Có lời hẹn với anh em Văn nghệ Bắc Kạn nên sau dịp văn nghệ sĩ khắp vùng miền đất nước hội tụ tại thủ đô Hà Nội tham dự Đại hội III Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam thì sáu anh chị em Dak Lak chúng tôi cùng tiến sĩ Thanh Phôn của thành phố Hồ Chí Minh, nhà thơ Nga RiVê của Quảng Ngãi và hai người của Văn nghệ Bắc Kạn gửi sang trò chuyện, hướng đạo. Trừ hai người chủ nhà ra, trong xe chia thành hai phái tinh thần cùng háo hức. Tiến sĩ Pôn, Nhà thơ Ri Vê, Nhạc sĩ, Nhà văn Linh Nga Niếk Dăm, Nhà văn Kim Nhất đã một lần, một thời học hoặc đã đến Bắc Kạn thì mong mỏi được gặp lại vùng đất con người thân quen của bốn mươi năm về trước. Số còn lại chỉ mới biết Bắc Kạn, Ba Bể qua hình ảnh văn thơ nay mới có dịp đặt chân tới. Chuyện hôm qua, chuyện hôm nay râm ran cả xe. Tiết trời cuối năm trên này thường có những đợt giá lạnh cắt da cắt thịt. May sao cái rét dành cho chuyến đi của chúng tôi cũng vừa phải. Tuy vậy màn sương mỏng vẫn che bớt cái đẹp trong veo của núi rừng Việt Bắc. Dương Thế Phong có bút danh là Dương Khâu Luông, tiếng Tày: Khâu Luông là rừng đại ngàn. Một người yêu rừng đến nỗi đặt cả rừng vào tên của mình. Anh thẽ thọt giới thiệu: “Bắc Kạn nghèo lắm. Rừng đấy nhưng chưa có kinh tế mũi nhọn”. Xa xa dưới chân đồi, mấy nóc nhà chen giữa vườn đào vườn mận. Từng vạt ruộng bậc thang cắt trơ gốc rạ phơi đất chờ vụ tới.
- Đào, mận tốt vậy sao không phát triển rộng ra? Khách hỏi khi nhìn thấy vườn đào, vườn mận nhà ai. Đào quả to, mận xứ Bắc ngon nổi tiếng, khách thường gặp ở chợ miền xuôi. Chủ nhà thưa rằng: “Bán cho ai. Đầu ra không có.”
- Tại sao gọi là Bắc Kạn nhỉ? - Nhà thơ Phạm Doanh dò hỏi, nhạc sĩ Nông Văn Nhủng - Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Bắc Kạn liền giải thích:
- Đúng ra là Pắc Cạm. Tiếng Tày nghĩa là cổng vào nhà. Sau dần gọi chệch đi thành Bắc Kạn.
Tấm biển báo địa danh Thị xã Bắc Kạn dựng bên đường đã lùi lại phía sau mà chiếc xe vẫn hun hút lọt vào giữa hai sườn núi. Quả là một cái cổng dẫn vào đại ngàn núi non, một thời là vùng chiến khu Cách mạng chống thực dân Pháp.
Mười hai giờ trưa thì xe dừng lại Thị xã bắc Kạn. Mọi người bàn nhau: “Hồ Ba Bể còn hơn bảy chục cây số nữa, đi luôn thì hơn. Xuống đấy nghỉ đêm, sáng thăm hồ, trưa quay về Thị xã gặp gỡ anh em văn nghệ sĩ Bắc Kạn”. Được sự đồng tình, ăn cơm, nghỉ ngơi, mười lăm giờ đoàn tiếp tục hành trình. Ông Triệu Sinh người sáng tác thơ bằng tiếng Tày của Bắc Kạn quê ở Ba Bể được lãnh nhiệm vụ đưa chúng tôi về nhà ông nghỉ đêm. Chị Linh Nga Niếk Dăm có ba năm làm học trò ở thị xã Bắc Kạn cũng đã từng đến Ba Bể. Dù luyến tiếc vẫn đành ở lại để đi tìm thăm thầy cũ bạn xưa.
Trước khi đi Dương Khâu Luông đã buông lời đe dọa: “Đường đi Ba Bể dễ bị say xe lắm đấy!” Tôi nghĩ: “Đèo Hải Vân còn vượt qua, ớn gì!” Chiếc xe lượn xoáy lên đèo Mỹ Vi. Thì ra đường đèo Việt Bắc có đặc thù riêng. Vòng lượn dày hơn, đoạn đường thẳng ít hơn nên dễ gây chóng mặt. Sức của con người đến dịêu kỳ, trập trùng núi non là vậy mà đẽo gọt thành con đường. Ở độ cao của đỉnh đèo nhìn xuống, con đường nhựa mỏng manh như dải lụa mềm vắt hờ vào sườn núi. Đây là dãy Phja bjoóc, tiếng Tày nghĩa là Núi Hoa. Chợt tôi nhớ tới cố nhà thơ Nông Quốc Chấn, ông đã có những bài viết về Phja bjoóc, về Việt Bắc. Thật ngẫu nhiên sao cố Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Y Ngông NiếkDam từng đến đây làm cách mạng. Ông Nông Quốc Chấn, ông Yngông Niếk Dam lại cùng từng làm Hiệu trưởng danh dự của trường cấp III Bắc Kạn đầu tiên. Cứ vậy mà nhìn ra thì rừng Tây Nguyên, rừng Việt Bắc, người DakLak, người Bắc Kạn cứ hòa trộn vào nhau. Thấp thoáng trong dãy Phja bjoóc không hiểu sao tôi cứ hình dung thấy có dãy Chư Yang Sin vùng căn cứ Cách mạng của DakLak, dưới chân Chư Yang Sin có thắng cảnh hồ Lak, dưỡi dãy Phja bjoóc có hồ Ba Bể đẹp tựa bức tranh. Bằng cảm quan mà thấy đất Bắc Kạn đang chuyển mình. Cuộc sống của đồng bào Bắc Kạn đang khởi sắc. Tuyến đường nhựa được mở rộng thêm, cột điện cao thế dẫn dòng ánh sáng từ sông Đà lan tới khắp rừng xa rừng gần. Bản làng thắm thêm màu ngói mới, trường học cao tầng dựng lên...
Lời dọa của Khâu Luông như đã ngấm vào tôi. Trong nao nao có cả vị men của rượu ngô Bắc Kạn, như lâng lâng ai ru điệu Lượn, điệu Then. Thị trấn Chợ Rã trung tâm huyện Ba Bể lọt trong một thung lũng, những quả đồi được khoét vạt đi cho nhà cửa đua nhau mọc lên nhà tầng, nhà trệt, nhà xây, nhà sàn đâu đâu cũng gặp biển hiệu “Nhà nghỉ” viết cả tiếng ta lẫn tiếng Tây. Nhìn thấy hai người khách nước ngoài thả bộ thăm thú phố núi. Ai đó dự đoán “Dân ở đây rồi sẽ giàu!”.
Chúng tôi đến được Trung tâm Quản lý khu bảo tồn Ba Bể thì bóng đêm trùm xuống. Từ đây về bản Nà Mòn của ông Triệu Sinh còn bảy cây số nữa. Ánh sáng đèn nêông đó đây từ mỗi căn nhà phả ra. Hóa ra khi điện lưới chưa kịp vươn tới, đồng bào đã tận dụng sức nước để làm ra ánh sáng. Bởi đi bằng đường nhỏ vào bản nên xe ô tô phải để lại ngoài mép đường nhựa cách nhà ông Triệu Sinh chừng năm trăm mét. “Để xe ở đây có được không?” - mọi người băn khoăn.
- Không sao đâu! Ông Sinh quả quyết - xe đạp dựng ngoài đường, lúa phơi ngoài rẫy cả ngày, cả đêm, không ai đụng đến của ai. Vậy là “tài sản cá nhân” của chúng tôi để tất ngoài xe. Quả vậy, dọc bờ suối là những đầu máy phát điện gia đình trơ trơ ra đấy, có ai thèm ngó ngàng của nhau làm gì. Trong khi phố phường cuộc sống bon chen, nẩy sinh những tệ nạn nghiện ngập, trộm cắp... thì ở đây một thế giới yên bình.
Ông Sinh không làm nhà sàn. Căn nhà trệt mái rộng lại có thêm ngôi nhà xây trước vườn cho vợ chồng người con cả. Bà Triệu Sinh, người phụ nữ Tày chất phác, thấy chồng về cùng khách vội lật đật từ dưới bếp lên niềm nở:
- Ô ô... lô lô lô... có khỏe không?
- Ở nhà có trông ông không? - Chị Kim Nhất hỏi vui - Bà Sinh nhoẻn miệng cười: “Khoông!”
- Có nhớ ông không? - Chị Ri Vê thêm vào
- Nhớ. Đi xe không nhớ. Đi bộ thì nhớ!
Rồi bà sực nhớ ra, vội vàng lấy chậu pha nước nóng cho mọi người rửa mặt. Cứ như có sẵn một chương trình đón khách đến thăm Ba Bể. Trên màn hình ti vi ở nhà ông Triệu Sinh các nghệ sĩ thay nhau hát về Ba Bể, ca ngợi bức tranh thiên nhiên.
Vợ chồng ông Triệu Sinh đãi anh em chúng tôi bằng thịt gà luộc, canh măng chua. Ông áy náy: “Giá về sớm hơn sẽ lên núi bắt dê nướng thịt”. Thì ra nhà ông có đàn dê trên ba chục con, đàn bò năm chục con thả trên núi. Hèn chi lúc Bắc Kạn và Thái Nguyên còn chung tỉnh, có đất có nhà ở thành phố Thái Nguyên nhưng bà Triệu Sinh nhất quyết không chịu dời cái bản Nà Mòn để rồi ông có cơ may về lại với núi rừng, về với đàn dê, đàn bò, ruộng nương, ao cá... chúng tôi ai cũng ước ao có được cuộc sống tĩnh lặng như ông Sinh mà khó. Đi đường mệt, thức khuya nhưng trong tâm ai cũng muốn giữ lại cái không khí ấm áp nghĩa tình giữa chủ và khách. Các nhà thơ thay nhau đọc thơ, không phải nhà thơ thì hát om cả đêm. Tuổi già như trẻ lại. Cái tình của người làm văn nghệ với nhau là thế. Không ai chê trách.
Mờ sáng mặt hồ còn giăng sương, mà thuyền máy đã cập bờ chở người, chở hàng. Một chiếc thuyền chở tốp người Mông và hai con bò lướt qua thuyền chúng tôi, lại chiếc của người Tày xếp đầy những bao thóc, rồi ngựa, rồi xe máy xuống thuyền chuyển qua bờ bên kia đi chợ Đồn. Nhìn mặt nước bốc khói, chim chóc đua nhau hót trên sườn núi, tôi hình dung ra sự tích hồ Ba Bể được ông Triệu Sinh soạn thành thơ đọc cho chúng tôi nghe hồi đêm. Cái ông Sinh làm thơ tiếng Tày mà viết thơ lục bát Tiếng Việt thật nhuyễn. Xưa kia giữa bao quanh núi đá có một bản người Tày sinh sống. Một hôm con trâu của nhà trời lạc xuống, dân bản bắt làm thịt chia nhau. Người phụ nữ góa chồng không nỡ ăn thịt trâu bèn nhận cái đuôi bỏ lên gác bếp đợi trả cho người mất. Nhà trời biết trâu bị giết thịt liền nổi giận dìm cả bản chìm sâu vào lòng đất . Nơi sụt ấy là lòng hồ ngày nay. Duy có đất nhà người phụ nữ góa chồng là không bị sụt, trở thành hòn đảo bà Góa. Nơi con trâu bị làm thịt vẫn tồn tại, thành đảo An Mạ. Ba Bể là ba lòng hồ thông nhau do hai hòn đảo ngăn cách. Hồ Pé Lởm, có nơi cho Tiên tắm. Hồ Pé Lù, tiếng Tày nghĩa là Bể Lỗ. Kể rằng: Lòng hồ nước ngày một dâng cao. Quanh vùng sau bức tường đá thì ruộng đồng nứt nẻ. Thương dân bị phạt vạ lây ông Tài Ngao là vị thần trên trời xuống đục các lỗ xuyên qua núi đá cho nước hồ chảy ra sông ngòi ruộng đồng. Cái lỗ đó là những hang động ngày nay, có cái đẹp nổi tiếng như động Puông. Ông Tài Ngao còn được người đời gọi là vị thần tạo ra cảnh đẹp Ba Bể. Hồ tiếp theo là Pé Lèng. Bởi nó nằm trên địa phận chợ Lèng.
