tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
08.02.2010
Nguyễn Liên
Trăn trở của người dạy chữ vùng sâu

Một huyện có nhiều làng xã biên giới, vùng sâu vùng xa như Tuy Đức, có biết bao con người đang âm thầm cống hiến chăm lo cho sự nghiệp “trồng người”. Khi còn chung huyện Dak R’Lấp, anh Nguyễn Xuân Thùy - Phó trưởng phòng Giáo dục   giới thiệu với tôi về một cặp vợ chồng, cả anh và chị đều có mặt từ những ngày đầu thành lập huyện, đều làm công tác dạy chữ gắn bó với các em học sinh dân tộc vùng sâu xã Dak R’Tih, Quảng Tân từ bấy cho đến nay, và hiện nay họ đều giữ trọng trách quản lý ở một nhà trường; đó là anh Trần Sỹ Du- Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Quang Trung xã Dak R’Tih và chị Lê Thị Tám- Hiệu trưởng Trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi xã Quảng Tân.


Từ thị trấn Kiến Đức trung tâm huyện Dak R’Lấp đi về hướng biên giới độ hai mươi cây số thì tới xã Dak R’Tih, huyện Tuy Đức. Lui về thời điểm của cách đây hai mươi năm chắc chắn cả khu vực rộng lớn mênh mông này chỉ có rừng xanh thâm u. Cho đến bây giờ  sau mấy chục năm đất nước đổi mới, người khắp nơi góp sức cùng đồng bào M’Nông bản địa khai lâm mở đất lập làng, chia xã Quảng Tân ra để lập thêm xã mới Dak R’Tih, có đường nhựa, có điện sáng, có trường học, có nhà xây... nhưng cứ nhìn dọc hai bên đường dân cư thưa thớt, đường hun hút như sợi chỉ vắt vào màu xanh của đại ngàn mới cảm thông xẻ chia với những con người từng có mặt nơi đây thuở rừng thiêng nước độc.


Giữa triền đồi trống gió mọc lên một khu trường tầng mái lợp ngói kiến trúc theo kiểu nhà dài Tây Nguyên. Tôi dừng lại trước cổng xây cửa sắt có tấm biển “Trường trung học cơ sở Quang Trung” đúng giờ một số lớp học đã tan, các em học sinh người xe đạp, xe máy, người đi bộ; tất thảy đều mặc đồng phục áo trắng quần xanh. Đấy là cảm nhận đầu tiên trong tôi về trật tự nền nếp của một môi trường giáo dục hiện diện giữa địa phương vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn như Dak R’Tih.


Anh Trần Sỹ Du hiệu trưởng thấy có khách lạ, liền ra cổng chào đón. Tác phong nhanh nhẹn, cổ áo thắt ca vát, ngoài khoác áo véc, anh nói với tôi khi đã an toạ ở phòng hiệu trưởng: “Giáo viên của chúng tôi lên bục giảng đều ăn mặc mô phạm, thắt ca vát!”. Tôi nghĩ để thành nếp một điều đơn giản vậy cũng đâu phải ai cũng thực hiện được. Thầy đến lớp không chỉ dạy chữ mà trước con mắt của lớp học trò chúng học ở thầy từ lời ăn tiếng nói, tác phong sinh hoạt... đó là những bài học để biết làm người. Có lẽ thế mà học sinh ở vùng sâu vùng xa này đã thống nhất được đồng phục khi đến trường. Để minh chứng, anh Du đưa tôi đi giới thiệu văn phòng nơi qui tụ mọi sinh hoạt của giáo viên. Những hình ảnh hoạt động của giáo viên, học sinh, bằng khen giấy khen được lồng trong khung kính trang trọng, báo tường trình bày khá đẹp, kế hoạch giảng dạy, sổ đăng ký thi đua... Tất cả những hoạt động đoàn thể, chuyên môn - Anh Du không phải giới thiệu cũng đã nói lên tất cả. Anh lại đưa tôi tới thăm lớp học, dãy tầng được phân chia cho 8 phòng học, 4 phòng tầng dưới, 4 phòng tầng trên, dựng cạnh chân cầu thang chính giữa khu nhà là tấm bảng nội qui nhà trường có những dòng chữ to mạch lạc qui định đối với học sinh đến trường “... Kính trọng lễ phép với thầy cô... không hút thuốc lá, đánh bạc...v.v...” Nếu như lúc đầu đứng trước cổng tôi ngỡ ngàng về một cơ ngơi thì lúc này đây tôi thực sự cảm phục về người hiệu trưởng - người chỉ huy về mọi nội qui nền nếp. Còn mấy lớp học sắp tan giờ, chúng tôi lướt nhanh qua các phòng học, phòng nào cũng được trang trí giống nhau: phía trên bảng là một câu khẩu hiệu nền đỏ chạy dài nhắc nhở học sinh kính thầy yêu bạn chăm chỉ học hành, cạnh lớp là khung bảng nội quy... Học sinh ngồi trật tự, giáo viên trang nghiêm trên bục giảng, ai bảo đây là một lớp học, trường học ở một vùng sâu.


Vậy mà cách đây chỉ mấy năm học thôi, tất cả còn ở điểm xuất phát. Cũng phải nhớ lại cái thời điểm xa hơn về sự có mặt và vận động của người hiệu trưởng trên vùng đất này. Anh Trần Sỹ Du vào ngành giáo dục đứng trên bục giảng từ năm 1979, có mặt ở các trường vùng sâu Quảng Phú (Krông Nô), Dak Rung (Dak Song)... đến năm học 1984 - 1985 chính thức về xã Quảng Tân làm hiệu trưởng trường trung học cơ sở (cấp 1 và cấp 2). Cũng thời điểm này thầy Trần Sỹ Du đã kết duyên với cô Lê Thị Tám - giáo viên cùng trường. Năm 1986 huyện Dak Nông tách ra thành lập thêm huyện Dak R’Lấp thì xã Quảng Tân cũng chia đôi thêm xã Dak R’Tih. Ngành giáo dục có quyết định thành lập trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi rút ra từ trường trung học cơ sở Bế Văn Đàn do chị Lê Thị Tám làm hiệu trưởng. Vậy là hai vợ chồng anh Du chị Tám từ đây mỗi người mang một trọng trách cùng song hành cho tới ngày hôm nay.


Nhớ lại ngày đầu đặt chân tới nơi tưởng như một vùng thâm sơn cùng cốc, ngã nước sốt rét đe dọa, đó đây trong huyện đã có người nản lòng “bỏ ngũ”, nhưng những con người đang nhận trách nhiệm mang con chữ văn hóa văn minh đến với đồng bào ở vùng Quảng Tân, Dak R’Tih này trong đó có vợ chồng anh Trần Sỹ Du, chị Lê Thị Tám thì dù núi rừng che cản tầm nhìn cũng không thể ngăn cản tầm nghĩ. “Nếu ai đến sợ khổ cũng bỏ đi thì đồng bào ở đây bao giờ mới có văn hóa!”. Anh Du suy nghĩ vậy và tôi tin ở anh, không vậy mà xã Dak R’Tih thành lập đã ở riêng mà học sinh vẫn băng rừng vượt dốc sang Quảng Tân học chữ. Cứ để vậy không chóng thì chày con chữ sẽ bị rơi rụng khỏi đầu thôi. Học sinh đến lớp sẽ giảm, thậm chí số học sinh lên học cấp 2 chắc chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.


Nghĩ vậy anh Du liền tham mưu với xã xây dựng trường cấp hai. Có được thêm trường học đứng chân tại địa phương cho con em thuận tiện việc đến lớp đến trường ai chẳng muốn, nhưng lấy tiền đâu mà xây dựng? Anh Du lại tham mưu cho xã làm kế hoạch trình đề nghị lên Hội đồng nhân dân huyện. Lúc ấy Tổng đội thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh đóng chân trên địa bàn huyện Dak R’Lấp, họ từng góp công sức khai hoang lập nông trường, từng để lại cho huyện nhiều công trình góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, tại sao mình lại không tranh thủ sự quan tâm đối với sự nghiệp giáo dục. Hội đồng nhân dân huyện nhất trí chuyển kiến nghị tới lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh. Không khó khăn gì phải bàn tính, không những trường học xã Dak R’Tih được xây dựng mà còn được ủng hộ xây dựng thêm trường Trần Quang Khải (xã Kiến Thành) trường mẫu giáo Sơn Ca (xã Quảng Tân).


Trường trung học cơ sở Quang Trung ra đời và anh Trần Sỹ Du được điều về làm hiệu trưởng, đó là năm học 2001 - 2002 với 82 học sinh và 5 thầy cô giáo. Hiệu trưởng lúc này lại phải đương đầu với thách thức mới, tám chục học sinh phân ra thành 3 lớp, 5 thầy cô phải gánh vác tất cả các môn dạy, dạy văn rồi dạy cả toán, dạy sử kiêm dạy sinh v.v... yêu cầu đặt ra “yếu hơn còn thiếu!” Đã vậy khi có trường học khang trang rồi, người đời vẫn chưa thôi phê phán: “lãng phí quá”, chỉ có 3 lớp học mà cả khu nhà tầng: “không biết tính toán chút nào, rõ là lãng phí...!”.


Mới 2 năm số lượng học sinh đã tăng lên 263 em chia cho 7 lớp trong đó học sinh dân tộc tại chỗ chiếm 72%. Một điều làm cho tiếng dị nghị xì xèo tắt hẳn đó là năm học 2003 - 2004 học sinh lớp 9 thi đỗ tốt nghiệp đậu 100%, chưa tin, đến năm 2004 - 2005 vừa qua huyện trực tiếp về tổ chức điều học sinh ra trường Quảng Tân thi, vẫn đậu 100%. Không những đồng nghiệp mà nhân dân mới tin tưởng chắc chắn ở chất lượng giáo dục của nhà trường. Hiện nay cán bộ giáo viên nhà trường đã có 17 người trong đó có 7 Đảng viên thành lập 1 chi bộ Đảng, có 3 giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 2 chiến sỹ thi đua cấp huyện, 80% giáo viên khá giỏi, 20% giáo viên đạt yêu cầu không có yếu kém. Tháng 10 năm 2005 vừa qua thanh tra giáo dục tổ chức thanh tra trường THCS Quang Trung đã kết luận: “Môi trường sư phạm đảm bảo, tính giáo dục cao. Trường lớp học sinh ngoan. Chất lượng giáo dục đáp ứng với việc thay sách giáo khoa. Nội bộ giáo viên đoàn kết nhất trí”. Người hiệu trưởng 4 năm liền đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua, theo tôi anh phải được công nhận những danh hiệu cao hơn thế nữa đối với công lao xây dựng một ngôi trường, một môi trường sư phạm từ không thành có như ngày hôm nay.


Trên đường về huyện chúng tôi ghé thăm nhà anh chị, tuy con đường đã đổ cấp phối nhưng bụi đỏ vẫn cuốn lên vương vít trên đường đi. Nơi gia đình anh định cư là một “làng giáo viên”. Bởi thời anh còn làm hiệu trưởng trường THCS Bế Văn Đàn được huyện cấp cho giáo viên hẳn một khoảnh đồi để chia nhau mà “an cư lạc nghiệp”. Mỗi nhà có hơn một hécta làm nhà, trồng cà phê cải thiện đời sống. Trước khu nhà xây khang trang là một cái sân rộng chất đống cà phê đang đợi chủ nhân về trang phơi, tôi bách bộ một vòng quanh xóm, nhà nhà đều vậy. Họ là những giáo viên Trường Bế Văn Đàn ra đi bây giờ làm lãnh đạo ở nhiều trường khác nhau nhưng nơi để lui về gắn bó vẫn là cái làng giáo viên đầm ấm tình người này. Thăm thú nhà cửa làng xóm một lúc thì chị Lê Thị Tám mới về, chị chào chúng tôi và giải thích khi nghe chúng tôi nói vui sao lãnh đạo lại về muộn vậy. “Là người lãnh đạo bao giờ cũng phải đến trước mọi người và về sau mọi người”.


Tôi thầm nghĩ, đôi vợ chồng nhà anh Du chị Tám rõ tâm đầu ý hợp, hèn chi việc nhà, việc nước cứ trọn vẹn mà đồng hành đi lên. Chị Tạ Thị Bình - Trưởng phòng Giáo dục huyện Dak R’Lấp cho tôi biết chị Tám là một hiệu trưởng giỏi, hiện trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi do chị phụ trách đang tiến hành xây dựng thành trường chuẩn quốc gia. Anh chị có 4 người con, cô gái đầu hiện là giáo viên toán tin trường cấp 3 Dak R’lấp, đứa thứ 2 đang học Đại học y khoa, con thứ 3 học chuyên toán THPT Dak Nông và cô út học lớp 9 chuyên, vừa qua đậu 3 môn học sinh giỏi: Toán, Hóa, Anh Văn.


Tôi không ngạc nhiên lắm trước thành quả của một cặp vợ chồng với một tổ ấm gia đình như vậy. Trước khi chia tay tôi đem điều băn khoăn bấy lâu về chính sách chế độ ưu tiên thu hút đối với giáo viên về nhận công tác vùng sâu mới được thực hiện 5 năm nay, còn những người có mặt ở vùng sâu ngay từ những ngày đầu còn muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh lại không được gì, đã có biết bao những thầy cô giáo như anh Du chị Tám như người đi “khai hoang”, không ít người mang di chứng của căn bệnh sốt rét rừng ảnh hưởng tới cả tương lai hạnh phúc, nếu đem “cân đong đo đếm” chẳng thiệt thòi lắm sao?!


Anh Du nói lời cảm thông: “Đất nước lúc ấy còn khó khăn chắc không có kinh phí để trang trải!”. Chị Tám không phàn nàn mà chỉ cười: “Đã có huy chương Vì sự nghiệp giáo dục còn gì!”.


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 


         

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »