tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
24.08.2011
Kim Quyên
Cô gái của Mười tám thôn vườn trầu

Mười tám tuổi, mái tóc đen mượt dài khỏi mông, dáng người cao ráo mảnh mai, gương mặt tươi tắn hay cười, nụ cười hiền hậu dễ thương khiến ai mới gặp cũng đều có thiện cảm, nụ cười của cô khiến những chàng trai cùng xóm mơ ước được cô để mắt đến.


           Dáng vẻ thanh tao lịch lãm giống con nhà giàu có nhưng thật ra cô xuất thân từ gia đình nông dân nghèo, học lực chỉ mới lớp ba, lớp tư đã phải nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình mặc dù rất hiếu học, giỏi môn toán. Quê cô ở làng Đông Hưng Thuận (xưa thuộc huyện Hóc Môn), gia đình không có đất phải đi làm ruộng thuê, kiếm miếng ăn đắp đổi qua ngày.


             Những năm Đồng khởi, họ hàng hai bên Nội Ngoại, mấy cậu, mấy chú thoát ly theo cách mạng, người chị lớn và các chị con của mấy dì cũng tiếp bước ra đi, những sự kiện đó khiến cho cô càng suy nghĩ về cuộc đời mình. Năm 1966, có dịp vô thăm mấy người chị ở căn cứ Củ Chi, gặp cô du kích Củ Chi trẻ trung duyên dáng trong bộ đồ bà ba đen, nón tai bèo, khăn rằng quấn cổ, tóc dài kẹp thả sau lưng, ôm cây bá đỏ đứng gác bên chiến hào, hình ảnh oai hùng đó đã gây ấn tượng thật đẹp trong lòng cô gái. Đang là công nhân giỏi của xưởng dệt Thành Công, giữa năm 66, cô rủ đứa em gái (con bà dì ) thoát ly theo người chị đã đi từ trước.


             Những ngày đầu vào cứ, pháo bắn cấp tập ngày đêm khiến đứa em lo sợ bỏ về, còn cô thì gia nhập vào tổ chức Thành đoàn. Công việc ban đầu chủ yếu chỉ là rải truyền đơn, vẽ khẩu hiệu và làm những việc linh tinh khác. Cô gái tỏ ra nhanh nhẹn hoạt bát, đặc biệt rất thích học hỏi và sử dụng vũ khí.


             Tháng 8 năm 1967, cô được phân công về lực lượng võ trang Nguyễn văn Trỗi của Thành đoàn, cùng với các anh chị về Long An xây dựng căn cứ Long Khê- Phước Vân. Sau một thời gian công tác, anh Ba Tuấn (Đỗ Văn Hoàng, đội trưởng) nhận thấy cô gái có cá tính mạnh mẽ, gan dạ mưu trí, trái với bề ngoài  hiền lành chân chất của cô. Anh Ba Tuấn đề nghị phân công cô vô tổ chiến đấu để vào chiến dịch diệt ác phá kềm. Cô gái nghe anh Tuấn bàn, bụng vừa mừng vừa lo, mừng lo đến độ không nói  nên lời. Ba Tuấn thấy vậy khuyên cô nên suy nghỉ kỷ trước khi quyết định. Nếu cô không thích trực tiếp chiến đấu thì sẽ phân công qua nhiệm vụ khác


              Đêm. Nghe tiếng pháo đì đùng bắn bên phía Phước Vân, cô càng  thương bà con trong cứ. Cuộc sống của bà con ban ngày vất vã gian lao vì miếng cơm manh áo, ban đêm pháo giặc cày xới xóm làng, giấc ngủ chưa bao giờ được thơ thới bình yên, giấc ngủ luôn bị chập chờn  bỡi không khí chết chóc bao trùm.  Tình cảm bà con ở đây thật thà chân chất, một lòng một dạ theo cách mạng, hết lòng che chở dưỡng nuôi cán bộ chiến sĩ, bất kể mạng sống của mình. Giặc càn đi quét lại biết bao lần, bắt bớ đánh đập tàn hại bao người nhưng chưa có ai khai báo một điều gì làm hại  cách mạng. Cô nhớ nhà, nhớ ba má và  đứa em trai út còn nhỏ dại, cuộc sống của họ thật bấp bênh, nhất là từ lúc cô không còn làm ở xưởng dệt nữa, đời sống của gia đình càng thiếu thốn nhiều hơn nhưng ba má vẫn vui lòng cho cô theo kháng chiến và cô cũng không có ý định bỏ đơn vị, quay về. Cuộc sống ở đây tuy gian lao nguy hiểm nhưng rất vui, cô học tập được nhiều điều  mới lạ, bổ ích cho bản thân. Được trực tếp tiêu diệt bọn ác ôn đang gây tội ác trên xóm làng, trên thành phố là ước mơ của Thu, cô không hề run sợ trước lũ giặc dữ, cô  vui mừng vì lãnh đạo đã tin tưởng giao công tác, chỉ lo không biết mình có hoàn thành nhiệm vụ hay không?


                   Thu  trăn trở mãi trên chiếc giường tre, bên cạnh má Năm đã say giấc.


                   Buổi sáng, đang ngồi ăn cơm sáng với má Năm, anh Ba Tuấn bước vào, nhìn Thu cười hiền lành “Sao cô em? Suy nghỉ kỹ chưa? Đánh giặc chớ không phải chơi trò cút bắt  như trẻ con đâu nghe, chấp nhận đánh giặc là chấp nhận thương đau, chết chóc, tội tù. Nếu không đảm trách được thì chuyễn em qua công tác khác, công việc nào cũng là làm cách mạng, cũng đều vinh dự và cần thiết như nhau. Em không chiến đấu được thì thôi, không ai bắt bẻ, đánh giá, đánh “muổng” gì hết, không làm được thì cứ mạnh dạn từ chối, anh sẽ giao việc khác..”


                   Cô gái nhìn Ba Tuấn với ánh nhìn trách móc, cằn nhằn “Anh xem thường phụ nữ vừa phải thôi, em đâu phải đứa nhát gan, chỉ lo không biết có làm tròn nhiệm vụ không, nhất là chưa biết gì nhiều về vũ khí đạn dược. Anh huấn luyện cho em rành rành chút xíu đi. Đừng khi dễ con gái nghe,  nhiều người chiến đấu cừ khôi lắm đó. Anh không nghe “Đội quân tóc dài của bà Ba Định sao?”.  Ba Tuấn nhìn cô nheo mắt cười. Anh  không ngờ cô gái có vẻ yểu điệu thục nữ lại có quyết tâm  cao đến như vậy,  nhưng anh chưa dám giao ngay những việc khó khăn, phải tập luyện cô từ từ và nhất là phải huấn luyện cách sử dụng các lọai súng, các lọai trái rành rẽ mới cho ra quân.


                   Thu vẫn tiếp tục công việc rãi truyền đơn, theo các thành viên trong đội đi tuyên truyền, vận động quần chúng, thỉnh thoãng tham gia các trận đánh nhỏ lẻ với vai trò hổ trợ tác chiến. Đến tháng 11 năm 1967 thì cô được phân công vào vai  chính, tham gia trận đánh “lựu đạn kép” vào bốt cảnh sát tại công trường Dân Chủ.


                   Bốt cảnh sát tại công trường Dân chủ nằm ngay mủi tàu, nằm giữa đường Lê Văn Duyệt và đường xe lửa chạy về ga trung tâm Sài Gòn. Mủi tàu nầy có hình tam giác mà góc nhọn hướng về công trường Dân Chủ. Bốt rộng khoãng trên 100 m2  do một đại đội cảnh sát áo trắng trú đóng. Mặt tiền bốt nằm ngay trên đường Lê Văn Duyệt, mặt sau của bốt có hàng rào dây kẻm gai chạy dọc theo đường tàu. Đây là nơi tập trung rác rến hôi thúi, mất vệ sinh, chính vì vậy mà địch ít khi bén mảng đến. Nếu đứng ở góc đường Yên Đổ (đoạn gần bốt) có thể ném lựu đạn tới.


                   Theo kế họach trận đánh thì Ban chỉ huy đội võ trang Nguyễn Văn Trổi giao nhiệm vụ cho 2 đồng chí: Đồng chí Năm Thu chiến đấu viên số 1, dùng lựu đạn tấn công mặt sau của bốt, Tư Đức, chiến đấu viên số 2 sẽ tấn công vào mục tiêu ở mặt trước bằng hai quả tạc đạn, cách nhau vài giây. Thời gian từ khoãng 19giờ 30  đến 19 giờ 40, khi bọn cảnh sát tập trung khá đông tại sân bốt để giao ca, ngày đánh chọn ngày 10 tháng 11 năm 1967.


                  Khi Năm Thu tới nơi qui định, tư thế đã sẵn sàng chiến đấu thì đợi mãi 10 phút sau Tư Đức mới đến. Hợp đồng trận đánh đành hủy vì sợ có sự cố. Nhưng quyết tâm của Ban chỉ huy là phải tiêu diệt bốt nầy vì lực lượng cảnh sát ở đây luôn quấy nhiểu khu vực, gây khó khăn cho cơ sở và họat động của lực lượng ta ở khu vực nầy.


                   Mười ngày sau, sau khi bố trí lại tổ chiến đấu, Tư Lắm  thay cho  Tư Đức vào vị trí chiến đấu số 2, giờ xuất phát từ 7.30 đến 7.45 tối. Đúng 7.30, Năm Thu tới gần mục tiêu, dựng chiếc xe đạp  vào con hẻm gần đó, ung dung đi đến điểm, thấy Tư Lắm đã có mặt ở đó, cô tập trung cao độ vào mục tiêu, bàn tay mạnh mẻ và khéo léo của cô ném chính xác quả tạc đạn vào đám cảnh sát đang đứng lố nhố trong sân bốt. Quả đạn nổ tung, quân địch hoảng hốt, kẻ chạy, người lăn. Từ phía mặt trước, Tư Lắm tiếp tục ném quả thứ hai, bọn địch chỉ biết nằm chết dí, không dám phản ứng cho tới lúc khói bụi tan, tiếng còi xe quân cảnh hụ vang trên đường chúng mới dám ngóc đầu dậy. Kết quả 14 tên bị thương, bốn năm tên tử trận. Tổ chiến đấu thóat an tòan, Thu  quay về căn nhà thuê, lòng cô phơi phới niềm vui của người vừa hoàn thành nhiệm vụ, người chủ nhà hỏi ngòai đường có chuyện gì xãy ra không mà sao xe quân cảnh chạy đầy đường, cô lắc đầu bảo không biết,  chỉ mĩm cười một mình.


                   Ngày 15.1.1968, Thu được kết nạp vào Đảng Nhân Dân cách mạng Việt Nam (Đảng Cộng Sản ngày nay) ở căn cứ Phước Vân. Sau trận đánh đó và sau khi được gia nhập vào hàng ngủ của Đảng, Thu đã thật sự trưởng thành, từ đây, cuộc đời cô chỉ có một con đường là đi theo Đảng, chiến đấu với bọn giặc ngọai xâm đang dày xéo quê hương, xóm làng, hễ có dịp là cô không bỏ qua bất cứ cơ hội nào để tiến đánh bọn ác ôn đầu xỏ. Mùng 8 tết Mậu Thân, chiến dịch tấn công vào thành phố Sài Gòn đang hồi dầu sôi lửa bỏng, mặt trận ở ngã tư Bảy Hiền đang gay go ác liệt, không nhận được chỉ thị cụ thể của Ba Tuấn vì anh đang chỉ đạo đánh bốt Lê Văn Duyệt, Thu tự chọn địa điểm ở chợ Hòa Hưng đánh xe để chận đường tiếp viện, cô bỏ mấy trái da láng vào giỏ xách đi vòng vô chợ cá, thấy đòan xe GMC chở lính lên, cô quăng mấy  trái liên tiếp lên đòan xe, một trái lép, hai trái lọt vào chiếc Jeep dẫn đầu, khiến một sĩ quan chết và bốn bị thương, đòan xe phải dừng lại mấy tiếng đồng hồ. Tháng 3 năm 68, cô được phân công đánh tên phường trưởng ác ôn của phường Lê Văn Duyệt nằm trên đường Hòa Hưng. Trước giờ xuất kích, xuất hiện một ông già mặc đồ bà ba, đầu đội nón cối, tướng tá giống y hệt ba Thu, cô ngớ người, đứng ngây nhìn ông giây lát, nhìn thật kỷ, hóa ra không phải người thân, lòng cô chùn hẳn xuống, chợt nhớ tới ba má vô cùng, nhưng giây phút nầy không thể để cho tình cảm riêng tư làm nguội lạnh lửa chiến đấu, cô phải theo đúng kế họach tác chiến. Chờ ông cụ vào xin giấy tờ trở ra, cô bước vào đưa giấy tờ nhờ tay phường trưởng ký, giấy ký xong, cô bước  ra ngoài cửa sổ, nhanh nhẹn quăng hai trái M26 vào chổ tên ác ôn đang ngồi, do cấu trúc của lọai lựu đạn nầy nổ khá chậm nên tên phường trưởng chỉ bị thương nặng.


                      Giữa năm 1968, cứ Long Khê đã tan tác, căn cứ Bến Tre mới lập nhưng gặp nhiều khó khăn, bốt đóng dày đặc dọc theo Tân Hóa, Châu Thành, nhiều cán bộ chiến sĩ hy sinh,  thương binh là vấn đề hết sức nan giải. Năm Thu phải trực tiếp nuôi nấng  thương binh, trong đó có đồng chíNguyệt (quê Bình Dương, sau nầy là vợ của Bí thư huyện Hóc Môn), đồng chíNguyệt bị thương nặng ở bụng, không có giấy tờ tùy thân, nhưng Năm Thu vẫn tìm mọi cách đưa đồng chíNguyệt vào bệnh viện Chợ Rẫy cho chị Y tá trưởng điều trị (không nhớ tên chị, là cơ sở của đồng chíNăm Trọng), suốt mấy tháng ròng Năm Thu cùng chị y tá nầy đã che dấu,  chữa trị, nuôi dưỡng đồng chíNguyệt lành bệnh.


                      Khi mọi người chuẫn bị tấn công đợt 2 Tết Mậu Thân, một số vũ khí đạn dược chuyễn về nhà bác Tư (cơ sở ở đường Hòa Hưng) để hôm sau tấn công thì quân cảnh ập đến lục xét tờ khai gia đình. Chúng bắt bác Tư, đem về Tổng Nha (sau nầy chúng tra tấn bác cho đến chết), Ba Tuấn và các đồng chíTư Đức, Tư Lắm nhảy rào để rút đi đường phía sau nhà. Ba Tuấn bị thằng lính đâm sau lưng một nhát sâu gần trúng phổi, anh lọang chọang chạy về nhà của một cơ sở người Campuchia, được vợ chồng anh nầy chửa trị bằng lá ngãi. Chiều hôm sau, Năm Thu đến, cô thấy Tuấn đã kiệt sức, cô đề nghị đưa Tuấn về cứ Phước Vân để được Quân y chữa trị. Thu chở Ba Tuấn trên chiếc xe đạp để qua mắt địch. Suốt chặng đường dài từ Hòa Hưng về căn cứ Phước Vân hơn 40km, Thu đạp xe không ngơi nghĩ, có lúc Ba Tuấn phải dựa vào lưng cô vì anh quá kiệt sức, Thu không sợ cực khổ nặng nhọc, chỉ lo không biết có cứu chữa kịp cho đồng chí mình không. Trời không phụ kẻ có lòng, đội Y Bác sĩ của Quân y đã dành lại sinh mạng của đồng chíBa Tuấn trong tay tử thần.


                      Sau tổng tấn công Mậu Thân đợt 2, nhân sự đội võ trang Nguyễn Văn Trổi thay đổi. Những cán bộ lãnh đạo của đội như đồng chíNăm Trọng, đồng chíNăm Chí bị bắt, ba Tuấn chuyễn đi công tác khác. Năm Thu từ Phó ban quân  sự được đề bạt lên làm Trưởng ban quân sự của Liên quận 3 B trực thuộc Thành đoàn. Thời kỳ  nầy, Thu giả dạng là sinh viên trường Đại học để tiếp cận với lực lượng học sinh, sinh viên, chủ trương đốt xe, rãi truyền đơn, kêu gọi sinh viên học sinh xuống đường đòi dân sinh dân chủ, chống bắt lính…Áo dài trắng, tóc dài thướt tha kẹp thả sau lưng, trông Thu không khác nào một sinh viên chính hiệu. Ngày lên giảng đường  “đi học” nhưng thật ra để tìm các đồng chí bàn bạc kế họach chiến đấu. Đêm về phải ngồi dưới ánh đèn học một số nội dung bài để khi lên giãng đường thầy giáo có hỏi thì biết mà trả lời hoặc bị đám mật thám theo dõi, hỏi han thì biết mà đối phó. Đó là công việc quá khó khăn ngoài sức hiểu biết của cô, nhưng vì nhiệm vụ cô phải cố gắng vượt qua. Ngòai ra, Thu còn quản lý một hầm vũ khí và lãnh đạo  nhiều  đồng chí  trong tổ: Hai Thành, Triệu Quang Hùng, Hai Đạo, Chín Thép và một số anh em sinh viên khác.


                     Ngày 1.7.69, khi đang trên đường công tác, một chiếc xe hơi kè sát bên cô rồi dừng lại, bọn quân cảnh ập xuống, đưa giấy an ninh quân đội, bắt cô đưa lên xe, bịt mắt, xe chạy vòng vèo một lúc, chúng bắt thêm một đồng chí nữa  do một người cùng tổ với cô (đang ngồi trên xe) chỉ mặt. Chúng đưa tất cả về Biệt khu Thủ Đô, chúng tra tấn cô dã man vì có tên làm nội gián, quê nó cũng ở Bà Điểm, nó biết rõ ngọn ngành  lai lịch của Thu và mấy người chị, nó khai chính xác là Thu có giữ hầm vũ khí, Thu vẫn một mực không chịu nhận, cô chỉ nhận cô làm giao liên. Chúng tiếp tục đưa cô qua Trung  tâm Việt Mỹ (Nguyễn Tri Phương) do Mỹ thẩm vấn. Không có đòn tra nào mà chúng không dùng tới để khai thác, sức vả  người con gái tuổi đôi mươi có lúc  kiệt quệ vì những đòn thù. Thu cố nhớ lại hình ảnh của những chiến sĩ cách mạng kiên cường để tự động viên mình: Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong…Nhớ những câu dặn dò của người yêu đã hy sinh trong Tổng tấn công Mậu Thân năm 68 “Em à!  Dù hoàn cảnh nào, đã chấp nhận ra đi là không hề quay lại và không hề nhụt chí trước kẻ thù ”, lời dặn dò đó vẫn in đậm trong lòng Thu, cô cắn răng chịu đựng, trước sau vẫn một lời khai là mình có họat động giao liên còn  súng ống đạn dược thì cô không rành nên tổ chức giao cho người khác. Thẩm vấn  một thời gian dài mà không khai thác được gì, chúng đưa cô về Nha Đô Thành để kết thúc hồ sơ. Chúng giam cô ở phòng biệt giam cùng với chị Châm và các chị công tác ở các bộ phận khác. Về đây, mỗi sáng chúng kêu ra sân chào cờ nhưng mọi người nhất quyết không chào, ngày Bác mất, các chị chống lại lệnh chúng, cùng nhau làm bàn thờ và để tang Bác Hồ, chúng khủng bố ba ngày ba đêm, ngày cho ăn ba muổng cơm, ba muổng cháo và một ít nước. Đồng chí Năm Nghị (cán bộ lãnh đạo của Thành đòan, đã bị bắt trước đó, ở cùng cát- sô) thấy sức khỏe của Thu và các bạn tù quá suy kiệt, anh tìm cách đưa nước vào phòng cho Thu và các bạn uống. Bọn quản đốc luôn rình rập trại biệt giam,  chúng đưa nữ tù chuyễn đi liên tục từ  Nha Đô Thành lên  trại Thủ Đức, về Tổng Nha rồi lại đưa lên Thủ Đức vì chúng sợ những người nầy sẽ gây ảnh hưởng đến các trại khác.


                           Những ngày tù tội, Thu nhớ ba má nhiều, không biết ba má lúc này có khỏe mạnh không, tiền bạc thiếu đủ thế nào? Tội nghiệp hai ông bà, tuy cuộc sống lam lũ cực nhọc nhưng vẫn một lòng đôn đốc động viên con  cố gắng hòan thành nhiệm vụ, những khi vào cứ thăm cô chưa bao giờ hai người có ý kêu con trở về lo phụ gánh vác việc nhà, dù cô là lao động chính. Nhiều đêm, nằm nhớ đến hai người mà nước mắt Thu chãy dài. Những lúc bị cực hình khảo tra, cô sợ không còn sống để trở về với ba má anh em,  rồi cô lại thầm mong cuộc chiến mau kết thúc để được về với gia đình, về với xóm làng thân yêu. Cô thương thằng em út hiền lành, ngày cô đi nó không nói câu nào nhưng đôi mắt nó buồn bả nhìn cô, giọng nghèn nghẹn “Chị đi đi. Chắc mai  mốt lớn lên, em cũng theo chị với chị Sáu, nhà mình sống khổ quá, theo mấy ổng ngon hơn”, cô xoa đầu nó, khuyên “Ba má giờ chỉ còn mình em, lo ở nhà đở đần, chị với chị Sáu đi được rồi, em ráng lo cho ba má nghen”. Thu bước vội đi, không dám quay nhìn lại ngôi nhà nhỏ có mấy nọc trầu xanh mướt lá. Từ bấy đến nay, hầu như cô không có dịp quay về căn nhà ấy nữa. Công việc cuốn hút cô không ngơi nghỉ. Có những đêm, cô mơ  được về bên mái gia đình, được gặp ba má, em út, cả nhà đòan tụ bên nhau, có lúc mơ thấy người chị bị giặc vây bốn phía, mình mẩy đầm đìa máu, chị bay lơ lửng trên chín tầng mây.  Có đêm lại mơ thấy người bạn trai năm cũ, gặp lại anh trong căn cứ Ba Thu, hai người nhìn nhau mừng mừng tủi tủi rồi bổng nhiên anh buồn bã quay lưng  và biến mất trong rừng cây. Từ ngày xa gia đình, không hiểu sao Thu vẫn thường nằm mơ, những giấc mơ vui buồn lẫn lộn, những giấc mơ mà khi tỉnh giấc Thu vẫn thường tiếc nuối và thương nhớ khôn nguôi về những người thân.


                     Kể sao cho hết những cuộc đấu tranh triền miên trong các nhà tù, ở đâu, Thu cũng tỏ rõ bản lĩnh và nghị lực phi thường của người con gái của xứ “Mười tám thôn vườn trầu”. Tháng 6 năm 72, chúng đưa Thu và một số nữ tù ra Côn Đảo. Tại đây, chúng giam cô ở trại 4, trước khi ký hiệp định Paris, chúng bắt các trại tù làm căn cước để lập danh sách tù thường phạm, không thuộc diện trao trả tù binh. Ai nấy phản đối, không chịu lăn tay, không cho chúng chụp hình, chúng quăng lựu đạn cay vào phòng làm mọi người ngất xĩu, sau đó không cho ăn uống, không phát thuốc men. Vì tình hình tù chính trị phản đối dử dội, chúng đưa một số tù trở về đất liển trong đó có Năm Thu, nhưng đến tháng 4 năm 75 lại đưa số nầy trở ra Côn Đảo. Bất ngờ vận nước đổi thay,  mười ngày sau thì đất nước được hòan tòan giải phóng.


                   Tối đêm lịch sử 30 tháng tư, số anh em cơ sở trong tù mở cửa cho tù nhân ra ngoài,  anh em tù tổ chức lại lực lượng, truy lùng bọn ác ôn, giáo dục và trừng trị bọn chúng. Ba cha con tên quảng ngục ác ôn Chín Khương xuống tàu chạy trốn nhưng không thóat được. Ba ngày sau, bộ đội ta tiến ra, có đủ các binh chủng: Hải quân, Không quân, Bộ binh, ruồng bắt số ác ôn trốn chạy và cha con tên Chín Khương, tống giam chúng xuống chuồng cọp để tránh những anh em tù nhân vì quá uất ức muốn thanh tóan bọn ác ôn nầy.


                     Ngày 12 tháng 5 Thu và các bạn tù về tới Sài Gòn. Sài Gòn rợp bóng cờ hoa, Sài Gòn của những ngày sạch bóng quân thù, tiếng cười nói tưng bừng, tiếng nhạc cách mạng rộn rã trên các loa phát thanh ở mỗi ngã tư đường, Sài Gòn của nụ cười và nước mắt, Sài Gòn quang vinh kiêu hãnh và cũng lắm buồn đau mất mát chia ly. Thu gặp lại bà mẹ, bà vẫn còn khỏe mạnh, ba chị già yếu không đi được,  chị Sáu đang nằm chữa bệnh ở Biên Hòa (cũng vừa mới ra tù). Đứa em út thì bận chăm sóc ông già. Gặp lại má, Thu ôm chầm lấy bà, niềm thương nỗi nhớ bấy lâu khiến cô không cầm được nước mắt, hai mẹ con ôm nhau khóc hồi lâu, bà mẹ nhìn  gương mặt hốc hác của con, lo lắng hỏi “Con có bịnh họan gì không mà xanh xao quá vậy con”, Thu nói cho má an lòng “Không sao đâu má, bệnh gì rồi cũng qua thôi, đất nước mình yên rồi, bệnh gì cũng không sợ, đâu thiếu gì thuốc hay, bác sĩ giỏi mà má lo, chị Sáu Nhỏ (Tư Minh) khỏe chưa, chừng nào chị về? Chừng nào chị về, gia đình mình họp mặt một bữa, con nhớ nhà quá trời rổi” “Ờ! Một hai bữa gì nó cũng về tới bây giờ, ba mầy trông ngóng tụi bây dữ lắm đó, coi công việc xong xuôi thì về ngay nghe con” “Dạ. Bao nhiêu năm, con chờ đợi có ngày nầy, má về trước, một vài bữa công việc xong, con về tới liền”. Bà mẹ nấn ná giây lát rồi từ giả con ra về.Lòng bà vui phơi phới vì các con đã trở về đòan tụ bên bà, dù sức khỏe của chúng nó không còn như xưa nhưng dù sao chúng cũng còn sống để  trở về, rồi bà chạnh nghỉ tới những bà mẹ trong ngày vui trọng đại của đất nước đã mãi mãi vắng bóng các con,  nỗi đau buồn không gì bù đấp được. Nghỉ tới đó, nước mắt bà tuôn chảy, nước mắt của niềm vui và nỗi buồn.


                    Sau khi kiểm điểm thời gian trong tù, Năm Thu được tổ chức điều về Thành hội Phụ nữ, công tác tổ chức ở đây một thời gian đến năm 1976 thì được đi học Bổ túc văn hóa. Thời gian nầy, được sự giới thiệu của bạn bè, chị quen với anh Trần Minh Sáng, quê  Sóc Trăng, anh tập kết ra Bắc, đã có vợ người Bắc và hai con, nhưng vợ anh bị bom B52 chết từ năm 1970. Anh Sáng tính tình điềm đạm, hiền lành, đang là Bí thư kiêm Chủ tịch phường Bình Tây (Chợ Lớn). Thu ngần ngại chuyện anh đã có gia đình nhưng rồi trước tấm chân tình của anh, Thu quyết định kết hôn. Trước khi làm đám cưới, cô đã về Đức Hòa (Long An)  tìm gặp gia đình anh Nguyễn Văn Thôi (người yêu cũ ) để viếng thăm cha mẹ và mộ phần người đồng chí mà cô hết lòng thương yêu.   


                    Làm Hội trưởng Hội Phụ nữ quận 8 một thời gian lại tiếp tục đi học khóa Cao cấp chính trị rồi về làm Trưởng phòng công nghiệp và Trưởng ban quản lý thị trường. Cuối năm 1989 phụ trách Phó Chủ tịch Hội Đồng nhân dân quận 8, cuối năm 1994 là Thường vụ Quận Ủy, Trưởng ban Dân vận kiêm Chủ tịch Mặt trận quận 8 cho tới ngày về hưu. Trong thời gian nầy, chị vận động các ban ngành đòan thể cùng góp sức chăm lo cho bộ đội Trường Sa, bộ đội biên phòng, thực hiện tốt chế độ chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ và gia đình chính sách, tạo được không khí đoàn kết, tương thân, tương ái ở địa phương. Chị được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của bộ Quốc phòng về việc chăm lo cho bộ đội Trường Sa và bộ đội biên phòng, nhiều bằng khen, giấy khen của UBND thành phố HCM và nhiều Huy chương, Quân chương kháng chiến  chống Mỹ.


                      Giờ đây, niềm vui lớn nhất là  những năm tháng về hưu chị đã được sống bên cạnh gia đình, các con Trần Thị Thanh Loan, Trần Thị Thanh Thảo đã học hành thành đạt và có mái gia đình hạnh phúc, hai con của anh Sáng cũng chăm chỉ làm ăn, có người đã là Phó giám đốc của một công ty tư nhân.


                      Ngày ngày vui thú điền viên trong khu vườn nho nhỏ ở Lê Minh Xuân, chị Năm Thu  vẫn nhanh nhẹn xông xáo lo lắng việc nhà, việc địa phương như ngày nào. Mái tóc đã điểm bạc nhưng nụ cười chân chất, đôn hậu vẫn nở trên môi của người phụ nữ đã từng là thành viên của đội võ trang làm cho quân thù khiếp vía khi nghe tới biệt danh của người anh hùng đất Điện Bàn “Đội võ trang Nguyễn Văn Trỗi”.


 


  Kim Quyên


www.trieuxuan.info


 


       


                           


               


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »