tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
04.11.2010
Nguyễn Gia Nùng
Người chiến sỹ ấy

Viết về liệt sĩ Ngô Đến, một người con của quê hương Khánh Hoà đã hy sinh ở nhà tù Côn Đảo.


            Có một người tù, trước lúc hy sinh còn khiến kẻ thù run sợ


            Sáng mãi tên anh trên hòn đảo anh hùng, trên thành phố quê hương…


            Tôi viết mấy câu thơ trên đây để mở đầu cho bài thơ viết về liệt sĩ Ngô Đến, người con của quê hương Khánh Hoà đã oanh liệt hy sinh sau thời gian dài đấu tranh bất khuất với kẻ thù trong nhà tù Côn Đảo cách đây vừa tròn 45 năm. Anh đã bị kẻ thù bí mật đưa đi thủ tiêu cùng với 4 chiến sĩ cộng sản khác sau khi chúng biết không thể dùng vũ lực tra tấn dã man đến mức nào hay thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ có thể khuất phục nổi các anh. Chúng vùi xác anh trong một ngôi mộ tập thể được lấp vội vàng trong đêm và san phẳng mặt đất, hòng phi tang và khiến mọi người có thể quên tên các anh trên mặt đất này. Nhưng rồi tấm bia đề tên các anh đã sừng sững mọc lên mà nay ai có dịp viếng thăm nghĩa địa Hàng Dương, Côn Đảo đều xúc động đọc tên các anh như những nhân chứng lịch sử không thể nào quên của nơi từng là “địa ngục trần gian”, nay đã trở nên hòn đảo anh hùng đang từng ngày đổi mới trên con đường đến ấm no, hạnh phúc, biến nơi đây thành chuỗi ngọc xanh của vùng biển phía Nam Tổ quốc.


            Và những ngày này, tên anh - Ngô Đến - được lấy đặt cho một con đường thân yêu của thành phố quê hương, nơi anh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước còn nô lệ, anh đã chọn con đường cách mạng, không tiếc tuổi xuân, sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho lý tưởng, cho dân, cho nước...


***


            Thật ra không phải bây giờ, tên anh mới được mọi người biết đến.


            Trong tác phẩm “Bất khuất” của đồng chí Nguyễn Đức Thuận, một người bạn tù kiên trung cùng với anh tại nhà tù Côn Đảo đã hơn một lần nhắc đến anh. Cuốn sách được xuất bản tháng 4 năm 1967 ở miền Bắc với độ dày 490 trang, số lượng phát hành hàng chục vạn bản, sau đó còn được tái bản nhiều lần, được coi là một trong những cuốn sách gây chấn động những ngày đó.


            Sau đây là một số đoạn trích trong cuốn “Bất khuất”:


            “Bắt đầu cuộc đời chuồng cọp. Về đây tôi ở chung gian với anh Lưu Chí Hiếu, Năm Thành, Ngô Đến và cháu Mười.


            Hôm qua tôi mới quan sát thiệt kỹ chuồng cọp. Nó chỉ là một kiểu xà lim đặc biệt thôi. Đặc biệt ở chỗ nào, lát nữa sẽ nói đến. Ngay cửa vào là chỗ để thùng tiêu. Cách cửa nửa mét là bệ nằm cao chừng ba mươi phân, dài hai mét, rộng một mét rưỡi, bằng cả bề ngang gian chuồng cọp: Tường bằng đá, anh Phan Trọng Bình đã có lần đo vừa hết một tầm tay từ nách đến đầu ngón, dày khoảng tám mươi phân. Trần hở là hai mươi chấn song sắt bắt ngang, mỗi chiếc song sắt cách nhau độ mười phân. Côn Đảo có cả thảy hai dãy chuồng cọp, mỗi dãy dài bảy mươi mét, chia thành hai hàng áp lưng vào nhau trông ra hai lớp hiên, mỗi hàng có ba mươi gian. Bức tường chạy ở giữa, ngăn đôi hai hàng chuồng cọp này dày một mét. Cùng với các bức tường ngăn các gian chuồng cọp, bức tường này làm thành một hệ thống đường đi ở ngay trên đầu người tù. Và từ những con đường đó xuống đến mặt đất sâu bốn mét nữa. Đứng ở trên các con đường này nhìn xuống các gian chuồng cọp thấy hun hút, luôn luôn nhá nhem, mờ mờ. Trong cái bóng tối mung lung đó, những người tù râu tóc bù xù đến vai, đến ngực lê la, nằm vạ nằm vật giống những con vật bị nhốt trong cũi sắt thật.


            Kiểu xà lim chuồng cọp này đặc biệt ở chỗ người tù vào trong đó không còn một chút tự do. Các xà lim khác, các hầm tối khác, các casô khác kinh khủng đến đâu cũng thua chuồng cọp: khi đã đóng cửa lại, xà lim là của người tù. Người tù còn được một khoảng đất chật hẹp tăm tối làm của mình. Khoảng đất ấy dẫu đầy sự chết chóc đau thương - Về phần này cũng đã kém xa chuồng cọp rồi – nhưng vẫn là của người tù. Người tù còn có cái được tự do được sống kín một mình. Ở chuồng cọp hoàn toàn mất hết. Vào đây là ngày đêm anh ở dưới mắt của địch. Chúng đi lại thường xuyên trên bề dày các bức tường, nhìn qua các song sắt kiểm soát anh. Người tù không lúc nào thấy mình thuộc về mình. Và cái tâm lý ấy đáng sợ lắm. Luôn luôn nơm nớp. Luôn luôn dè chừng. Luôn luôn rợn gáy. Chợt nhìn lên đã thấy lù lù bóng chúng nó và những ánh mắt trắng dã độc ác. Luôn luôn chờ một vật gì: Mẩu thuốc đang cháy, một cái gậy, một hòn đá bất thần ném xuống.


            ... Tóm lại, suốt ngày đêm mình bày ra đấy cho chúng làm tình, làm tội.


            Sau mấy năm ở chuồng cọp, chúng tôi đã nhất trí với nhau rằng, trên trái đất này, có lẽ người mất tự do nhất là những tù ở chuồng cọp”. (Tr.273-274)


            “ Thằng Phước tái mét mặt lại. Hai tay nó hết nắm lại mở, run lên. Nó nghiến răng chỉ vào tôi:


            “Ông thế nào, tôi không lạ đâu. Ông này, Ngô Đến này, đó, hai tay lãnh đạo ở chuồng cọp đó, phải không? (Tr 316)


            “...Thằng Phạm Sao nói tiếp thằng Út, giọng khinh bạc:


            - Con số trên 20 người này không đủ làm mồi cho cá đâu! Hừ, tôi nói để các anh biết: đời các anh chấm dứt từ ngày hôm nay. Tôi nói lại: đời các anh đây, rõ không, chấm dứt từ ngày hôm nay! Hạn mười ngày của thiếu tá đã hết rồi, thôi hết phương cứu vãn.


            Chiều hôm đó không thằng nào vào gặp chúng tôi. Bọn nhân viên, công an đứng trên trần nhìn chúng tôi bằng cặp mắt khác: có vẻ chán chường, vẻ chán chường của những người sắp hết nợ, được phủi tay, rảnh rang.


            ...Khoảng một, hai giờ đêm, tiếng xe đỗ xịch ở cửa chuồng cọp. Mấy thằng vào, đấm cửa gian anh Ngô Đến.


            Chúng tôi đều thức dậy, nằm nghe. Chúng gọi:


            - Ra.


            Tiếng anh Ngô Đến:


            - Ra thì ra!


            Rồi tiếng anh Lê Văn Một:


            - Cả tôi nữa chứ?


            - Phải.


            Xe lại rú phóng đi. Bọn công an trên trần nhà nhổ nước bọt bảo nhau:


            - Thế là “rồi” hai thằng.


            - Chắc là ra Hàng Dương?


            - Ừ, thì chiều đã đào huyệt sẵn


            Sáng sau, chúng tôi hồi hộp chờ tin hai anh Ngô Đến và Lê Văn Một. Lừa lúc bọn chúng đi rửa mặt đánh răng, chúng tôi hỏi vọng sang chỗ hai anh:


            - Sao? Về hay không?


            - Không thấy về!


            Thôi, chúng giết hai anh rồi! Chúng tôi hết sức ngậm ngùi. Tôi cứ như còn nghe văng vẳng bên tai tiếng anh Ngô Đến bình tĩnh:“Ra thì ra!” Và tiếng anh Lê Văn Một ngái ngủ:“Cả tôi nữa chứ?”. Hai anh thế là hy sinh rồi! Sắp đến phiên chúng tôi”. (Tr.319 – 320)


            Về cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất, chống “ly khai” ở lao 1 và chuồng cọp của những chiến sĩ cộng sản kéo dài suốt mấy năm, khiến gần một nghìn người đã hy sinh nhưng khiến kẻ thù phải khiếp sợ, cuối cùng chúng phải trả lại tự do cho họ nhưng con số khi ấy chỉ còn lại 5 người, trong đó có đồng chí Nguyễn Đức Thuận. Được trả tự do, về lại miền Bắc, những năm sau đó, đồng chí Nguyễn Đức Thuận đã trở thành Chủ tịch, Tổng thư ký Tổng Công đoàn Việt Nam và đã ghi lại rất tỉ mỉ cuộc đấu tranh “chống ly khai” ác liệt chưa từng có mà đồng chí là một trong những nhân chứng. Trong “Bất khuất”, đồng chí Nguyễn Đức Thuận đã dành nhiều trang xúc động, cảm phục viết về đồng chí, đồng đội trong tù, trong đó có Ngô Đến, một trong những chiến sĩ kiên cường đã hy sinh vào những ngày cuối cùng của cuộc đấu tranh “Chống ly khai” không thể nào quên ấy.


            Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, bộ máy nguỵ quyền tay sai của đế quốc Mỹ, cùng với bộ luật 10/59 đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém đi khắp nơi, gây ra những cuộc tàn sát đẫm máu, những chiến dịch “tố Cộng”, “diệt Cộng” diễn ra liên tiếp, đối với “tù can cứu” (những người bị bắt không có tang vật, chứng cớ, phần lớn là những người kháng chiến cũ) chúng cũng thi hành một hình thức nguy hiểm thâm độc nhất, chưa từng có, được thực thi như là một thử nghiệm ở nhà tù Côn Đảo. Đó là truy bức, cưỡng ép người tù phải “ly khai hàng ngũ Cộng sản”.


            Chủ trương này được chúng nghiên cứu rất tỉ mỉ, công phu với những bước tiến hành cực kỳ chặt chẽ cùng nhiều thủ đoạn nham hiểm mà chúng chắc chắn không thể có người tù cộng sản nào có thể chịu đựng nổi.


            Đầu tiên. bất cứ người tù nào khi mới đặt chân lên đảo cũng đều bị chúng buộc phải viết một tờ “ly khai”. Đúng theo mẫu chúng đã in sẵn, chỉ cần điền vào những chỗ trống cho phù hợp. Chúng nói đây là hồ sơ cần thiết để có thể xét miễn giảm sớm cho người tù. Tờ khai gồm những mục chính là tên, tuổi, bí danh, tên cha mẹ, quê quán, lý do bị bắt. Đó chỉ là những điều rất thông thường, anh không khai thì địch cũng đã biết rồi. Câu in sẵn gài bẫy rất thâm độc của chúng là: “Nay được biết chủ trương chính sách của chính quyền quốc gia, tôi xin tự nguyện ly khai ra khỏi hàng ngũ cộng sản để cải tạo tư tưởng, phục vụ chính nghĩa “quốc gia”, nguyện cố gắng học tập, cải tạo tích cực cộng tác và thi hành nội quy trong trại. Mong được lượng khoan hồng của Chánh phủ sớm cho trở về sum họp với gia đình, làm nghĩa vụ của người công dân”.


