai bảo ông đã ở tuổi 82, ai cho ông là thương binh nặng. Bởi người quen cũ nên ông trò chuyện cởi mở. Lạ thay, bao giờ khởi đầu ông cũng nhắc tới tấm tình của đồng bào Tây Nguyên dành cho Cách mạng, có những kỷ niệm gắn bó với số phận ông không bao giờ quên. Ấy là lần ông đến gặp Mí Tấc, một cơ sở cách mạng ở buôn Sai (nay thuộc huyện Krông Pa, Gia Lai). Mí đã lấy nhọ nồi bôi lên mặt anh bộ đội Kiển, ấn xuống giường nằm đắp chăn giả làm người nhà bị đau ốm để che mắt bọn Tây. Lần khác đến buôn Hol (huyện Ma Drak) gặp địch phục kích bắn ông bị thương, đồng bào bí mật chuyển ông vào hang đá chăm sóc. Già làng Ay Tia vào rừng hái lá thuốc chữa trị vết thương và lẩy từng hạt bắp non nấu cháo cho cán bộ cách mạng ăn cả mấy tháng ròng. Thế rồi nhờ ở lòng tin của đồng bào với cách mạng, trung đội vũ trang tuyên truyền do ông Lê Hữu Kiển phụ trách đã biến cả dải đất M’Drăk giáp ranh với Khu 5 tự do thành căn cứ vững chắc của Cách mạng. Đồng bào khắp dải M’Drăk nghe theo bộ đội Kiển nổi dậy lau súng kíp, sửa dây ná, cùng bộ đôi đứng lên đánh đuổi giặc tây; đồn Ai Riêng cửa ngõ giữa đồng bằng với cao nguyên bị tiêu diệt. Thế rồi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.  Lê Hữu Kiển cùng tiểu đoàn 2 Êđê được lệnh tập kết ra miền Bắc. Lúc ấy Trung đoàn 120 được ra Bắc trang bị thêm kiến thức chính trị quân sự gồm có 4 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 1 lính Xê Đăng (Gia Lai); tiểu đoàn 2 Êđê (Dak Lak); tiểu đoàn 3 Re (Quảng Ngãi); tiểu đoàn 4 Trợ chiến hỗn hợp. Sau khi được rèn luyện học tập trên đất Nam Đàn, Nghệ An, cuối năm 1958 cả trung đoàn được lệnh ra Hà Nội.


Chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước, những người lính tập kết rồi đây sẽ lại được trở về với đồng bào của mình. Tiểu đoàn 2 lại trở về Dak Lak. Nhớ hôm nào đi tập kết, đồng bào quyết giữ ông lại: “Nó là con của người Êđê ta rồi, không cho đi nữa!”. Lê Hữu Kiển hứa với đồng bào: “Cùng đơn vi ra Bắc học tập thêm rồi sẽ quay trở lại!”. Mới đó mà đã 5 năm qua đi, anh đã có đủ thời gian lấy vợ, sinh con. Tuy vậy trong lòng anh không khỏi nguôi ngoai nhớ về vùng đất cao nguyên hoang sơ lắm nắng nhiều gió. Ở đấy có những gương mặt ân tình trong các buôn làng đồng bào Êđê, M’Nông ngong ngóng đợi, dúi cho anh bắp ngô nướng, củ sắn lùi như ngày nào.


 Hôm ấy có chiếc xe commăngca từ hướng nội thành Hà Nội sang qua phía Gia Lâm chạy vào đơn vị, đi thẳng tới phòng chỉ huy, ông Kiển mặc quân phục chỉnh tề sang Bộ Tư lệnh nhận nhiệm vụ.


Đã chuẩn bị cho việc nhận nhiệm vụ trở lại Tây Nguyên nhưng khi được thông báo sao tâm trạng cứ bồi hồi lạ Đã chuẩn bị cho việc nhận nhiệm vụ trở lại Tây lùng. Là người lính từng có bao lần nhận lệnh, thực hiện mệnh lệnh, chỉ có điều lần này lại trực tiếp sang Bộ Tư lệnh, có gì quan trọng chăng? Ông được đưa đến một căn phòng rộng lớn, ở đó đã có nhiều người đang ngồi, ông quen biết một số người cũng là chỉ huy ở các đơn vị khác. Họ cũng như ông, đợi nhận nhiệm vụ. Đang trò chuyện bỗng có tiếng reo: “Bác Hồ!”.


