Khí hậu Buôn Ma Thuột đang se se mát là thế, chỉ cần đi chừng năm chục cây số thôi đến khu vực vườn Quốc gia Yok Đôn kéo dài qua huyện Ea Soup tràn ngập nắng vàng. Tôi từng dến với các chiến sĩ biên phòng hướng Tây Dak Lak này nên có kinh nghiệm, cánh viết văn làm báo lần đầu được đi “phòng thủ” mũ len, áo rét đủ kiểu sẵn sàng lên biên cương chịu rét cứ xuýt xoa “ai biết được trên này lại nóng thế!”. Trước khi rời Bộ Chỉ huy biên phòng, đồng chí Chủ nhiệm Chính trị còn vạch lên bản đồ hướng đi, mặc dù đã có một cán bộ tuyên huấn biên phòng ngồi cùng xe với chúng tôi. Bây giờ qua sông Sê-rê-pok khu vực vườn Quốc gia đã có cầu xây bắc qua, lần trước xe phải vòng vèo bò trên đập tràn lổn nhổn đá, rồi trườn theo lối đi của lâm nghiệp lạc cả vào rừng sâu, nghe đâu sang chiều mới tới được Đồn Bo Heng. Mặc dù từ thành phố Buôn Ma Thuột lên tới đó chưa đầy một trăm cây số. Anh em trong đoàn mừng thầm cho chuyến đi này, nhà văn Khôi Nguyên, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Dak Lak, người từng có chuyến đi lạc rừng lần trước rạng rỡ ra mặt: “Xuất phát tám giờ, khoảng mười giờ ba mươi là tới nơi được rồi”.
Ai đó nói vui: “Đất nước mình đẹp thế mà hôm nay mới biết!” khi xe chạy xuyên qua rừng khộp. Kể cả những người từng viết về vẻ đẹp của rừng khộp qua các mùa cũng không khỏi rời mắt ngắm nhìn những cây khộp đang mùa thay lá, cả một dải rừng mênh mông vàng rực. Chợt một chiếc xe U-woat cuốn bụi mù mịt chạy ngược đến đầu xe chúng tôi dừng lại, trên xe có mấy người đàn ông ăn mặc kiểu đi rừng thò đầu ra khỏi xe thông báo: “Phía trước cây đổ chặn lối, không đi được đâu!”. Tức thì xe chúng tôi mò mẫm quay lại với ý định về trạm kiểm lâm giữa rừng kêu cứu, bởi chúng tôi đang đi trong vùng không có bất kỳ một loại sóng viễn thông nào để liên lạc. Lúc này đồng chí lái xe mới băn khoăn: “Tại sao xe của họ lại đi được nhỉ?”. Trong xe tranh luận: “Xe của họ là xe đi rừng hai cầu bò đâu chẳng lọt, xe mình là người phụ nữ yểu điệu xông xáo đâu được”. “Biết đâu bọn lâm tặc lừa mình!”… Hoá ra cây chặn đường thật, vậy mà cứ nghi oan lòng tốt cho người ta. Bây giờ thì cánh báo chí, văn nghệ sĩ tập tành làm “lâm tặc”, lấy cưa, lấy rìu vừa mượn của kiểm lâm tha hồ trổ tài. Người làm, người đợi mồ hôi đều vã ra dưới cái nóng của rừng khộp. Lạ thế, cùng một bầu trời trong bán kính chỉ mấy chục cây số mà đất biên giới và thành phố Buôn Ma Thuột có hai vùng tiểu khí hậu khác nhau, càng giáp biên giới nước bạn đất càng bằng phẳng, khí hậu càng tăng lên, nhất là đứng giữa rừng cây khộp rụng hết lá, cành khẳng khưyu như những cánh tay chọc lên trời lơ phơ vài chiếc lá vàng như trụ lại thách thức với cái nắng cái nóng. Bỗng tôi nhớ tới thượng tá biên phòng, nhà văn Lê Huy Thành từng nói với tôi về ý tưởng dựng tiểu thuyết kể về sự vượt qua khó khăn làm nhiệm vụ của người lính gìn giữ biên cương với cái tên “Nắng xuyên qua rừng khộp”. Tôi mong anh là người trong cuộc sẽ nói hết được những điều mà lâu nay tôi từng tiếp xúc với cán bộ chiến sĩ trên các đồn biên giới từ Bắc vào Nam, có biết bao hy sinh, thiệt thòi, chịu đựng và cảm phục mà tôi có viết mấy vẫn chưa đủ.
Phải tới gần mười hai giờ trưa chúng tôi mới có mặt ở đồn Bo Heng có phiên hiệu 747, thiếu tá Lê Quang Cảnh, Đồn trưởng cùng ban chỉ huy đồn nhận được điện của Bộ hỉ huy đã đang đợi đón. Đường đi dù còn gập ghềnh nhưng đã thuận lợi hơn trước rất nhiều, nhớ lại những chuyến lên biên giới trước, có lần phải ngồi xe U-Woat của Biên phòng, cũng có lần từ đồn xuống đội công tác phải ngồi sau xe máy, mà chỉ có loại xe Min-xcơ mới chịu nổi, ngồi sau xe tôi cứ phải ôm chặt lấy người sĩ quan biên phòng đang cầm tay lái nhảy chồm chồm như phi ngựa, đến nơi bụi phủ đầy người từ đầu đến chân, về nhà mấy ngày sau rửa mặt mũi còn “xì”ra bụi đất. Lần này mấy chị em phụ nữ say xe mà đến nơi vẫn chưa phải nằm rũ, còn nhoẻn miệng xã giao đưa đẩy với anh em biên phòng, vậy là chuyến đi an toàn. Theo thiếu tá Lê Quang Cảnh thì Bo Heng tiếng địa phương nghĩa là đầu con voi. Biên giới nơi đâu chẳng phải là đầu sóng, ngọn gió, chẳng lẽ Bo Heng điểm đầu của con voi là nơi trọng yếu? Tôi miên man nghĩ vậy và liên hệ đến công việc của cán bộ chiến sĩ đồn đang đảm nhiệm với chiều dài hơn mười lăm cây số đường biên mênh mông rừng khộp, cách dòng suối Dak Dam bên kia là Cô-bai-don-ray, chốt số 6 cảnh sát Hoàng gia Căm-phu-chia, thuộc địa phận tỉnh Mun-dun-ki-ri. Bên phía bạn đơn giản bao nhiêu thì nhiệm vụ của biên phòng mình càng nặng nề bấy nhiêu. Đồn cảnh sát của bạn chỉ có ba người, ở trong một dãy nhà gỗ, mà là căn nhà của biên phòng Việt-Nam dựng cho. Anh em biên phòng lấy thuyền chở chúng tôi “vượt biên” sang thăm, căn nhà trống vắng, chừng mười lăm phút sau mới nghe tiếng xe máy gầm gừ khục khặc trong rừng, rồi hai thanh niên lưng trần, quần quân phục bốn túi màu xanh, đeo giày vải cao cổ hì hục đẩy chiếc xe máy trần trụi. Thì ra các chiến sĩ cảnh sát Hoàng gia bỏ nhiệm sở vào trong làng cách đó cả giờ đồng hồ chạy xe để uống rượu. Hèn chi anh em biên phòng kể rằng khi hai bên Chính phủ đã phân định xong vị trí cắm cột mốc biên giới số 47 thuộc địa phận đồn Bo Heng quản lý, bên ta đã dựng xong, phía bạn nói còn bận chưa dựng được, họ vào làng dự đám uống rượu chứ bận gì. Vậy là ta hẹn họ ngày giờ rồi giúp họ vật liệu, cùng họ mới dựng xong được cột mốc. Ngẫm ra trong những cái tưởng bình thường ấy là cả một sự chịu đựng vất vả, gian truân của người lính biên phòng Bo Heng trong suốt mấy chục năm vượt qua.
Đồn Bo-Heng (747) được thành lập ngày 25 tháng 3 năm 1981, khi ấy chiều dài đường biên do đồn quản lý hơn hai mươi cây số, mấy năm sau thành lập thêm đồn 749, chiều dài biên giới rút ngắn lại còn hơn mười lăm cây số cho đến nay đồn vẫn đang đảm nhiệm. Sau ba mươi năm thành lập có biết bao lớp cán bộ chiến sĩ từng gắn bó với vùng đất vị trí tiền tiêu đầu voi này. Từ con đường dẫn lên đồn phải trải qua biết bao đoạn rừng sâu, suối ngăn, nay đã thông suốt; từ chỗ ngày ngày quay máy nổ phát điện sáng tới chín giờ đêm, nay có điện lưới Quốc gia, có ti vi, có phòng sinh hoạt văn hoá văn nghệ cho cán bộ chiến sĩ. Chỉ còn một nỗi khó khăn chưa thể khắc phục đó là nguồn nước, do vị trí của đồn nằm trên đồi đá bàn, đã khoan tới một trăm mét sâu nhưng không thể có nước, đơn vị đành bơm nước hàng ngày từ suối Dak Dam cách gần một cây số về ăn. Còn những sinh hoạt khác, tắm giặt anh em phải ra suối. Vẫn rừng khộp mùa mưa xanh lá, mùa khô trơ cọng đổ lá vàng, nhưng giờ đây sự đối đầu với hiểm nguy sống chết có thể còn nhưng tránh được. Nguy hiểm trong chiến đấu bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc như thời bảy tám chống tập đoàn phản động Pôn-Pốt, Yêng-sa-ri, hoặc những ngày căng mình ngăn chặn thế lực thù địch lôi kéo đồng bào ta vượt biên đã đành, đàng này lại đem tính mạng ra đối diện với cả thú dữ, rắn rết, một kẻ thù không kém phần nguy hiểm. Trước đây rừng rậm âm u, nước suối tù đọng, cán bộ chiến sĩ đi tuần tra không bị sốt rét cũng bị rắn độc tấn công. Nghe kể có lần đồng chí Phương, chiến sĩ của đồn ra suối tắm bị rắn độc cắn đơn vị phải vượt đường rừng chuyển đồng đội ra bệnh xá Bộ Chỉ huy, sau đó phải chuyển gấp đi thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu thay máu mối vượt qua được cơn nguy kịch. Trường hợp khác, đồng chí Hoàng Kim Long đến phiên gác đêm, từ trên giường bước chân xỏ giày liền bị rắn cắn cũng phải chuyển tuyến trên cấp cứu. Còn biết bao trường hợp tương tự xảy ra với cán bộ chiến sĩ biên phòng được xử lý kịp thời. Theo Đồn trưởng Yok Đôn Vũ Đình Công, từng có thời gian chung đồn Bo Heng thì lính bảo vệ biên giới đi tuần, mật phục gặp voi không sợ, cứ chuẩn bị sẵn rơm đốt thấy lửa khói là voi quay đi, nhưng sợ nhất là rắn cắn. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, rừng khộp thẳng đứng xanh tươi mùa mưa hay lá vàng ruộm như dát vàng mùa khô, đôi lúc biến thành nơi tiềm ẩn của những cái ác. Bây giờ các đồn biên phòng nhận quản lý rừng, làm cho rừng khộp ý nghĩa và đẹp hơn. Bây giờ ở rừng không còn sốt rét nữa, thậm chí có người về quê lại bị sốt do lạ nước hoặc sinh hoạt không bằng ở đơn vị. Còn công tác phối hợp bảo vệ biên giới, hàng tháng hai bên tổ chức giao ban, thời gian trọng điểm thì thường xuyên trao đổi, cả nhiệm vụ lẫn giúp nhau trong sinh hoạt đời sống. Bạn xin hỗ trợ lương thực, thực phẩm, hoặc lực lượng bạn, cả vợ con họ ốm đau cũng nhờ đơn vị khám thuốc men tại chỗ, ngoài khả năng của đơn vị thì chuyển tuyến trên Bộ Chỉ huy hoặc Bệnh viện tỉnh với tinh thần giúp nhau bằng tình con người, tình hữu nghị quốc tế. Có trường hợp đến nay cả lực lượng biên phòng Dak Lak lẫn phía bạn sẽ không bao giờ quên. Đó là trường hợp một anh lính thuộc tiểu đoàn 103, lực lượng bộ đội bảo vệ biên giới Căm-pu-chia tên là Soc-Chăn, lần ấy trong lúc đi quét anh ta bị rắn độc cắn, do không sơ cứu kịp thời để tay sưng to. Được chuyển sang đồn ta nhờ giúp đỡ, nhưng trường hợp này ngoài khả năng xử lý của đơn vị đã điện cho Bộ Chỉ huy cho xe vào đồn đón ra tỉnh, rồi lại phải chuyển gấp xuống bệnh viện Chợ Rẫy (thành phố Hồ Chí Minh) cấp cứu thay máu mới vượt qua được. Hiện nay Soc-Chăn chuyển về công tác ở chốt 7, chúng tôi có ý định qua đất bạn gặp anh nhưng anh đang nghỉ phép. Từ những việc làm của Bộ đội biên phòng Dak Lak đã đem lại lòng tin yêu và quý trọng đối với bạn. Khi đó báo chí Căm-pu-chia đưa tin về tình tương ái hữu nghị nói về việc làm của bộ đội biên phòng Việt-Nam có câu: “Chỉ có bộ đội Nhà Phật mới làm được như thế”. Hiện nay lực lượng bảo vệ biên giới nước bạn rất tin và ham học tiếng Việt-Nam để giao tiếp với ta.
Còn có biết bao việc làm và chiến công thầm lặng mà bộ đội biên phòng Dak Lak nói chung, cán bộ chiến sĩ biên phòng đồn Bo Heng nói riêng lập nên. Nhờ vậy trong suốt ba mươi năm xây dựng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ chiến sĩ đồn Bo Heng đã ngăn chặn nhiều đối tượng bị các thế lực thù địch kích động gây bạo loạn, vượt biên bị bắt và xử lý, hoàn thành nhiệm vụ của người lính nơi tuyến đầu bảo vệ vững chắc lãnh thổ thiêng liêng của đất nước. Thành tích đó được Đảng, Chính quyển các cấp và Bộ Tư lệnh ghi nhận, cụ thể: Năm 1986-1988 được Bộ Tư lệnh công nhận danh hiệu Đơn vị Quyết thắng do thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ chủ quyền An ninh biên giới. Năm 1990 tiếp tục được Bộ Tư lệnh công nhận Đơn vị Quyết thắng với thành tích trong khi làm nhiệm vụ bắt sống được tên trung uý Fulrô. Ba năm liền từ 1993 đến 1995 được Bộ Tư lệnh công nhận danh hiệu Đơn vị Quyết thắng và được Ủy ban nhân dân tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc. Năm 1996 được Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng Ba. Từ đó đến nay đơn vị vẫn phát huy được truyền thống và được các cấp tặng bằng khen, danh hiệu thi đua quyết thắng. Đó là điều phấn khởi và tự hào của Đồn 747, nhưng có lẽ phần thưởng cao quý hơn cả đó là cán bộ chiến sĩ biên phòng đồn Bo Heng trở thành niềm tin yêu, thành điểm tựa lòng dân trong quần chúng cùng chung sức bảo vệ biên giới của Tổ quốc, góp phần xây dựng mối tình hữu nghị hai nước Việt-Nam – Căm-Pu-chia ngày thêm bền chặt.
NL.
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
|