- Tại sao gọi chợ Lèng? Cơm Lèng? - Nhà thơ Phạm Doanh tìm hiểu, ông Triệu Sinh giải thích
- Cơm Lèng tiếng Tày là nắm cơm, người đi xa nắm cơm mang theo, lúc đói mệt đem ra ăn sức khỏe trở lại. Lèng còn có nghĩa là khỏe - Ông Triệu Sinh giải thích - Còn chợ Lèng, xưa kia người Mông, người Tày, người Dao thưa thớt trong rừng, trên núi. Muốn xuống chợ phải đi hàng nửa ngày đường, đến chợ mang cơm Lèng ra ăn nên cơm Lèng thành chợ Lèng. Giờ đây chợ Lèng đã được xây dựng khang trang, có đường nhựa lưu thông. Hàng hóa trên rừng, dưới xuôi trao đổi thuận tiện. Ông Triệu Sinh bảo rằng: “Biết Đảng, Chính phủ làm đường nhựa, xây chợ, cuộc sống đổi mới thế này, đồng bào Tày, Dao không di cư đi nơi khác ở đâu!”.
Thuyền rẽ sóng lướt trên mặt hồ, với diện tích ba trăm hét ta mặt nước có bức tường núi đá tự nhiên sừng sững vây bọc, cây bám vào vách núi, cây xõa xuống mặt nước, cây phủ lên đỉnh núi, vượn kêu chim hót tạo thành bức tranh thiên nhiên xao động.
Chúng tôi không có thời gian nhiều để lên thăm đảo bà Góa, đảo An Mạ, thăm nơi Tiên tắm, chỉ chớp nhoáng đổ bộ lên thăm được động Puông, một cái động lớn có dòng sông Năng xuyên qua, trong động có nhiều khối nhũ kì dị, huyền ảo. Thậm chí nhiều bức tường đá tạo dáng tô điểm cho mặt hồ, chúng tôi cũng không thể ghé vào thưởng ngoạn. Có ai đó đọc lên câu thơ của Hoàng Trung Thông trên đường trở về mà luyến tiếc:
... “Một lần tôi đến hồ Ba Bể
Muốn ở đây thôi chẳng muốn về”
Trở về Thị xã Bắc Kạn thì mọi người đã có mặt đông đủ chờ đợi. Anh Lèng Văn Tí - Trưởng Ban tuyên giáo Tỉnh ủy là bạn học cũ của chị Linh Nga Niếk Dăm nên cuộc hội ngộ dường như gói trọn trong tình cảm người một nhà. Anh Triệu Kim Văn - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Kạn vẫn không quên thủ tục giao đãi. Nhưng rồi thì các bài thơ sáng tác, những điệu lượn, điệu then Việt Bắc, những âm điệu Tây Nguyên cứ quện vào nhau. Thương nhau mà mọi người dành cho nhau những lời tình nghĩa đậm đà.
Khâu Luông bảo đất nghèo. Nhưng tấm tình trao nhau đâu có vậy. Những cái nhìn thấy mà nghĩ ra. Lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn chắc chắn có hướng đi riêng của mình. Đèo núi cao đã được bạt đi, đường hẹp đang mở rộng ra... tôi hình dung thấy đâu đó sức mạnh, trí tuệ của vị thần Tài Ngao hôm nay đang tạo ra bức tranh Bắc Kạn đẹp giàu nay mai. Ba Bể rồi đây sẽ là điểm thu hút được du khách quan tâm.
Mận, đào đặc sản của đất rừng Việt Bắc sẽ được nhiều người biết đến. Đất Bắc Kạn màu mỡ, người Bắc Kạn mến khách đâu còn sợ nghèo. Bên đường mấy cây đào, cây mận đã nứt cành nhú lên những nụ hoa, báo hiệu mùa xuân đã đến ª
Mùa đông 2002
Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.
www.trieuxuan.info
|