Căn phòng phút chốc im ắng rồi những tiếng hò reo vỡ òa. Trông Bác thật giản dị. Bác thăm hỏi từng người, đặc biệt những người quê ở miền Nam. Sau đó Bác hỏi mọi người:


- Các chú học hành thế nào?


Mọi người cùng đồng thanh:


- Thưa Bác, chúng cháu học phương thức, lập trường, quan điểm!


- Tốt rồi! – Bác căn dặn – Học tốt nhưng phải rèn luyện sức khoẻ cho tốt. Bác ngày nào cũng tập thể dục, chú ý rèn luyện đôi chân, nếu đi không đến nơi thì tất học đều hỏng.


Mọi người lại đồng thanh: “Vâng ạ!”. Bác ân cần như người cha căn dặn đứa con lúc đi xa, làm cách mạng phải biết tập hợp sức mạnh đoàn kết mới sớm hoàn thành. Bác nói với mọi người:


- Cho Bác gửi lời thăm hỏi anh em trong đơn vị. Anh em có nguyện vọng gì không?


Mọi người như được dịp kiến nghị:


- Anh em cán bộ chiến sỹ đơn vị muốn được gặp Bác trước lúc lên đường ạ!


- Bác cũng muốn như thế, nhưng còn Hiệp định Giơnevơ ràng buộc. Đi làm cách mạng có người hy sinh, người bị bắt, người giữ được khí tiết, người không giữ được khí tiết khai trước khi lên đường vào Nam, gặp Bác thì không được.


Nhưng rồi Bác gọi đồng chí Lê Đức Thọ và trung tướng Nguyễn Vịnh lại dặn: “Khi đón Tổng thống Xu-Các-Nô sang thăm nước ta, bố trí cho đơn vị đi làm nhiệm vụ đứng hàng trước để Bác chào anh em!”.


*


Ông Lê Hữu Kiển như vẫn còn nhớ không khí cảm động của buổi sáng hôm ấy: Bác giơ tay chào mọi người xong, Bác hạ tay xuống vẫy vẫy. Có ai đó trong hàng quân xúc động nói: “Bác đang vẫy chào anh em mình đấy”. Ai nấy đều rưng rưng nước mắt.


Trở lại chiến trường Tây Nguyên, cán bộ chiến sĩ người Êđê trở về sum họp với người thân. Còn Lê Hữu Kiển tạm biệt người vợ trẻ và hai đứa con nhỏ ở xã Quảng Ngọc, Quảng Xương, Thanh Hoá để lên đường làm nhiệm vụ của người lính giải phóng.


Hàng tháng trời, đội xây dựng cơ sở do Lê Hữu Kiển trực tiếp chỉ huy bí mật luồn rừng tiếp cận với từng gia đình đồng bào Êđê, M’nông quanh chân núi Chư Yang Sin. Những người lính Cụ Hồ thật thà tốt bụng đã “cùng ăn cùng ở cùng làm” với đồng bào. Chẳng mấy chốc buôn Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao trở thành vùng căn cứ cách mạng, nhiều trai tráng trở thành đội viên du kích, có người khí tiết kiên trung cho đến lúc hy sinh như Y Ơn (sau này được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang).


Giờ đây mỗi lần nhớ lại những ngày cách mạng lắm chông gai, ông vẫn còn phấn chấn tự tin vào lời của Bác : “Nhiệm vụ của các chú chưa cần đến vũ khí, mà nó ở trái tim, cái đầu, cái miệng!”. Khi ấy Ngô Đình Diệm mở chiến dịch khủng bố Fulro, gọi là “Phong trào 58”. Với cương vị trưởng ban quân sự B5, Lê Hữu Kiển hẹn Ama Năm, quận phó quận Lạc Thiện (huyện Lăk ngày nay) ra rừng gặp. A ma Năm khởi đầu bằng tiếng Pháp, Lê Hữu Kiển trả lời bằng tiếng Êđê, buộc Ama Năm phải nói bằng tiếng mẹ đẻ của mình: “Chúng tôi nhất trí cùng đánh Mỹ Diệm, khi thắng lợi có cho thành lập nhà nước Đêga không? Có cho theo đạo Tin Lành không? Con em chúng tôi có được nuôi ăn học không? Có cho chúng tôi dùng súng không? Cho đổi bạc Đông Dương không?” (khi ấy Diệm chỉ tổ chức đổi bạc trong một ngày). Tên Quận phó hỏi dồn thăm dò. Ông Kiển giải thích: “Đất nước ta là một làm sao lại phải có thêm một nhà nước nữa. Bác Hồ và Đảng luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, đi đạo không ngăn cấm. Các anh quyết tâm đánh Mỹ Diệm cần bao nhiêu súng sẽ được cấp. Các cháu nhỏ học lớp thấp gia đình nuôi, học lên cao Nhà nước nuôi. Việc đổi bạc khi đánh Mỹ xong ta bàn”. Cứ vậy trưởng ban quân sự B5 Lê Hữu Kiển trả lời từng câu từng ý rành rọt với đại diện lực lượng Fulrô, quận phó Ama Năm.


- Vậy các anh giao cho chúng tôi nhiệm vụ gì?- Ama Năm hỏi.


- Trước mắt làm cho hai việc- Lê Hữu Kiển giao - Thứ nhất: Kê khai danh sách dân đói thật nhiều cho Diệm viện trợ, sau đó chuyển lên rừng cho bộ đội; thứ hai: Báo cho đại diện chánh tổng, nhìn thấy bộ đội ở đâu không được báo cho quận, tỉnh.


Từ đấy bộ đội ta gần như làm chủ chiến trường. Lê Hữu Kiển từ trưởng ban quân sự chuyển thành tỉnh đội trưởng. Người đã chỉ huy nhiều trận đánh thắng lợi, trong đó có trận đánh quận Lạc Thiện dùng ngay nội công Fulro. Trận ấy mục sư Ama Rinh nhận nhiệm vụ bắn quận trưởng Cao Hữu Nhuận. Trung úy Ama Chế, đội trưởng đội bảo an làm nội ứng. Ngày 15-2-1961 huyện Lak giải phóng.


Mặt trận dân tộc giải phóng B5 ra đời, vùng đất cách mạng Chư Yang Sin trở thành vùng giải phóng sớm nhất Tây Nguyên (1963).


Người già vùng Chư Yang Sin cho đến nay mỗi lần kể cho con cháu nghe về những ngày được Cách mạng đổi đời, chỉ có Cách mạng mới đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc mà nhiều người lúc ấy chưa nhận ra. Khi vùng đất Chư Yang Sin giải phóng, bụng một số người Êđê, M’nông lại muốn có một chủ thể riêng, đòi cách mạng cho lập vùng đất cao nguyên độc lập có cờ riêng, lá cờ có năm ngôi sao. Họ lập lý rằng: “Năm sao là 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Dak Lak, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng”. Ông Kiển giải thích: “Mỗi sao là một tỉnh, cả miền Nam có bao nhiêu sao, dán đâu cho hết. Chỉ cần một lá cờ, màu đỏ là đấu tranh, màu xanh là hòa bình, sao năm cánh là đoàn kết các dân tộc”. Họ vẫn chưa nhận ra, ông Kiển đành nhờ ông Y Bí Alêô (Cai ngục Buôn Ma Thuột giác ngộ mới được ra miền Bắc gặp Bác Hồ về), ông tập hợp họ lại nghe ông Y Bí Alêô giải thích:


- Cờ gì thì cờ, dân tộc độc lập tự do, ấm no hạnh phúc đó là cờ. Chúng bay không lập vùng đất riêng được, không phụ trách quân sự được đâu. Trước khi ra Hà Nội, tao định bụng ra xin Bác Hồ vũ khí , lương thực. Nhưng đi dọc đường đã thấy xe vận chuyển vào rồi. Cách mạng còn biết chúng ta trong này đang cần gì, nên Đảng bảo gì, Cách mạng cần gì ta làm cái nấy.


Những ngày đầu đồng bào đến với Cách mạng là thế, tầm nghĩ gói gọn trong khoảng rừng. Bây giờ thì đâu đâu cũng có ánh điện soi sáng, nơi nào cũng bật  dậy tiềm thức làm giàu. Trẻ em đến độ tuổi đều được đến trường học tập, đội ngũ trí thức dân tộc ngày một đông, nhiều người trở thành cán bộ cao cấp của Đảng. Chỉ nói riêng những người lính tiểu đoàn 2 Êđê dạo ấy, nhiều người đã trưởng thành trong quân đội như thiếu tướng Y Blôk Eban, thiếu tướng Nay Phao, đại tá Mlô Nguynh, đại tá Kpă Nguyên, đại tá Y Sok… họ đều có một suy nghĩ chung là đã chọn được con đường Cách mạng để đi.


Lạ thế, cuộc sống càng đủ đầy, con người lại thường nhớ tới bước đi chập chững ban đầu, đồng bào vùng Krông Bông, Lăk… luôn nghĩ tới trái tim người tỉnh đội trưởng dành cho họ. Họ nhớ về những ngày đầu năm một ngàn chín trăm bảy mươi, do bị thương nhiều lần, vết thương quá trầm trọng mà ông Lê Hữu Kiển phải chuyển ra Hà Nội cứu chữa. Sau đó Trung ương có ý định  chuyển ông về làm tỉnh đội trưởng Thanh Hoá để có điều kiện gần gia đình vợ con mà dưỡng sức. Đối với người lính ở chiến trường thì nơi nào không ác liệt, nhưng với chiến trường Tây Nguyên dù ai một lần đến cũng nhớ thương nhau suốt đời. Bởi sốt rét rừng, nắng lửa, mưa xối thì thừa; còn hạt gạo, hạt muối, ngọn rau rừng cũng  thiếu. Thương đồng đội, thương đồng bào đang chia xẻ những thiếu thốn mà đánh giặc nên ông quyết định trở lại chiến trường Tây Nguyên.


Đất nước thống nhất, ông về quê chuyển vợ con từ vùng biển Xứ Thanh lên rừng Dak Lak cùng sinh sống. Một người đồng đội về làm quan chức ở Vũng Tàu mời ông về thành phố biển dưỡng sức, ông cảm ơn nói “Sống ở rừng quen rồi!”. Tỉnh phân cho căn hộ giữa trung tâm đường Hùng Vương, thành phố Buôn Ma Thuột để ông hưu trí nghỉ ngơi; ông trả lại Nhà nước, bởi nghỉ ngơi không phải là tố chất của ông. Ông mua hai hecta đất rẫy vùng ngoại ô trồng cây ăn trái, nuôi ong, nuôi heo, để tiếp tục được làm việc, tiếp tục được cống hiến.


*


Khi tôi viết xong bài bút ký này thì ông Lê Hữu Kiển đã không chống lại nổi căn bệnh hiểm nghèo trở thành người thiên cổ. Tôi hình dung như ông vẫn còn đó với nụ cười mãn nguyện trước cuộc sống đang sinh sôi. Ai cũng có cái làng, quê hương để cất giấu những kỷ niệm mà thương nhớ. Ai cũng biết chọn cho mình một nơi có cuộc sống đủ đầy mà tận hưởng. Đối với ông Lê Hữu Kiển cả hai cái đó trở thành tấm tình nặng nghĩa giành cho vùng đất đỏ bazan Dak Lak, nơi đã gắn bó cả những kỷ niệm yêu thương lẫn những mất mát hy sinh. Ông như cánh hoa thắm sắc mãi mãi tỏa hương thơm trong các buôn làng, đất rừng Tây Nguyên.


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »