Bây giờ gia đình tôi đã sum họp, vợ tôi ở Campuchia đã về trở lại, chuẩn bị đón mùa xuân mới. Cây xoài sau nhà đã trổ hoa, thoang thoảng hương thơm, Cu Ti tung tăng dưới bóng mát, chơi đùa vô tư thơ dại.
Quấn quít đôi mắt cười, tay bơi cánh én
Con chập chững chọn đường đi ấm áp giữa muôn người
(thơ Trần Sơn Nam)
Ngày 22 tháng 12 năm 1987, sản phẩm xe lăn của tôi ra đời, trong những điều kiện khó khăn. Tôi giao 40 chiếc xe đầu tiên cho Cục Quân y, do trung tá Hùng tiếp nhận. Tôi đã có đà, tiếp tục sản xuất xe lăn tay, một sản phẩm mà tôi đắc ý.
Tết năm 1987, đến với gia đình tôi, thanh bình và vui tươi.
Những ngày tháng của những năm 1986 và 1987 là thời kỳ quyết liệt nhất của tôi khi làm lại cuộc đời, không kể ngày đêm, sáng, trưa chiều tối. Hai con gái đi học. Cu Ti không ai coi sóc, buộc lòng phải gởi nhà trẻ. Lúc này Cu Ti mới khoảng 18 tháng tuổi, hằng ngày phải đón đi và đưa về. Nhà trẻ ở phường 13 cách nhà không xa lắm. Sáng nào khi gần đến trường, Cu Ti khóc thét lên, giẫy nẩy, không muốn vào lớp, thương con nhưng không chút xót xa, nhiều lúc phải đét vào đít để Cu Ti vào trường. Ti đòi gì tôi chìu, đi ngang gánh xôi, đòi ăn tôi mua cho, nhưng khóc thống thiết đòi theo tôi về, thì không được. Nhiều lúc nghe tiếng thét của Cu Ti, tôi như có ai xát muối vào lòng, nhưng cũng phải quay mặt giao cho người giữ trẻ, vì tương lai của con, và sự nghiệp chung của gia đình.
Buổi trưa, đi làm về, ghé chợ mua thức ăn về nấu cơm để thợ thuyền cùng ăn. Ngang qua nhà trẻ, nghé mắt vào, thử xem Cu Ti sống, học làm sao? Ở tuổi này, Cu Ti bụ bẫm, đẹp như một thiên thần. Mặc dù tôi đã cố gởi gắm cho nhiều cô giáo, vậy mà ba tháng sau Cu Ti bị sưng phổi. Đây là hậu quả của sự thiếu trách nhiệm của các cô nuôi dạy trẻ, một phần do các cô không được đào tạo đến nơi, đến chốn, và cũng vì Cu Ti còn nhỏ tuổi đã phải xa người thân.
Đưa Cu Ti chữa chạy nhiều bác sĩ, không hiệu quả. Sau đưa đến bác sĩ Hà bệnh viện nhi đồng II, phát hiện Cu Ti sưng phổi nặng. Ngày hai lần phải chở đến bệnh viện tiêm thuốc. Nhà chỉ có một xe Honda tôi đi làm, hằng ngày, nhẩm tính lại tiền xích lô từ quận 11 đến bệnh viện nhi đồng II, cao hơn tiền thu nhập của tôi trong ngày nếu tính cả tiền thuốc. Nhưng cần phải có mặt tôi để điều động nhóm thợ đục thùng conex ở Tân Cảng, nên hằng ngày đành để Nina hay vợ tôi đưa Cu Ti đến bệnh viện bằng xích lô.
Mười lăm ngày sau, Cu Ti hết bệnh, cho Cu Ti ở nhà luôn, cậu bé thích thú lắm. Được các chị và mẹ thay phiên nhau chăm sóc. Sau này khi có chuyện cần phải ở nhà một mình, Cu Ti thường đặt câu hỏi đầu tiên “Ai chăm sóc con?”.
Việc Cu Ti bị sưng phổi, trách nhiệm hoàn toàn về người cha, tôi không suy tính và quá cứng rắn, bây giờ mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn bồi hồi, và thật sự hối hận vì những cú đét vào đít, gương mặt làm ra vẻ lạnh khi Cu Ti hét lên. Đưa con đến một cái chuồng, mãi khi vào cổng, những đứa trẻ khác cũng thét lên, các bậc cha mẹ quay mặt… Tôi cũng không lường hết hậu quả là nơi đó sẽ hại con mình. Tôi quá ngu đã để con lại mà về cho đành!
Ta con bê vàng, lạc ráng chiều xanh
Đi mãi tìm sim chẳng chín
Ta lên đồi thông
Nằm miếu hai cô gặm cỏ mưa phùn
Gióng đã gọi về đồng sương
Đôi ba người lận đận
Đêm nay mẹ chẳng về chuồng
(thơ Hoàng Cầm)
Bỗng nhiên tôi lại nhớ đến mấy câu thơ của Trần Sơn Nam trong thi phẩm “Thuở trầm tư”.
Theo mẹ thì mềm
Theo cha thì cứng
Theo thầy và thánh hiền thì cao xa
Theo thế sự nhân tình thì điên đảo
Mềm như mẹ cũng làm con hư. Cứng như cha, dễ làm con thất bại. Tôi nghiệp cho những đứa trẻ, trong đời thiếu một mềm hoặc một cứng của cha hay mẹ. Răng cứng thì gãy trước, lưỡi mềm tồn tại lâu.
Bên những đam mê vui vẻ hoạt động Văn chương tôi phải làm việc như điên như cuồng. Mấy ngàn thùng conex ở tổng kho Long Bình, tôi đang chặt xẻ. Mà đây cũng không phải là nghề lâu dài, vì nguồn conex sẽ hết. Tôi muốn tìm một nghề gì vững chãi có thể truyền lại cho cháu sau này. Mấy năm trước có người hỏi tôi hết conex thì làm công nghệ gì, tôi không trả lời. Bây giờ tôi phải tự trả lời.
Thời mở cửa, nhà nước cho tư nhân kinh doanh xăng dầu nghĩa là có thể mở được cây xăng. Tôi đã dành dụm được vốn.
Tôi mua một chiếc xà lan bán xăng dầu trên sông, một mình mua chiếc xà lan chở lúa bảy cây vàng về sửa thành cây xăng dầu trên sông.
Sông Sài Gòn đây. Cuối cùng tôi xin đậu gần bãi rác gần cầu Hàn, bên đường Trần Xuân Soạn, cách cầu Tân Thuận chừng vài trăm mét. Lúc đầu ai cũng nói tôi có điên mới tìm chỗ đậu dơ dáy như thế. Hai năm sau ai cũng nói sao ông hay thế, tìm được chỗ đậu xà lan trên xe, dưới tàu ngay khúc cua ai cũng nhìn thấy. Tôi thường có tầm nhìn xa trước mọi sự kiện. Ngay căn nhà tôi đang ở số 28 đường Lê Đại Hành cũng thế, tôi chọn mua chỗ bãi rác. Mình nghèo chọn chỗ người ta chê, và sau có thể cải tạo được.
Ngày 14 tháng 7, tôi làm lễ hạ thủy xà lan tại xưởng sửa chữa bên cầu Thị Nghè, rồi sau đó phải đưa ra cửa biển Cần Giờ cho cơ quan chuyên môn kiểm tra kỹ thuật. Tôi chưa quen sông nước, chưa quen nghề xăng dầu. Chao ôi, chuyện gì sẽ xảy ra trên đoạn đường dài sông nước mênh mông. Tôi rủ theo mấy người bạn thân đi cùng.
Ngồi bên boong tầu tôi đăm chiêu suy nghĩ. Nhìn một đôi vợ chồng trên một chiếc xuồng câu đi giăng đăng, thả lưới để bắt tôm, bắt cá. Chiếc xuồng của họ chỉ chở được 200kg còn tôi đang làm chủ chiếc xà lan 120 tấn, gấp 6100 lần. Nhưng mà ai hạnh phúc hơn ai, sao mà biết được. Hàng ngày kiếm một mớ cá, một mớ gạo, mớ rau, họ cũng có hạnh phúc đơn sơ với sông nước. Còn tôi nếu không lái nổi, nếu không bỏ neo đúng, thì con tàu này sẽ là tai họa. Tàu vẫn chạy, bèo giạt hoa trôi. Ngồi trên đài chỉ huy, nhìn về phương trời xa lạ, mà lòng buồn vô hạn. Đến chiều, tôi vẫn chưa biết mình ăn cơm hay chưa. Mọi người nhìn vào mắt tôi và để yên cho tôi suy nghĩ.
Rồi con tàu cũng cập được bến rác để kinh doanh. Trời cũng không phụ người có chí, xà lan xăng dầu kinh doanh đúng vào lúc xảy ra chiến tranh vùng Vịnh, nên tôi thu được một số lời lớn khoảng 4 cây vàng để xây dựng cây xăng Bình Thái. Bây giờ thì xà lan dầu đã đứng vững vàng dưới sự quản lý của ông ngoại các cháu. Đây là chiếc xà lan duy nhất của cả nước bán xăng dầu cho tàu ghe trên sông và xe cộ trên bờ.
Lập xà lan bằng tiền lời kinh doanh thùng conex. Bây giờ xà lan có lãi, vốn để dành mười lăm cây vẫn còn, tôi mua một miếng đất ở Ngã tư Bình Thái.
Thứ hai, Bảng đang đưa trước cho người đi nước ngoài buôn vàng. Mỗi lần vài ký, sau đó trở về bán lại rẻ hơn. Bảng hỏi tôi có được không? Không được! Chỉ một thời gian đầu, sau đó nó gom cho khá rồi nó giựt luôn. Nếu nó không giựt, đi lâu ngày Hải quan cũng bắt, mày cũng mất vốn. Bảng vừa rút là vừa bị bể. Thằng kia đi tù vì tội buôn vàng lậu.
Lần thứ ba, Bảng bán 50 cây vàng vừa lấy lại của vụ buôn trước. Bán lấy tiền gởi vào Gia Định Công ty của Phạm Công Tước. Bảng hí hửng nói với tôi mỗi tháng lấy mấy cây tiền lời. Tôi vẫn không nói gì, gởi định kỳ ba tháng, lấy lãi gởi tiếp tới. Một hôm tôi đến bán vàng để xây dựng cây xăng, gặp cô Thúy, vợ Bảng, một người vợ tử tế. Tôi nghĩ mình không nói không được. Tôi nói với hai vợ chồng Bảng: tiền gởi Phạm Công Tước phải lấy lại, còn để là sẽ mất sạch. Cách làm của Tước là lừa, sớm muộn gì nó cũng giựt. Đáo hạn, Bảng rút tiền ngay mười ngày sau, Phạm Công Tước giựt nợ năm tỉ, trốn ra nước ngoài, vợ đi tù.
Tôi có được hai ký vàng Bảng cho mượn, mua được bốn xe xăng dầu để bán, xoay sở được trong lúc chật vật.
Giữa tháng 9-1990 chiến tranh vùng Vịnh bùng nổ. Trước đó, Iraq đem quân vào chiếm Kôoét. Vua Kôoét và gia đình phải di tản ra nước ngoài. Để lập yên trật tự thế giới, Mỹ đổ quân vào vùng Vịnh, yêu cầu Sađam Hussen rút quân ra khỏi Kôoét thực hiện nghị quyết của Liên Hiệp Quốc.
Sadam Hussen không thi hành, bất ngờ nửa đêm Tổng Thống Bush ra lệnh tấn công thẳng vào Batđa. Sadam Hussen lẩn trốn dưới hầm sâu. Mọi căn cứ chứa vũ khí bí mật của Sadam Hussen đều bị phát hiện. Có những căn cứ dấu máy bay dưới nhà thờ cũng bị phát hiện. Mỹ kêu gọi phải hủy bỏ, bằng không không quân Mỹ sẽ đánh luôn nhà thờ, hết đường trốn. Không quân Mỹ oanh tạc khắp nơi. Mọi loại vũ khí và quân Batđa đều tê liệt.
Mỹ đổ bộ lên Kôoét, quân Iraq rút khỏi Kôoét. Quân đội Mỹ được chỉ huy bởi một vị tướng mà trong chiến tranh Việt Nam ông mang cấp bậc Trung tá. Báo chí Việt Nam đăng hình một Trung tá Mỹ cao lớn đang dìu một thương binh Việt Nam cộng hòa, dưới để “Người chỉ huy chiến tranh vùng Vịnh”. Còn hình Sadam Hussen, báo chí Việt Nam đăng tải với lời ghi “Người lính không quân hàm”.
Đặc biệt, Tổng thống Iraq đang lẩn trốn dưới hầm sâu. Chỉ cần bảy ngày đã giải quyết xong chiến tranh Vùng Vịnh. Nhưng tất cả các giếng dầu, sau khi quân Iraq rút khỏi Kôoét đều phá hủy. Mấy trăm giếng dầu đều bị đốt cháy ngày đêm. Quân Mỹ lo dập tắt ngọn lửa hung tàn này cho nhân loại. Mỹ đưa quân ào Iraq nhưng không tiến thẳng vào Bátđa để bắt sống Sađam Hussen trừ di họa, mà còn cách 200km thì dừng. Sađam Hussen coi như đầu hàng, chịu mọi điều kiện của Liên Hiệp Quốc.
Sau chiến tranh đến phần xây dựng. Một tờ báo phương Tây đã đưa tin. Phần xây dựng ở chiến tranh vùng Vịnh sau khi chia cho các nước Nhật, Pháp, Canađa là các nước đã đóng góp tài chính, mỗi nước một phần, rồi để “Tái thiết Kôoét, phần của sư tử”. Làm cho tôi chợt nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn của Tolstoi kể sư tử, cáo và dê đi săn. Đến một cánh rừng dê một mặt, cáo một mặt và sư tử một mặt. Sư tử gầm thét thú rừng chạy ra, bắt được một con thỏ. Về sư tử bảo dê chia phần. Dê chia ba phần đều nhau, rồi nói đây là phần của bác sư tử, đây phần của cáo và đây phần của tôi. Sư tử gầm lên, mày chia ăn gian, chụp dê xé xác. Rồi bảo cáo chia, cáo chia phần cho sư tử gần hết, còn phần mình chỉ lấy một tí. Sư tử hỏi cáo mày học ở đâu mà chia đều vậy? Cáo dạ con học sách con dê.
Chiến tranh vùng Vịnh kết thúc, nhưng hậu quả vẫn còn. Kôoét là nước mà Việt Nam chúng ta đang mua dầu bỗng trở nên khan hiếm. Mỗi tuần chỉ mua được hai xe, có khi vài tuần chỉ mua được 12000 lít. Khóe ngoại giao và xà lan bán trên sông trên được ưu tiên. Cứ cầm được một phiếu dầu mười hai ngàn lít trên tay thì xem như có lãi. Được ưu tiên mấy tháng liền, tôi lấy tiền lời để đắp vào xây dựng cây xăng.
Sau một năm miệt mài với công việc, bây giờ nghĩ về cội nguồn. Vào dịp tết Đoan Ngọ năm Tân Mùi, tôi trở về quê tu tạo lại mồ mả ông cha. Có xe đời mới về quê coi như vinh qui bái tổ, chúng tôi về quê mùa mưa nóng của Tết Đoan Ngọ. Miền Trung mùa gió nam từ Lào thổi qua, nóng và khô. Gió thổi vo vo, mặt nước lăn tăn, chó điên người dại ở mùa này.
Mộ cha tôi trên sườn đồi, phía sau là dãy Trường Sơn núi rừng trùng điệp. Trước mặt là một cánh đồng rồi đến con sông, qua khỏi con sông song song với đường bộ là con đường sắt xuyên Việt, rồi đến một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ra biển. Từ mộ cha tôi nhìn sang hướng nam với dãy núi nhiều hình tượng, có núi Bạch Tượng, Hòn Mã mà dân làng thường gọi. Thời thơ ấu tôi đã nhìn thấy với bao ấn tượng ghi trong đầu. Các tiên đánh cờ ngay buổi sáng sương mù dày đặc. Khi mặt trời lên, màn sương vén từ từ để những ấn tượng hiện ra. Tôi say sưa nhìn ngắm, có khi vụt chạy vì sợ tiên xuống bắt mình đi. Dù đi với tiên cũng không bằng ở nhà với mẹ.
Bây giờ tôi trở về đây, đứng trên cao nhìn ngắm quê hương, ngắm lại dòng sông thường bơi lội. Thuở ấu thơ cha tôi tập bơi cho những thằng con trai bằng cách quăng ra xa để chúng tôi tự bơi vào, lần nào cũng bị uống nước. Trong lòng tôi có trách cha sao mà ác thế, nhưng đó vẫn là cách tập của những người cha cứng rắn. Nguyễn Ánh tập các con bơi thời bôn tẩu ở miền nam sông nước cũng bằng cách ấy.
Hôm nay tôi về đây để tu tạo lại mồ mả của cha và ông nội tôi. Chúng tôi ăn uống tại chỗ để điều động thợ thuyền. Tự dưng một buổi sáng, đầu chúng tôi bạc trắng. Gió thổi vi vu, bụi trắng từ đâu bay đến, người này nhìn người kia, như Ngũ Tử Tư sau một đêm đầu bạc.
Hóa ra núi lửa Pinatubô từ Philippines thổi qua. Thời gian núi lửa hoạt động, bụi thổi qua Việt Nam, và tất cả các nước vùng Đông Nam Á đều bị ảnh hưởng bụi.
Mồ của cha tôi và ông nội tôi đã xong. Trên một cha tôi có hai câu đối:
“Tâm kính nhất truyền thiên thu nguyệt,
Đạo trọng tâm can vạn cổ phong”
Một lòng thành kính lưu truyền ngàn năm. Đạo Tam cương ngũ thường là một phong tục cổ xưa. Câu đối do một người bạn của cha tôi viết tặng năm cha tôi mất, bác Sáu Minh nay ông cũng đã ra người thiên cổ.
Tôi triệu tập cả dòng họ. Họ tộc Nguyễn của tôi ở làng không lớn lắm, chỉ có hai chi. Cả họ họp mặt đông đủ. Tôi thưa với họ mộ cha và ông tôi đã lo xong, tôi xin đóng góp mỗi người một ít để tu tạo phần mộ cho bà nội và hai bác tôi. Sau này tôi thường nói với con cháu “Tôi về tu tạo lại phần mộ cho bác tôi. Người mà tôi thành người trong đó có những lằn roi dâu của bác tôi quất vào đít ở những ngày thơ ấu. Bác tôi năm bảy mươi tuổi, sắp qua đời, con cháu hỏi về chuyện chôn cất, ông nói tao về với mẹ tao. Và các con đã chôn cha bên cạnh mộ bà nội. Còn cha tôi những ngày sắp mất, ông trông ngóng tôi về để lo phần mộ cho ông. Tôi thì muốn về với ông trước khi nhắm mắt lìa đời, nhưng khi tôi và con gái tôi lên tàu đi đến Mường Mán thì tàu trật bánh, trễ mất 24 giờ. Khi tôi về thì cha tôi không còn nữa. Nhưng tôi cũng làm tròn được nhiệm vụ lo cho cha một nơi yên nghỉ.
Tôi trở lại Sông Cầu, vùng đất đầy kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi có bốn năm sống ở đây từ tuổi mười bốn đến năm mười tám tuổi, đầy kỷ niệm yêu thương với ngôi trường Sông Cầu thân yêu, hàng dừa rợp mát. Với bãi cát Từ Nham trắng tinh, với chiếc tàu cháy ngày nào cũng thấy, với sóng biển rì rào. Cùng các bạn trai thân thương và cô bạn gái, mối tình đầu mà tôi đã mang theo trong đời suốt 27 năm qua chưa một lần ghé lại, chưa một lần gặp mặt.
Bao nhiêu việc, bao nhiêu chuyện thầy trò trường lớp, bạn hữu. Buổi sáng từ nhà tôi đi tim tôi đã đập thình thịch. Cả những ngày ở Sài Gòn nghĩ đến việc về Sông Cầu thăm cô Hiền là tim tôi đã đập dồn dập rồi. Lúc Hiền mới mười hai tuổi, tôi mười bảy. Hai mươi bảy năm qua, lúc nào tôi cũng theo dõi, hỏi bạn bè con Hiền nó ra sao rồi, con Hiền nó làm gì. Hỏi thì tỉnh táo nhưng tim lúc nào cũng đập mạnh hơn. Hàng trăm mối tình đi qua đời tôi. Mà nay chỉ một người hay chỉ là một cô bé mười hai tuổi. Đến nay tôi gần 65 – 70 tuổi, em độ bốn mươi, thì với tôi em cũng mới mười hai, chưa gặp lại lần nào, chưa nhìn thấy ảnh. Trong tâm khảm tôi em vẫn là cô bé mười hai tuổi, mặc áo dài trắng đơn sơ nhưng trầm tĩnh. Ít đùa nghịch như các bạn cùng lớp và cũng chỉ là một cái cùi bắp trong đêm văn nghệ ở thị trấn. Bạn bè cặp nhau đi xem hát mùa hè, em dúi vào tay tôi một trái bắp nướng. Tôi nắm chặt tay em, em rứt ra vụt chạy. Tôi giữ nguyên trái bắp như giữ nguyên tình ban đầu để ba mươi bảy năm qua tình cảm đơn sơ nhưng thắm đượm.
“ Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy,
Ngàn năm há dễ mấy ai quên”
Bây giờ sắp trở lại Sông Cầu, tám giờ sáng lên xe đời mới màu đỏ như ngựa hồng chiến trận, đến nhà người bạn thân.
Cuộc hội ngộ đông đủ của thầy trò bạn bè trường lớp Sông Cầu của ba mươi bảy năm về trước, Bãi Tiên bên núi bên biển sóng vỗ rì rầm.
Tám thằng con trai thời đi học phá như quỉ, bây giờ tóc đã bạc. Gặp nhau cũng mày tao, có thằng đã là ông nội, ông ngoại, gặp lại bạn cũ cũng xài con cọp như thường. Thầy dạy vẽ và nhạc, một cô gái ngồi khép nép bên thầy và nhà, chứng nhân cho cuộc gặp gỡ để thầy trò chúng tôi kiểm lại đứa còn, đứa mất.
Và nhà thơ Trần Sơn Nam đã viết “Chén rượu muộn màng” cho cuộc gặp gỡ này, cho tình tôi tình yêu và tình người.
Van mẹ đừng khóc xót xa con
Lậy thầy đừng khóc buồn thương trò
Thôi em đừng khóc oán hờn tôi
Tạo hóa nụ cười định mệnh
Có khóc than dĩ vãng khóc qua rồi
Ảo ảnh mấy phương trời đổ vỡ
Mỗi con người phận con đò giông tố
Bến bờ nào trong cõi người ta
Kẻ chết về đâu
Người sống tìm nhau
Nước mắt Sông Cầu chan chứa
Canh cánh ưu tư một nỗi cội nguồn.
Hôm nay tôi nói với bạn bè và nói với thầy Tồn. Ngày xưa thầy dạy vẽ dạy nhạc. Những nét vạch ngang sổ dọc đơn sơ đó, bây giờ căn nhà gia đình tôi đang sống và những công trình tôi đang xây dựng, trong đó có nét vẽ mà thầy đã dạy. Những nốt nhạc Do Re Mi Fa… mà thầy đã xướng âm ngày xưa, những âm thanh trầm bổng ấy, để ngày nay tôi là nghệ sĩ đọc thơ, trong đó có âm điệu của thầy.
Tôi xin phép thầy, các bạn và cô Hiền cho tôi đọc bài thơ “Chiếc cầu độc mộc” của nhà thơ Thu Bồn.
Thầy giáo gõ cây thước kẻ xuống bàn
Im lặng giờ học bắt đầu
Tôi có biết đâu cây thước kẻ chiếc cầu độc mộc
Thầy đưa tôi đi khắp cả thế gian này
Từ ban đêm bước sang ban ngày
Từ cõi u ê bước sang bờ kiến thức
Từng bước từng bước thầy đưa tôi đi vào đời
Thầy giàu lắm thánh hiền và chữ nghĩa
Tôi chơi toàn lỗ đáo với bi ve
Thầy giảng bài tôi chẳng chịu nghe
Tôi chỉ thích chơi trò rồng rắn…
Cuộc gặp gỡ từ sáng đến trưa, chiều, rồi tối. Đứa nào cũng say bí tỉ. Cái nắm tay của 27 năm về trước tôi cũng chưa nối lại. Tôi cũng chưa nhìn rõ mặt người tình xưa. Cuộc tiệc tàn, cuộc tình chưa nói được lời nào, đành tiễn nhau đi về. Đêm ấy gió bão khủng khiếp, sáng ra người đầy bụi trắng. Hóa ra là bão bụi của núi Pinatubô Philippines.
Buổi sáng giã từ bạn bè để về quê nhưng tôi vẫn còn luyến tiếc, làm cái gì để giúp Hiền. Nói với vợ Tương, con Hải bạn cũ. Hải, tôi gởi Hải năm trăm ngàn, đưa dùm cho Hiền để nó nuôi con nó.
- Cho tôi năm trăm ngàn tôi mới đưa. Thôi thì bạn bè lâu ngày gặp nhau, dù gì mình cũng khá hơn.
Về lại quê nhà nghĩ là sẽ giã biệt Sông Cầu, giã biệt những gì vui đẹp và ồn ào. Giã từ những tiếng sủa của lũ bạn thân yêu và cũng giã từ bóng mờ khép nép của cô Hiền. Nhưng đến trưa hôm ấy, có người cho hay nhạc sĩ Trương Tuyết Mai đã ra, buổi chiều tôi lại trở ra Sông Cầu.
Hiền tìm gặp riêng mình, không phải để nói chuyện tâm tình mà để trả lại số tiền Hải đã đưa cho Hiền. Nhưng khi hai đứa ngồi bên bãi biển vắng lạnh, mọi vấn đề tiền bạc không còn giá trị nữa, chỉ còn kỷ niệm ngày xưa. Môi em cười, miệng em nói, nét mặt em rạng rỡ.
- Ngày xưa tóc anh dựng đứng, gầy hơn bây giờ nhiều. Nhưng gặp anh em nhớ nhất là nụ cười.
Tôi chợt nhớ “Tình già” của Phan Khôi. 27 năm xa cách, “Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được. Tiễn nhau đi rồi con mắt còn có đuôi”.
Nhưng nỗi vui của sự gặp gỡ không lấp được số phận long đong của cả hai đứa trong 27 năm qua.
- Anh đi Huế, thì năm sau em ra Quy Nhơn học Trường Nữ trung học. Ở tuổi mười lăm em được chọn đóng vai bà Trưng Trắc của ngày lễ. Ngày xưa nữ sinh được chọn đóng vai này là một vinh dự hơn cả hoa hậu vì phải gồm đủ tài (học lực), sắc và đức hạnh.
Nhưng rồi cuộc đời đong đưa, năm 1974 em lấy chồng, chồng em sĩ quan Hải quân, anh ấy ở biển nhiều hơn ở nhà. Vợ chồng sống với nhau cộng tất cả các ngày chưa tròn một tháng. Em có bầu, ngày sanh con cũng là ngày anh ấy đi Mỹ, năm 1975, em ở lại. Cuộc đời lao đao, em mang tiếng là vợ sĩ quan ngụy, họ đuổi em ra khỏi trường em đang dạy, ngôi trường mà xưa em và anh cùng học.
Làm gì để nuôi con, chồng em ra đi khi lửa tình chưa đủ bén. Nên cả đứa con anh ấy cũng không nghĩ đến, không thư từ không thăm hỏi. Bạn anh ngày xưa thấy em sống một mình cũng lắm người chọc ghẹo. Không sống nổi với đời, em phải có một người nương tựa. Cách đây ba năm, em lấy một thầy giáo dạy cùng trường, có một đứa con trai để cả hai cùng khổ. Hai vợ chồng không nuôi nổi một thằng con nhỏ, còn đứa con gái lớn làm sao cho nó đi học. Nhiều đêm em trào nước mắt khóc cho thân phận.
Bây giờ gặp anh ở đây sao số phận hẩm hiu. Nếu gặp anh sớm hơn có lẽ em không lấy chồng nữa. Dù không sống với anh nhưng em nghĩ trên cõi đời này còn có một người đàn ông nghĩ đến mình, người đó là anh là đủ rồi. Hiền gục đầu vào vai tôi, nước mắt ướt đẫm vai áo.
Tôi thầm nghĩ mình chưa hôn Hiền lần nào. Ta quấn lấy nhau bên bờ biển mà bên kia là dãy núi Từ Nham đầy kỷ niệm thưở học trò. Bây giờ tôi và em cũng chỉ ngỡ như thời thơ ấu.
Tôi không dám đụng đến người em, ngày xưa có lần tôi đụng đến trái chanh, em giận dữ bỏ chạy. Nhưng giờ chẳng lẽ lại không, tôi siết em vào người, tay choàng qua lưng em, em chỉ lậy quậy không giận dữ như ngày xưa.
Một con sóng lớn ụp vào bờ, nước tràn lên chỗ ngồi.
- Thôi em về đi, tình mình thế này là đẹp rồi. Thị trấn Sông Cầu quá nhỏ. Mỗi đứa chúng ta đều phải có nhiệm vụ giữ lấy hạnh phúc riêng mà ranh giới là cái lưng quần. Chúng tôi đứng lên trong luyến tiếc. Chiều đã tím, biển đã động. Chia tay nhau đưa em về. Rồi từ đó, hàng năm tôi thường về quê hai lần. Đành thôi ta cứ như người quen, bắt tay một cái siết thật ấm là đủ.
Em cũng khép nép và nhỏ thó như ngọn đèn dầu lạc trong xó nhà, nhưng vẫn sáng trong tôi, trong hạnh phúc riêng của tôi. Bằng tâm trạng của Hiền, nhà thơ Trần Sơn Nam có viết bài:
Đón anh về lại dòng sông xưa
Nhớ thương sóng vỗ đến bao giờ
Em hỡi
Thắp hương chào dĩ vãng
Rẽ lối thời gian ngắm giấc mơ
Tôi và em hai con người, hai số phận như hai đường ray chạy song song không bao giờ gặp nhau, mà chỉ có thể cụng vào nhau ở điểm ghi. Và điểm ghi là nụ hôn đầu cũng là nụ hôn cuối. Để có lần em nói ước gì em được lấy anh làm chồng, rồi nước mắt em trào ra. Em cắn vào vai tôi như cắn vào miếng thịt riêng mà cha mẹ để phần trong bữa ăn của thời thơ dại.
Tưởng bây giờ là bao giờ
Trùng sinh thế hệ còn ngờ chiêm bao.
Bùi Giáng
Năm 1993, một năm bình yên là đời tôi chỉ mong được một sự bình yên như vậy.
Tháng 9-93 tôi đi một vòng trở lại miền Trung. Tôi, Thu Bồn và nhà báo Trần Công Tấn.
Sông con quê nhà ba giờ sáng. Chúng tôi ngủ ở bãi cát, đêm nhà quê vắng lặng, tiếng ếch nhái và côn trùng kêu vang. Trên triền núi nhà có đám cưới nghe tiếng dao thớt. Rồi tiếng pháo nổ vang trong đêm trường tĩnh mịch.
Mờ sáng về nhà thăm mộ cha tôi ở cánh đồng mù sương, thăm mẹ một ngày để làm việc.
Bồn giờ khuya hôm sau chúng tôi lên đường đi Huế. Mười một giờ, ghé nhà chị của Thu Bồn ăn cơm trưa, một giờ ghé Thăng Bình. Thị trấn Hà Lam buổi trưa im lặng, không có gì thay đổi nhiều.
Tám giờ đêm đến nhà anh Hoàng Phủ Ngọc Tường. Anh ấy đi Quảng Ngãi, chị Mỹ Dạ vợ anh chạy một vòng đi mời bạn bè, nhà văn Tuệ Mai, nhà thơ Võ Quê… Gặp nhau trong một bữa tiệc đơn sơ vui qua đêm để đợi anh Tường về.
Ngày hôm sau chúng tôi thăm lại cố đô Huế. Đây Ngọ Môn với trống lầu Ngũ Phụng, kia Kỳ Đài mà ngày xưa mỗi sáng thứ hai trước khi kéo cờ có bắn một phát đại bác. Điện Thái Hòa, Cửu đỉnh, mọi việc người ta đang tranh thủ lấy tiền, chỉ sửa sang chắp vá. Thời gian chỉ đủ xem lướt qua rồi đi. Từ Thành nội ra cổng Đông để tìm đến Trường Quốc Tử Giám, mà ngày xưa các con quan đại thần, các hoàng tử hay những nho sĩ tài ba được về dạy để sôi kinh nấu sử.
Và cũng ngày xưa của tôi, ngôi trường trang nghiêm hai dãy nhà hai bên, giữa là đền thờ Đức Khổng Phu Tử. Nơi hàng năm các trường cử học sinh và kẻ sĩ về đây làm lễ dâng hoa. Năm 1964, tôi là người học sinh được chọn một trong hai học sinh dâng hoa lên bàn thờ của Ngài. Hai người nam sinh được chọn vào việc này cũng giống như hai nữ sinh được chọn để đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị, phải là những học sinh có đạo đức, tài sắc vẹn toàn.
Ngôi trường của tôi bây giờ không còn là trường học mà là Viện Bảo Tàng. Tôi về lại lớp học cũ ba mươi năm về trước. Vẫn còn nguyên vẹn, cửa khóa đứng ngoài nhìn vào để tìm chỗ mình ngồi học năm xưa. Rồi cùng hai người bạn Thu Bồn và Trần Công Tấn thơ thẩn đếm bước trên sân để nhớ lại ngày tựu trường. Bao nhiêu kỷ niệm của thời học trò, của ngôi trường hiện về. Hai hàng văn võ bằng tượng đá sắp dài từ cổng vào tận đền thờ Đức Khổng Phu Tử. Mỗi bên mười ông, bên văn bên võ. Một sáng mùa đông, trời mưa dầm, đi học sớm, tôi lấy thước kẻ bằng nhôm gõ lên đầu các quan phỗng đá. “Ê sao các ông không đi lại, đứng đây làm gì, hết thời rồi phải đi nơi khác”. Nói đùa nhưng không hiểu sao ngày hôm sau các ngài được dời đi nơi khác. Còn tôi về bệnh cảm một trận. Cứ nghĩ vô lễ với các lão tiền bối nên bị bệnh, phải thắp hương khấn nguyện ở đền thờ Đức Khổng Tử và uống thuốc mới khỏi.
Tôi về lại căn nhà số 52/1 Nguyễn Hiệu. Căn nhà của ba mươi năm về trước tôi ở học với nhiều kỷ niệm của cậu học sinh nhỏ xa nhà, bồi hồi và xúc động. Căn nhà đây rồi, không có gì thay đổi “Để ba ra mở cửa xem ai?”. Ông Nguyễn Viết Phổ trong màu áo lam của người tu hành. Ông đã già rồi, vẫn dáng gầy gầy. Câu chuyện về gia đình điểm lại tất cả các em đứa còn đứa mất. Ông đi học tập tám năm, khi về nhà đã bị chiếm, mới đòi lại. Các con ly tán, mỗi đứa mỗi phương. Con đầu Nguyễn Thâm, học trò tôi ngày xưa mất tích trên biển cả.
Gặp nhau trong ngậm ngùi. Cả nhà gần mười tám năm qua coi như tôi đã chết nhưng ở nhà vẫn thường nhắc đến tôi như một người con đã ra đi.
Chia tay ông, tôi có gởi tặng ông hai chiếc nhẫn bằng vàng ròng như lòng tôi đối với ông. Tôi không ngờ cuộc gặp gỡ rồi chia tay này là cuối. Chỉ một tháng sau, tôi nghe tin ông qua đời vì trượt té, bệnh của người già.
Vĩnh biệt người tôi vốn quí. Tuy tôi sống với ông không quá ba năm, nhưng tư cách và tính cách chăm sóc con cái và chăm sóc hạnh phúc cho gia đình của ông ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống của tôi sau này. Tạm biệt căn nhà đầy kỷ niệm của tôi.
Sáng hôm sau chúng tôi đi Lào. Ra đến Quảng Trị qua biên giời. Đường Nam Lào là đây. Con đường đầy máu lửa của một thời chinh chiến. Đường trải nhựa đen, có màu của đất đỏ mà tôi ngỡ như như màu máu của thuở nào nhuộm đỏ con đường.
Con đường với núi non hùng vĩ, thung lũng và suối ngàn. Tôi thấy như nơi nào cũng có máu, có xác người, có bom đạn một thời chiến chinh. Nơi nào cũng có xương thịt của hai bên Nam Bắc, mà ngày xưa bên nào cũng thắng, bên nào cũng oai hùng, bên nào cũng có Huân chương cho chiến trận!
Buổi chiều trở về sông Thạch Hãn, rồi sông Bến Hải ngăn cách đôi bờ. Cây cầu sắt vẫn y nguyên như cũ của bao năm mà ngày xưa hai bên hai màu cờ, hai sắc áo khác nhau của chung một dân tộc. Chúng tôi xót xa trong lòng, ngậm ngùi nhìn áng mây bay.
“ Đứng bên này sông sao nuối tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay”
Rồi cùng ánh chiều tà vào Thành cổ Quảng Trị, cối xay thịt của mùa hè đỏ lửa 1972. Thịt bên nào cũng bị xay… Bom đạn đổ xuống nơi đây, dấu tích Cổ Thành từ thời Chúa Nguyễn Hoàng tan tác, xác xơ. Những ngôi trường hàng vạn lỗ đạn, đám học trò trần trụi chạy hoang nghịch, ngôi trường vẫn còn nằm đó bơ vơ như tiếc thương cho dĩ vãng. Kinh khủng cho một thời chiến tranh.
Sau chiến tranh, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trở về lại nền nhà thờ tổ, chỉ tìm lại được một mảnh gỗ có chữ Hoàng Phủ đem về thờ, còn tất cả đều tan tác. Toà soạn báo Cửa Việt cũng hoang vắng, chỉ còn tấm bảng hiệu nho nhỏ ở cột cửa. Cửa tòa báo bị đóng!
Năm 1997