            Nếu người tù chịu viết và ký tên vào tờ khai “nhập trại” này thì rõ ràng là bản đầu thú.


***


            Vậy là ngay từ đầu bước chân lên đảo, với hành động không chịu viết và ký tên vào “giấy nhập trại”, hàng nghìn người tù cộng sản và những người yêu nước khác đã phải chịu những đòn thù, tra tấn dã man, sự truy bức điên cuồng của kẻ thù. “Ly khai” và “chống ly khai” đã trở thành trung tâm cuộc đấu tranh quyết liệt, một mất, một còn giữa ta và địch ở nhà tù Côn Đảo trong những ngày ấy.


            Do chính sách cưỡng ép “ly khai” của địch, tù can cứu ở Côn Đảo chia ra thành hai loại ở hai lao khác nhau; Lao 1 là lao của những người “chống ly khai”; lao 2 là lao của những người đã chịu “ly khai”. Hai lao chỉ cách nhau có một bức tường, nhưng hai chế độ chính trị và sinh hoạt khác hẳn nhau. Mặc dù chế độ ăn uống có khá hơn lao 1 chút ít nhưng về đời sống tinh thần, tù nhân ở lao 2 bị dằn vặt đau khổ khủng khiếp hơn nhiều. Trong khi ở lao 1 “chống ly khai”, tù nhân chỉ bị đánh đập, hành hạ về thể xác nhưng tinh thần vẫn kiên trung, chỉ một lòng một dạ với cách mạng, với Đảng, với dân thì ở lao 2 vì do không chịu nổi sự khủng bố của kẻ thù hoặc do quan niệm, nhận thức chưa thấy hết âm mưu của địch, mà nhận “ly khai” thì tinh thần luôn bị dằn vặt, đau đớn từng giờ từng phút. Địch bắt ngày nào cũng phải chào lá cờ ba que, ngày ngày phải hát bài “quyết tâm diệt cộng”, hô khẩu hiệu “đả đảo lãnh tụ”, “muôn năm Ngô Tổng thống” rồi gặp chúng phải đứng “nghiêm“ chào, hô khẩu hiệu chống Cộng. Rồi phải ký “kiến nghị tri ân” Diệm trong những ngày lễ lạt của chúng, “kiến nghị” hoan nghênh luật 10/59 và rất nhiều người ở lao 2 không chịu nổi những hành hạ về tinh thần như vậy đã phải trả giá bằng cái chết chứ nhất định không chịu đầu hàng địch. Trong hoàn cảnh thực tế diễn ra như vậy, những người tù ở lao 1 – lao “không ly khai” – luôn khiến kẻ địch tức tối điên cuồng nhưng lại được hầu hết các lao khác kính nể, như một tấm gương về giữ vững khí tiết của người cách mạng. Tất nhiên, trong quá trình diễn biến của cuộc đấu tranh dai dẳng, khồc liệt và kỳ lạ có một không hai ấy, cùng với số người chết vì đòn thù, vì bệnh tật, cũng có những người chịu không nổi đã phải chấp nhận “ly khai”, rời bỏ đội ngũ để rồi tiếp tục bị hành hạ ở một nơi khác. Điều đáng mừng là, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Ngô Đến, toàn bộ số tù chính trị của tỉnh Khánh Hoà ở lao 1 không có ai trong số người bị giặc phân hoá trong suốt quá trình chống ly khai. Với ý chí kiên cường, tình yêu thương đùm bọc với đồng chí, đồng đội, từ năm 1957 cho đến khi bị địch bí mật đưa đi thủ tiêu, đồng chí Ngô Đến đã làm tròn trách nhiệm một Bí thư chi uỷ của khám lao 6, lao 1 rồi Bí thư lao uỷ lao 1. Trong số những tài liệu được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Côn Đảo hiện nay còn có bản “xác định lập trường” với những dòng chữ viết tay, nét chữ rất rắn rỏi, rõ ràng của đồng chí Ngô Đến:


            “Côn Sơn, ngày 24 tháng 03 năm 1961


            Giấy xác định lập trường


            Tôi tên Ngô Đến, bí danh Dã, sinh năm 1916, chánh quán tỉnh Khánh Hoà. Tôi không ly khai để ra trại sinh hoạt được là vì:


            -Đường lối đấu tranh Hoà bình - Thống nhất - Độc lập của dân tộc của Cộng sản phù hợp nguyện vọng nhân dân và tôi.


            -Ly khai là từ bỏ nhiệm vụ cách mạng chân chính bước sang con đường khác, đi ngược ý muốn toàn dân, trái với đường lối đấu tranh hoà bình, thống nhất. Đã không làm tròn nhiệm vụ cách mạng, không bảo vệ lập trường đấu tranh mà còn bị tiêu diệt sinh mệnh chính trị, tổn thương cách mạng và cá nhân tôi.


                                                                        Đương sự


Ngô Đến”.


            Trong lời tựa cho cuốn sách “Nhà tù Côn Đảo 1862 – 1945” do Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội ấn hành năm 1987, đồng chí Phạm Văn Đồng, một trong những cựu tù Côn Đảo đã viết: “Nhà tù Côn Đảo luôn luôn là chiến trường cách mạng đấu tranh quyết liệt với kẻ thù. Cuộc chiến đấu bất khuất đầy dũng cảm và thông minh của các chiến sĩ Côn Đảo là những trang chói lọi của lịch sử cách mạng, được nối tiếp và nhân lên trong chủ nghĩa anh hùng cách mạng rực rỡ của nhân dân ta qua kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”.


            Rất nhiều chiến sĩ cộng sản xuất sắc, những người con ưu tú của dân tộc đã từng bị giam cầm và đấu tranh bất khuất trong nhà tù Côn Đảo mà tên tuổi của họ mãi mãi sáng ngời trong lịch sử cách mạng Việt Nam: Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Trần Cao Vân, Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Tống Văn Trân, Tôn Đức Thắng, Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Duy Trinh... Hàng nghìn người khác đã bị vùi xác ở nghĩa địa Hàng Dương, trong số đó có liệt sĩ Ngô Đến, người con ưu tú của quê hương Khánh Hoà.


            Đồng chí Ngô Đến, sinh năm 1916 tại Xóm Bóng, làng Cù Lao, quận Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hoà, nay là khóm Tháp Bà, phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang. Tham gia cách mạng ngay từ năm 1945, khi chưa đầy 20 tuổi, được kết nạp Đảng năm 1946 từng nhận các nhiệm vụ: Chủ tịch Ủy ban Hành chính xã Vĩnh Hòa, huyện ủy viên Huyện uỷ Vĩnh Xương, Phó Bí thư Huyện ủy Vĩnh Xương, Trưởng ty Giao bưu tỉnh Khánh Hòa. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký năm 1954, đồng chí không đi tập kết, được phân công ở lại tiếp tục hoạt động, bị địch bắt năm 1957 và hy sinh tại Côn Đảo ngày 27/3/1961.


            Ngày nay ở Nha Trang có một con đường được đề nghị mang tên liệt sĩ Ngô Đến, đó chính là con đường gần Tháp Bà, nơi anh được sinh ra và trưởng thành theo cách mạng.


(còn tiếp)


Nguồn: Có một Nha Trang thầm lặng. Tập Ký của Nguyễn Gia Nùng. NXB Văn học, 11-2010.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »