tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
04.01.2010
Nguyễn Liên
Trái tim người lính

Từ một quả đồi hoang rậm, đây đó còn rớt lại dấu tích bom mìn thời chiến tranh, dưới cánh tay điều khiển của anh đã trở thành một khu quân sự kiểu mẫu trong quy hoạch tỉnh lỵ mới Dak Nông. Hơn thế nữa, quả đồi trở thành điểm nhấn, như cái cúc ngọc gắn vào chiếc áo lụa màu xanh – thị xã Gia Nghĩa. Báo chí từng viết về những buôn làng đồng bào dân tộc Tây Nguyên mang tên anh, ca ngợi anh, người chỉ huy đa tài cả chính trị lẫn quân sự; anh là thiếu tướng Trịnh Hoàng Lâm, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Dak Nông.


Hẹn mãi cuối cùng anh cũng bố trí được thời gian dành cho tôi. Dù tôi đến sớm nhưng anh lại đã tranh thủ có mặt ngoài công trình, kiểm tra tiến độ đang thi công xây dựng Nhà truyền thống lực lượng vũ trang tỉnh. Đối với dải đất nằm trong tuyến hành lang chiến lược Nam Trường Sơn, khơi thông nhịp cầu nối hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ thì sự ra đời của một cái Nhà truyền thống của lực lượng vũ trang là rất cần. Những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, và trong công cuộc dựng xây hôm nay của quân và dân tỉnh Dak Nông, đó sẽ là những minh chứng lịch sử nhắc nhở thế hệ kế tiếp hiểu hơn về giá trị hy sinh của lớp người đi trước mà kế tục truyến thống xứng đáng. Trong đó khắc hoạ rõ nét dấu ấn từ ngày lập tỉnh Dak Nông, những người lính khoác ba lô rời mái nhà Dak Lak ra ở riêng, còn đó hình ảnh những căn nhà bạt không điện giữa mưa tràn nắng lửa, chậu nước tắm chia nhau, vậy mà những bàn tay người lính đã khai sơn phá thạch dựng nên cơ ngơi khang trang như hôm nay. Con đường đôi trải nhựa phẳng ru nối từ cổng doanh trại lượn vòng lên chóp đồi Sở chỉ huy; chạy theo con đường là những hàng hoa cây cảnh, xen kẽ với hàng thông non là những cột đèn cao áp sừng sững. Tôi cùng anh thả bộ trên con đường nhựa men dưới chân đồi về khu nhà công vụ dành cho chỉ huy; những cụm cây cảnh gọt tỉa điểm trên thảm cỏ đến mát mắt, kia nữa chú trâu đang nằm nghỉ, bên cạnh chú khác đứng gặm cỏ, mấy chú cò trắng rỉa lông ngơ ngác… dù biết đó là những mô hình bằng bê tông nhưng sao gần gũi lạ lùng. Tôi ngờ mình đang bước trong một công viên hay một góc quê nào đó. Hèn chi ngày đầu hình thành khu doanh trại người dân Gia Nghĩa rủ nhau lên “đồi bộ đội” đi dạo mát dưới ánh đèn cao áp ngắm cây, thưởng cảnh. Anh nói: “Khu quân sự có nguyên tắc riêng, nhưng không có hàng rào nào bằng ý thức lòng người!”. Tôi càng kính phục hơn ở cái tâm của người chỉ huy nung nấu sâu xa hơn là nỗi niềm trước mắt, chính môi trường xanh sạch đẹp gần gũi với thiên nhiên cũng là làm công tác tư tưởng, tạo cho người lính thoải mái như đang ở nhà mình mà tự hào gắn bó, có lẽ đó chính là hàng rào bằng ý thức, tấm lòng và trách nhiệm mà anh tin tưởng ở chiến sỹ.


Đối diện với tôi một vị tướng từng xông pha trận mạc với nhiều cương vị khác nhau nhưng cũng thật bình dị, anh tự pha rót trà chuyện trò cùng tôi. Có lẽ anh cũng không khách khí phải chọn ý tứ đối thoại với nhà báo, mà là tâm tình với người bạn, chia xẻ tâm tư với người từng một thời khoác ba lô bước ra từ khói lửa chiến tranh. Tôi biết anh từ thời còn chung tỉnh Dak Lak, về công tác tại huyện Cư M’gar, lên buôn Ea M’droh, buôn Win… những dãy nhà thành hàng thành lối, hàng cây vườn cây xanh mướt giữa màu đất đỏ ba zan, tôi ngỡ ngàng như ngắm một bức tranh. Người dân Êđê khoe: “Buôn bộ đội Lâm cho đấy!”. Tôi hiểu được ý nghĩa của lời nói mộc mạc đó, nó là cả cái tình của người lính Cụ Hồ gửi trong đó. Làm gì có lợi cho dân thì ai cũng có thể làm, nhưng có một cái tâm để nghĩ ra việc làm đó thì không phải ai cũng xuất phát lối nghĩ như nhau. Trong không gian căn phòng ấm cúng của vị chỉ huy, hồi ức của anh bỗng chốc đưa tôi về một thời binh lửa. Chợt mưa xối xả đổ xuống, gió quật ào ào, sấm chớp nhoáng nhoàng ngoài khung kính, điện phụt tắt, anh vẫn kể, tôi vẫn lắng nghe.


*


Ngày ấy, quân đoàn 2 Ngụy thất thủ tháo chạy khỏi Pleiku, bỏ ngỏ cánh cửa Bắc Tây Nguyên. Dọc con đường số 7 từ Cheo Reo, Phú Bổn kéo xuống đến tận Tuy Hoà, Phú Yên chồng chất xác giặc, xác chiến xa, những khẩu pháo mệnh danh là “vua chiến trường” gục nòng ngổn ngang, dân chúng nháo nhác kéo nhau di tản. Lúc đó anh sỹ quan trẻ Trịnh Hoàng Lâm, trợ lý chính trị tiểu đoàn được điều về làm chính trị viên đại đội nhận lệnh tiếp quản thị xã Cheo Reo. Khói lửa bom đạn chế độ cũ vừa tan, con người ngỡ ngàng tiếp nhận chế độ mới trước sự hồi sinh của đất nước. Trong bối cảnh giao thời giữa chiến tranh và hoà bình, nhiệm vụ của người lính có biết bao việc phải làm. Ổn định tư tưởng cho dân, vận động dân cùng bộ đội “thu dọn chiến trường”, phát động quần chúng thu giao nộp vũ khí, một mặt sẵn sàng đối phó với lực lượng Fulrô đang hoạt động mạnh rình rập chống phá cách mạng.


Một lần về buôn Rói nằm bên bờ sông Ba dữ dằn nhưng cũng thật hiền hoà, buôn Rói như bao buôn làng khác ở Tây Nguyên thời chính quyền Quốc gia còn nghèo khổ không mấy được quan tâm. Đồng bào chủ yếu sống bằng nghề phát rẫy chọc tỉa, săn bắn, đào củ, hái lượm; mạnh ai nấy lo. Mí Miên là người độc thân không họ hàng anh em, quanh năm đói khổ thiếu thốn. Bằng cảm quan của trái tim người lính, Trịnh Hoàng Lâm phát hiện ra Mí đang sống dưới gầm sàn cùng với trâu bò, mí ăn rau rừng thay cơm. Anh Lâm hỏi Mí bằng tiếng dân tộc: “Sao không có nhà ở?”. Mí nói: “Không làm được, đi ở nhờ họ không cho, phải ở dưới gầm sàn nhà họ thôi!”. Chợt trong long lanh ngấn mắt anh thoáng thấy hình bóng người mẹ già ở quê, đất Tam Kỳ, Quảng Nam quê anh cũng đang sống dưới chế độ Mỹ Ngụy, cũng là miền quê nghèo. Anh liền bàn bạc trong chỉ huy rồi gặp trao đổi với già làng để bộ đội làm cho bà mí một mái nhà để ở. Già làng nói: “Biết nó khổ đấy nhưng làng không làm gì giúp được, bây giờ bộ đội giúp cho, tốt rồi!”. Vậy là anh cho bộ đội về buôn Rói cùng ăn cùng ở cùng làm với dân, tổ chức cho bộ đội chặt cây, cắt tranh dựng cho Mí một mái nhà ở bìa làng. Xong xuôi mời Mí xuống nhận, nhưng Mí không dám đi, bởi khi những người lính mặc quần áo màu xanh xuất hiện Mí luôn né tránh, trước đây những người lính quốc gia đi càn luôn xua đuổi Mí như con vật, thì còn ai cho Mí tình thương nữa đâu. Mãi khi già làng nói để Mí hiểu bây giờ lính của Cụ Hồ khác rồi, Mí mới đỡ nghi ngại. Một mái nhà tranh, một trái bếp nấu, một cái giường đóng bằng cây tre, đơn giản vậy nhưng nó là thứ tài sản vô cùng to lớn cả đời Mí không dám mơ ước. Mí sụp xuống xúc động: “Bộ đội cho nhà thì ở, nhưng Mí nghèo quá không có gì trả ơn được!”. Bỗng Hoàng Lâm cũng xúc động về một việc làm bình thường của người lính. Chiến tranh đã khép lại, cánh cửa độc lập tự do đã mở ra trước mắt, những người lính Cụ Hồ giúp dân đâu phải mong trả ơn.


Anh như còn xúc động nhớ lúc đỡ nải chuối từ tay Mí, thứ duy nhất có ở trong gùi cho Mí vui lòng. Tấm tình của đồng bào Tây Nguyên là vậy, anh nghiệm ra được từ những năm tháng sống cùng đồng bào, thương nhau thì quả bắp bẻ đôi, đã tin nhau thì chẳng dễ gì lay chuyển nổi. Tin bộ đội, giúp bộ đội là giúp cách mạng rồi, có lẽ vậy mà bộ đội xuất hiện thì lực lượng Fulrô tan rã lần lượt trở về với buôn làng.


Đèn bật sáng. Ngoài trời đã lặng gió. Anh kéo tôi quay ngược thời gian lật giở lại trang hồi ức chiến tranh cùng chiêm nghiệm.


Năm 1965 cả khu vực buôn Ja Wawằm, Ea Suop thâm u rừng già lắm, nơi đó là căn cứ kháng chiến H5 của ta. Bộ đội ở rừng nhưng mọi sinh hoạt chủ yếu dựa vào dân. Hôm ấy Amí Mai vào trong cứ thì gặp chàng chiến sỹ quân y Trịnh Hoàng Lâm đang lúc lên cơn sốt rét rừng, Amí dìu anh về nhà để tiện chữa trị chăm sóc, hái lá rừng làm thuốc, nấu nước cháo đặc bón cho anh ăn. Cơn sốt chưa kịp dịu thì có người trong buôn chạy đến nhà Amí Mai báo có giặc càn đến đầu buôn. Amí nhanh chóng quyết định: “Con không được đi” rồi dìu anh ra trại lúa gia đình, moi lúa lên ấn anh ngồi xuống rồi phủ lúa kín người chỉ để hở hai lỗ mũi, xong xuôi Amí ra bếp ngồi nấu cơm. Cái nóng của cơ thể cộng với hơi nóng bốc lên từ lúa làm anh muốn bứt lên, nhưng tiếng sục sạo quát tháo của địch ghìm anh xuống. Lục lọi một chặp bọn địch kéo nhau đi, Amí liền dắt trâu đi theo ra đến bìa làng, quan sát chắc chắn địch đã rút hẳn Amí mới vội vàng về nhà moi lúa kéo anh lên.


*


Năm 1988 với cương vị Chủ nhiệm hậu cần kiêm Giám đốc kinh doanh thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Dak Lak. Anh trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn làm kinh tế tại Ja Wằm, trở lại cái nơi anh tân binh Hoàng Lâm từng gắn bó bao kỷ niệm, cái tình của đồng bào Ja Wằm theo anh suốt cuộc đời chinh chiến, đến ngày tiếp quản Cheo Reo đánh dấu chiến tranh chấm dứt và cả mãi sau này. Tính ra đã hơn hai mươi năm, trong đó hơn mười năm đất nước thống nhất, buôn Ja Wằm vẫn thế, nước mắt anh bỗng ưá ra, người dân vẫn coi việc săn bắt, thu nhặt của rừng là chính, cứ vậy biết bao giờ mới đổi đời. Lúc này bọn Fulrô lại đang xuất hiện ở rừng Ea Suop, xuất hiện ở Ja Wằm cướp bóc, lôi kéo người vượt biên, máu người dân vô tội lại đổ. Khi bộ đội xuất hiện, bóng dáng Fulrô lùi dần.


Những đêm trằn trọc anh Hoàng Lâm mới nghiệm ra rằng, ngày ngày những chiếc ô tô kềnh càng chất đầy gỗ chuyển ra khỏi rừng, đồng bào lặng lẽ nhìn theo; họ không nói nhưng anh đọc được trong mắt họ sự nuối tiếc xót thương rừng. Rừng cho họ cuộc sống, rừng gắn bó với cuộc đời họ là vậy nhưng thử quan sát cách sống của họ mà xem, chỉ là những căn nhà sàn thưa thớt lúp xúp dưới tán rừng, chiếc gùi vẫn trên vai vào rừng đào củ, hái đọt mây, bẫy con mang… Không thể mãi như vậy được. Muốn cho đồng bào ổn định, trước mắt phải quy họp thành một cái buôn rồi mới tính chuyện làm gì để có nguồn kinh tế lâu dài mà không phụ thuộc vào rừng. Đã nghĩ là làm, anh tức tốc tìm gặp Tổng Giám đốc Liên hiệp Lâm Công nghiệp Ea Suop, anh Phan Thanh Xuân, sau này làm Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp đề nghị cho một cơ chế giao rừng để bộ đội tu bổ, khai thác kinh doanh cải thiện đời sống và có điều kiện thực hiện kế hoạch định cư cho đồng bào. Đang thời bao cấp, sự manh nha về đổi mới lại nói đến kinh doanh thì ghê gớm lắm, chưa chừng theo con đường tư bản như chơi; lại còn giao đất giao rừng cho đồng bào định cư, mạo hiểm quá. Thế nhưng anh Phan Thanh Xuân rồi anh Phan Mưu Bính - Giám đốc Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh đã ủng hộ dự án kế hoạch cho là mạo hiểm này. Bí thư Tỉnh ủy Huỳnh Văn Cần đắn đo, từng là người ở cứ kháng chiến, từng hiểu tấm lòng đồng bào, chỉ sợ kế hoạch thực hiện nửa vời thì kết quả sẽ ra sao? Thế rồi được Chủ tịch tỉnh Y Ngông Niek Dam ủng hộ vậy là Bí thư Tỉnh ủy yên tâm.


Buôn Ja Wằm có trên một trăm hộ, tổ chức thành hai đội sản xuất cùng với năm mươi cán bộ chiến sỹ quân đội nhận với Liên hiệp Lâm Công nghiệp Ea Suóp diện tích rừng để tu bổ. Ý tưởng hợp với lòng dân, mọi việc tiến triển thuận lợi. Khu đất chọn dựng buôn được san ủi mặt bằng, quy hoạch thành lô, có đường cấp phối, mỗi nhà kèm theo một diện tích vườn. Nhà sàn cột gỗ lợp ngói đỏ dựng đến đâu, quanh vườn cây trái mọc đến đó, đu đủ, xoài, xả, ớt, nghệ, cà phê… những thứ gắn liền với sinh hoạt thường ngày của đồng bào, mỗi hộ một chuồng trại chăn nuôi heo, một giếng nước. Đồng bào nhận nhà xúc động như ra ở riêng được bố mẹ lo cho chu tất. Ở như vậy coi như ổn, anh liền chuyển sang giúp đồng bào chọn đất, kỹ thuật canh tác mới là nguồn kinh tế ổn định lâu dài, đất trong vườn trên rẫy thì trồng cà phê, đất pha đá để trồng cây màu: ngô, bí, dưa…, ruộng nước thì gieo mạ xạ lúa… Anh đâu phải là kỹ sư  nông nghiệp nhưng nhờ có kinh nghiệm đúc rút từ cuộc sống cùng đồng bào và khí hậu khắc nghiệt của đất Tây Nguyên, mỗi loại đất trồng một thứ, thiên tai đe doạ mất cái nọ còn cái kia. Từ việc làm thiết thực đó đã thay đổi được lối sống cố hữu ăn vào gốc rễ nhận thức của người dân “đến đâu biết đó, có hôm nay không biết ngày mai”.


Sau này có dịp về buôn Ja Wằm công tác tôi ngỡ ngàng trước một “phố núi” xôi động, nhà thành hàng thành dãy, cây trái xanh mướt trong vườn, cô gái Êđê ngồi trên máy cày điều khiển từ rẫy về nhà chạy trên con đường cấp phối thênh thang. Đồng bào hãnh diện gọi buôn Ja Wằm của mình là “Buôn Bộ đội Lâm”. Từ chuyện thành công xây dựng buôn Ja Wằm anh nhân mô hình sang buôn Win, buôn Ea Mdroh. Ngẫm ra mới thấy rằng những buôn được xây dựng kinh tế ổn định, tuyệt nhiên không một ai tin vào lời tuyên truyền của kẻ địch đòi chiêu bài thành lập Nhà nước Đê Ga. Có lúc tôi tự suy xét giá như cái mô hình ấy được nhân lên diện rộng hơn nữa, chắc gì đã phải bỏ ra một khoản kinh phí tốn kém gấp nhiều lần xây dựng để chỉ có một việc khắc phục hậu quả mỗi lần cơn lốc biến động xoáy qua tư tưởng đồng bào. Đảng, Nhà nước có nhiều chính sách ưu tiên đối với Tây Nguyên trong đó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đến tận vùng sâu vùng xa. Đồng bào Tây Nguyên thừa nhận điều đó, nhưng sao có lúc vẫn tin vào luận điệu của kẻ thù địch “đòi người kinh trả đất, xây dựng một nhà nước riêng”. Phải chăng cũng bởi kinh nghiệm sản xuất không có, tư tưởng cố hữu lại trỗi lên.


Mỗi lần suy ngẫm sự đời tôi lại không khỏi tự đặt giả thiết, nên chăng công tác chọn lựa cán bộ đưa vào từng vị trí công tác cần được coi trọng hơn. Cán bộ đến với dân không chỉ bằng lý trí, tài năng mà cần có sự hiểu biết tâm lý, am tường tập tục mỗi dân tộc mà điều chỉnh trong công việc cho hợp lòng dân. Ai hiểu đồng bào như tướng Hoàng Lâm từng hiểu, người dân tộc thiểu số thường nói bằng lý của họ: “Nghe tai no rồi, thấy làm thì tin thôi!”. Nghĩa là thấy việc làm cụ thể hơn là những lời nói kèm theo cái chỉ tay. Tôi liên hệ tới việc bắt tay xây dựng cơ ngơi quân sự từ khi tách tỉnh thôi. Quan điểm của anh là cơ sở trước, chỉ huy sau; xây dựng cơ sở tiểu đoàn huấn luyện, Trường quân sự địa phương… để làm nhiệm vụ then chốt của người lính, rồi mới đến doanh trại Sở Chỉ huy và cuối cùng là nhà công vụ dành cho chỉ huy. Người ta ví von anh như một nhạc trưởng cầm que chỉ huy tấu lên bản tráng ca xây dựng, còn tôi nhận thấy anh như một Tổng công trình sư, người vừa quy hoạch tổng thể, vừa thiết kế chi tiết, lại vừa đội nắng gió giám sát thi công. Công trình doanh trại Bộ Chỉ huy hoàn thành khi nhiều công trình cơ quan khác ở một tỉnh mới còn dở dang, nó được đánh giá là một công trình kiến trúc có tính văn hoá nổi trội nhất của thị xã. Trong khi cả nước đang phát động tiết kiệm thì tôi lại chú ý tới con số anh thường trăn trở đem ra so sánh: Ngày đầu thi công giá vật tư thấp, viên gạch hai trăm đồng nay lên tám trăm đồng, như vậy vật tư tăng gấp bốn lần, cũng có nghĩa nếu để kéo dài công trình thì giá trượt theo cũng từng ấy lần. 


Nhìn vị tướng bình dị bằng lòng với những việc mình đã làm, tôi nhận ra trong sâu thẳm mắt anh vẫn hiện rõ nỗi day dứt, một sự đau đáu đầy trách nhiệm trước cuộc sống. Anh chợt nuối tiếc về cái quỹ thời gian không còn bao nhiêu, nhưng tim còn đập thì còn cống hiến. Rồi anh ước mình có một cái quyền nào đó như ở quân đội để sắp xếp lại các vị trí quan chức sao cho hợp lý mà không bị cái tình chi phối. Nơi này nơi kia người ta bỏ nhà nước ra ngoài làm vì sao? Là do môi trường làm việc chưa thu hút được. Nói về Dak Nông, cái khu đô thị mới Sùng Đức kiến trúc chen nhau không khác gì cái nơi hiếm hoi đất đai, quy hoạch kiến trúc Tây Nguyên ở đâu? con đường đang đi như vậy mở rộng ra là được, cớ sao phải đầu tư kinh phí hạ độ dốc cho tốn kém lại mất đi cái đặc trưng của vùng đất, trong khi đất mới còn nhiều việc phải làm. Sự tốn kém tiền bạc nhà nước, sự quy hoạch làm rối cả cái đặc trưng của vùng đất, ai dám chịu trách nhiệm? Một nỗi buồn không nói thành lời. Một quy hoạch kiến trúc, quy hoạch xây dựng “Đà Lạt thứ 2” như Chủ tịch tỉnh từng công bố ngay từ những ngày đầu quy hoạch đô thị Gia Nghĩa, bây giờ ở đâu?


Thấy anh ngồi day dứt, chợt tôi lại nhớ tới những bài báo, phóng sự truyền hình ca ngợi việc làm của anh dành cho dân: “Buôn làng mang tên người lính”, “Điểm sáng trên Cao nguyên” hay “Người Chỉ huy hai trong một” cả chính trị lẫn quân sự đều kiệt xuất, hoặc nhiều phần thưởng, danh hiệu vinh dự khác, nhưng có lẽ không phần thưởng nào cao quý hơn tấm lòng, niềm tin của cán bộ chiến sỹ, của đồng bào các buôn làng Tây Nguyên dành cho anh – thiếu tướng Trịnh Hoàng Lâm ª


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »