tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
22.01.2010
Nguyễn Liên
Cô giáo Mí Na

Trên quãng đường gần hai chục cây số từ huyện đến trường tiểu học Phan Chu Trinh xã Ea Tul, anh Hồ Phước Củng cán bộ phòng giáo dục huyện Cư M’gar đưa tôi đi gặp Mí Na phải vặn ngoặt xe Honđa bò vào các lối mòn trong rừng cao su để tránh cái gió mùa khô Tây Nguyên như những cơn lốc cuốn bụi mù trời thật vất vả. Nhân vật các anh ở ngành Giáo dục huyện muốn giới thiệu lên báo là một cô giáo điển hình của ngành trong thời kỳ mới, mọi người thường gọi là Mí Na. Trong ngành giáo dục đào tạo huyện Cư M’gar, trải rộng ra nữa là cả tỉnh Dak Lak, chị như một bông hoa trong vườn hoa đầy hương sắc mọc lên giữa vùng đất Cao nguyên thừa nắng và gió. Mí Na một người phụ nữ Êđê thà chịu khó khăn cực khổ để chống lại tục nối dây truyền kiếp ràng buộc số phận con người. Chị đã trở thành Nhà giáo giỏi việc nước, đảm việc nhà được đồng nghiệp và nhân dân qúi trọng.


Vừa đi anh vừa giới thiệu cho tôi hiểu về địa danh mình đang đi qua, hết địa phận công ty mồng một tháng Năm đến những lô cao su, những dãy cà phê của công ty Ea Tul. Thì ra cả một dải đất đỏ bazan trải dài dưới chân núi Cư M’gar là đồn điền cao su của Trần Lệ Xuân trước đây. Cư M’gar tiếng Êđê nghĩa là núi ngược, bởi trên ngọn núi có một thung lũng hình nón để ngược. Truyền rằng đấy là dấu tích của ngọn núi lửa, cách đây hàng triệu năm, quả núi phun lên những dòng nham thạch đỏ rực như pháo hoa nên người dân Cư M’gar vẫn quen gọi là núi Hoa; hèn chi mà cả một vùng đất mênh mông nhuộm đỏ mầu mỡ. Gớm thật, đệ nhất phu nhân ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đến tinh mắt, ở tận Sài Gòn mà ngó lên đến Cao nguyên, lần cả vào nơi thâm u rừng sâu để lập đồn điền, cao su cứ tốt bời bời. Sau ngày đất nước thống nhất, nông trường nhà nước được thành lập, cây cao su già cỗi bị phá bỏ; Đồng bào các buôn làng trong vùng trở thành công nhân của Nông trường, diện mạo cuộc sống đã có nhiều đổi thay. Tuy vậy xã Ea Tul là xã vùng 2 vẫn còn tới bảy buôn nằm trong diện chính sách vùng đặc biệt khó khăn. Trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm chông chênh giữa hai vùng như vậy, ngày ngày vẫn phải đương đầu với những khó khăn, kể cả những nếp ở, phong tục tập quán.


Chúng tôi đến trường vào cuối giờ buổi sáng. Học sinh đã lần lượt ra về, còn các thầy cô giáo thì lại mới bắt đầu cho cuộc họp hội đồng nhà trường. Thầy giáo hiệu trưởng Nguyễn Thành Vinh bận chủ trì cuộc họp, chỉ mình cô hiệu phó là Mí Na tiếp chúng tôi. Vì tranh thủ thời gian nên tôi vào việc ngay, muốn Mí Na nói về những điều tôi đã được nghe giới thiệu và đang quan tâm. Bất ngờ, ngần ngại không muốn nói về mình, vả lại Mí Na không muốn nhắc lại chặng đường đời của Mí vừa trải qua; nhưng vì nể chúng tôi đã vượt qua quãng đường đầy gió bụi đến đây cũng chỉ có mỗi việc ấy nên Mí Na nâng chén nước trà lên miệng nhấp một ngụm, mắt dõi về phía xa xăm…


Tên của Mí Na là H’De. Người Êđê gọi Mí Na nghĩa là Mẹ con Na, tên gọi sau khi lấy chồng có con. Năm 1976 chị tròn 18 tuổi, quê H’De lúc ấy thuộc thị xã Buôn Ma Thuột; đất nước thống nhất, cuộc đời của cô gái trẻ H’De có trình độ học vấn lớp bảy đã bước sang trang mới. Lúc ấy ngành giáo dục cần có giáo viên là người dân tộc tại chỗ để đảm nhận việc dạy chữ cho các em nhỏ tại các buôn làng, H’De đã được tuyển dụng. Do sẵn có tình yêu dành cho các em nhỏ của đồng bào mình còn chịu nhiều thiệt thòi tại các buôn làng nghèo khó khuất trong những cánh rừng, H’De luôn chịu khó học hỏi đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để có kiến thức chuyên môn vững vàng mà gieo mầm tri thức vào những mảnh đời đang khát khao mầm chữ. Dần dà cô giáo người Êđê chưa một lần qua trường lớp sư phạm đã không thua kém bạn bè đồng nghiệp trên bục giảng. Năm 1985 H’De trở thành giáo viên dạy giỏi cấp huyện được cử đi dự thi giáo viên giỏi cấp tỉnh; Vì con còn quá nhỏ, H’De hẹn dịp sau. Chị còn vạch ra hướng đi cho tương lai, muốn phục vụ lâu dài theo kịp với sự tiến triển của đất nước, chị cần phải theo học một lớp chuyên môn về cơ bản, từ đó mà nâng cao kiến thức… Nhưng cái cánh cửa tương lai chưa kịp mở rộng đã vội khép lại đột ngột.


Chị còn nhớ mãi cái ngày u ám của năm 1991 định mệnh đã bao phủ nỗi buồn tủi xuống cuộc đời chị, người chồng xấu số ra đi để lại cho chị 4 đứa con thơ dại, đứa lớn mới học lớp 4. Theo tục nối dây của người Êđê thì chồng chết H’De phải lấy một người khác trong gia đình. Người được họ hàng sắp đặt để chị lấy làm chồng là đứa cháu ruột bên chồng chưa tới hai mươi tuổi. Không muốn duy trì tập tục làm cho cả hai bên cùng khổ, chị kiên quyết từ chối. Như vậy cũng có nghĩa chị đã phải chịu chấp nhận để họ hàng bên chồng từ luôn việc công nhận mẹ con chị trong họ; vậy thì chị phải chia tài sản cho bên nhà chồng. Khốn nỗi của nả có gì đáng giá đâu ngoài một căn nhà tranh và chiếc xe công nông. Nhà chồng quyết định chọn lấy cái xe, nhưng tiền xe vợ chồng H’De còn nợ của Nông trường, rắc rối quá. Bàn đi tính lại nhà chồng định giá cho chị phải trả là hơn một cây vàng. Đối với chị từng ấy vào thời điểm ấy là lớn lắm, đã khó khăn thêm chồng chất khó khăn. Biết vậy nên nhà chồng đồng ý cho trả dần.


Ngày ngày ngoài công việc trường lớp, về nhà H’De đầu tắt mặt tối lo việc trong nhà, việc ngoài rẫy để nuôi mấy đứa con ăn học và có tiền trả nợ. Từ một hécta cà phê đến bây giờ đã phát triển thành hai hécta, một tay chị tần tảo chăm sóc. Mỗi năm hai lứa heo xuất chuồng ước chừng được 6 tạ lại còn có nuôi thêm đàn gà nữa. Thương hoàn cảnh, có người bán chịu cho chiếc máy khâu thế là đêm đêm dưới ngọn đèn dầu chị cọc cạch đạp máy nhận hàng may vá thêm.


Thời gian ba năm nặng nề trôi qua, rồi chị cũng trả xong nợ cho nhà chồng, trả xong nợ cho Nông trường. Tưởng như chống chọi với việc nhà như vậy con người chị đã rã rời, ấy vậy mà việc trường việc lớp chị vẫn trọn vẹn. Điều kiện dạy học ở miền núi thiếu thốn đủ bề, chị đã tự tay sáng tạo ra những hình ảnh, những đồ dùng dạy học để minh họa hướng dẫn cho các em học sinh dễ hiểu. Chỉ những người thiết tha lắm với nghề như chị mới có được như vậy. Liên tục từ năm 1980 đến nay chị luôn được bình bầu là lao động xuất sắc. Chị bần thần nâng chén nước trà đặc đưa lên miệng trút một hơi như xả đi cái thời nhọc nhằn đã qua.


Giờ đây con đầu chị đã là y sĩ công tác tại Công ty cà phê EaTul, con rể là kỹ sư và chị đã trở thành bà ngoại. Đứa thứ hai đang học trung cấp y, ấy là chúng nghĩ về việc trả nghĩa cho người mẹ chịu nhiều mất mát hy sinh, chúng đi học để trở về làm sáng ra cái phong tục còn luẩn quẩn trong tâm tưởng người dân cứ còn giữ mãi cái lạc hậu trong đầu; đứa thứ ba học trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, đứa út đang học lớp 8.


Bỗng dung nhan chị tươi tỉnh hẳn lên: “Bây giờ mình mới có thể thực hiện được ước mơ”!


Tôi lấy làm ngạc nhiên, năm nay chị đã bốn nhăm tuổi và biết chị vẫn theo học bổ túc văn hóa cho xong chương trình trung học, sau đó đăng ký dự thi học tiếp bằng chuyên môn.


- Học xong chị vừa đủ tuổi về hưu?


 Tôi băn khoăn nhưng chính một lần nữa chị lại làm cho tôi thán phục.


- Còn một ngày công tác cũng phải học, học mới biết mà làm, học cho mình chứ mất đi đâu mà lo.


Tôi hiểu trong câu nói đó còn là tâm nguyện của cuộc đời chị ấp ủ bao năm nay. Anh Hồ Phước Củng bổ sung niềm tin cho tôi: “Chị ấy đã nói là làm, chưa được học chuyên môn nhưng làm Hiệu phó phụ trách chuyên môn không ai chê vào đâu được”.


Cứ nhìn vào bề dày thành tích của trường, của cá nhân chị thì rõ. Năm nào trường cũng được Sở giáo dục tặng giấy khen về phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”. Năm 1999, trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Riêng chị năm học vừa qua đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua.


Trước lúc ra về chúng tôi ghé qua thăm nhà chị. Căn nhà xây cấp bốn đẹp mắt, lát gạch men ngoại, tivi, tủ lạnh, xe máy… hàng rào xây có cửa sắt, trước sân rộng những đống cà phê đang đợi nắng. Tôi vội đem ý so sánh: ở đời có lắm người đủ vợ đủ chồng cũng đâu dễ bằng được chị – một người phụ nữ Êđê đã tự vượt lên số phận khắc nghiệt, giỏi việc nước, đảm việc nhà, luôn có trí tiến thủ không ngần ngại trước khó khăn, được mọi người trân trọng. Hèn chi kể cả đồng nghiệp nơi công sở, H’De vẫn được gọi bằng cái tên thân thiện: Mí Na.


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »