tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
10.03.2012
Nguyễn Tuấn Khanh
Cha tôi, nhà văn Ngọc Giao (tiếp và hết)

Dĩ nhiên, tôi hiểu rằng việc cha tôi bị khai trừ ra khỏi Hội là nằm trong bối cảnh chính trị - xã hôi nước ta lúc bấy giờ, giữa lúc cuộc đấu tranh tư tưởng ở miền Bắc đang diễn ra quyết liệt. Đến năm 1963, sau một bài viết đăng trên báo hết sức gay gắt của Nguyễn Bắc về cha tôi thì cái tên “Ngọc Giao” còn trở nên một nỗi ngại ngùng đối với nhiều bạn cầm bút thân thiết của cha tôi trước 1954 nữa. Bây giờ, mỗi khi đi qua mấy con phố Tạ Hiền, Hàng Giầy, Hàng Buồm… là tôi lại nhớ câu chuyện cha tôi kể việc gặp ông Nguyễn Bắc tại nhà nhà văn Hoàng Công Khanh ở con ngõ cụt, cuối phố Hàng Giầy, Hà Nội.


 Quãng năm 1950, 1951, một lần cha tôi tình cờ đến chơi nhà bác Hoàng Công Khanh thì gặp ông Nguyễn Bắc đang đắp chăn nằm trên giường. Thời gian này Đảng cử Nguyễn Bắc vào nội thành để nắm tình hình giới trí thức Hà Nội, đồng thời làm công tác tuyên truyền vận động tư tưởng, chính trị. Thấy cha tôi đến, ông Nguyễn Bắc có ý né tránh nên cứ nằm yên trong chăn, nhất định không chịu ngồi dậy. Ông Hoàng Công Khanh bèn bảo: “Anh cứ dậy đi, Ngọc Giao thì không có gì đáng ngại hết.” Nghe chủ nhà khuyên, ông Nguyễn Bắc mới chịu ra khỏi chăn để gặp cha tôi. Sau hoà bình, ông Nguyễn Bắc hỏi cha tôi: “Tại sao sau khi gặp tôi ở nhà Hoàng Công Khanh về, anh không đi báo mật thám?”. Cha tôi bèn đáp: “Anh xoàng quá! Hôm ấy nếu tôi báo Tây thì liệu anh có được ngồi trên cái ghế của anh bây giờ không? Lẽ ra anh phải làm công việc Đảng giao cho khi vào hoạt động ở nội thành: tuyên truyền cách mạng, vận động giới trí thức Hà Nội hướng về cách mạng thì anh lại chỉ “đắp chăn”, không chịu làm ”. Ông Nguyễn Bắc sầm mặt, rồi mỉm cười chẳng nói gì. Có lẽ nào việc Nguyễn Bắc “đánh” cha tôi lại có nguồn gốc từ nỗi lo sợ của ông ta trong buổi gặp vô tình đó ở nhà bác Hoàng Công Khanh? Thật không may cho cha tôi là đã chạm phải chiếc vẩy ngược của “rồng”.


 Thiết nghĩ, sự phán xét mọi giá trị sẽ thuộc về thời gian, với tất cả sự công bằng đến lạnh lùng của nó.


 


Ở lại, nhưng đâu dễ từ bỏ nghiệp viết


Năm 1954, trước làn sóng người lũ lượt kéo nhau xuống tầu “há mõm” ở Hải Phòng để di cư vào Nam thì cha tôi đã có một quyết định rất rõ ràng: Ở lại! Không đi! Hình như lương tâm ông mách bảo cho ông điều đó, chứ không phải bởi ông có “lập trường tư tưởng vững vàng” gì. Tôi làm sao quên được một buổi sáng mùa thu năm 1954 tại ngôi nhà 14, Đặng Dung, ngày ấy tôi đúng bẩy tuổi. Tôi đang ngồi trên chiếc xe đạp con có hai chiếc bánh phụ nhỏ hai bên do cha tôi mua cho, thì cha tôi hốt hoảng trở về. Ông dặn me tôi (bà cả ) rằng, nếu có ai đến hỏi thì bảo ông không có mặt tại Hà Nội. Ngay sau đó, cha tôi trèo lên cái ô vuông thông lên trần nhà ở đầu cầu thang tầng hai và ngồi ẩn dưới mái ngói ngôi nhà. Buổi trưa me tôi phải đưa bữa lên cho ông qua cái ô vuông nọ. Ngay tối hôm ấy, cha tôi ra bến ca nô Phà Đen để xuôi về Nam Định, tạm trú tại nhà người cháu gái mà cha tôi rất quý mến tên là Trâm. Chị Trâm là một người phụ nữ hiền thục, chịu thương chịu khó, thương chồng, yêu con, lại thêm có vóc dáng xinh đẹp. Truỵện ngắn Hiền, viết trên Truyền Bá, năm 1943, cha tôi có đề: “Tặng cháu Trâm” ngay dưới tên truyện. Tôi được biết nhân vật Hiền có nguyên mẫu là chị Trâm. Ở nhà chị Trâm ít bữa, không khí giải phóng nghe náo nức, cảm thấy yên lòng, cha tôi lại từ biệt gia đình chị, xuống ca nô về Hà Nội. Tình cảm và suy nghĩ của cha tôi những ngày đầu miền Bắc được giải phóng ra sao được thể hiện qua bài ký Những bàn tay của ông, in trong cuốn Ánh điện giải phóng, tập truyện ngắn và bút ký, viết chung với Hồng Hà và Trần Duy, Nxb Văn Nghệ xuất bản năm 1955 và Truyện thôn Kiều (1956).


Thế rồi sau đó là những ngày tháng đi thâm nhập thực tế để sáng tác, những đợt về nông thôn, vùng núi để “ba cùng” với nông dân, những đợt học tập tư tưởng chính trị liên miên…Mỗi lần ông từ các địa phương trở về là thấy râu tóc bờm sờm. Có lần con bé Hạnh em tôi kêu thét lên vì thấy máu rỉ ra dưới mang tai bố. Thì ra đó là một con vắt. Nhưng những nỗi gian khổ ấy thì có hề gì, vì cha tôi đã quá quen với mọi gian khổ và cuộc sống ở nông thôn, miền núi. Cha tôi luôn cố gắng tham gia mọi hoạt động của Hội Nhà văn, không bao giờ kêu ca, phàn nàn. Trước những đổi thay to lớn của dân tộc, của đất nước, hình như ông đang có những suy nghĩ sâu sắc về vai trò của người cầm bút trong chế độ mới, đang thực sự mong muốn tự “lột xác” để trở thành một con người mới chăng. Nhà thơ Chế Lan Viên đã nói hộ được tâm trạng của những nghệ sỹ Việt Nam ngày đó, cho dù mãi sau này ông mới viết ra.


Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp,


Giấc mơ con đè nát cuộc đời con.


 Nhưng cha tôi đã không dễ gì trong việc tự “lột xác”, và nền văn nghệ mới xã hội chủ nghĩa cũng không dễ gì chịu dung nạp ông. Cuộc sống, với tất cả sự phức tạp, lắt léo của nó đâu có đơn giản như vậy.


 Để từ bỏ “quá khứ” của chính mình, lúc đó cha tôi chỉ còn mỗi cách là từ bỏ bằng hết sách, báo, bản thảo, thư từ… của ông. Cuối năm 1956, bên bể nước máy, gần gốc cây ổi già ở ngôi nhà 14, Đặng Dung, Hà Nội, cha tôi đã tự tay đốt sạch chúng. Lửa cháy đùng đùng, làm sém cả cây ổi, đốt mãi mới hết. Duy cuốn Đất, trong số “Mười bản in đặc biệt để biếu, không bán” là cháy rất lâu mới thành tro. Bởi nó được in bằng thứ giấy thủ công quý, bìa bọc da, dọc bằng con dao ngà cốt để lại những mép giấy lờm sờm mà chỉ những người chơi sách mới biết giá trị. Anh Nguyễn Bá Trác, con bà mẹ cả tôi bảo, chẳng bao giờ anh thấy bố khóc cả, thế mà khi nhìn cuốn Đất cháy, bố đã ôm mặt khóc nức nở. Anh Trác cho rằng bản thảo viết tay Xã Bèo, Người của đất (1951) cũng nằm trong số đó. Năm ấy cha tôi 45 tuổi. Đã có khá nhiều nhà nghiên cứu văn học và bạn đọc hỏi tôi về số phận bản thảo Xã Bèo ra sao. Nhân đây, tôi cũng nghiêng về nhận định của anh tôi qua câu chuyện kể trên: Nó đã bị chính tay tác giả của nó đốt.


*


 Nhưng cha tôi đâu dễ từ bỏ nghiệp viết. Khi ấy ông mới 45 tuổi, đang bước vào một thời kỳ mà kinh nghiệm sống và kỹ thuật viết đã già dặn hơn cái ngày ra mắt tập truyện ngắn đầu tay Một đêm vui (1937) nhiều lắm.


 Năm 1957, cha tôi lại trở lại với bản thảo viết tay Xóm Rá (Phóng sự Sài Gòn) ông viết dở dang từ 1951. Nếu nói về hiện thực thì đây là một tác phẩm đủ sức ghi nhận một hiện thực đặc biệt về con người và xã hội Sài Gòn năm 1949 - năm cha tôi đã có dịp sống trong hai tháng; và ông đã quyết định viết bằng thể loại phóng sự, tiếp tục mạch viết của Ông chọc tiết (Phóng sự người Hà Nội) mà ông đã viết hồi 1950.


 Năm 1949, cha tôi vào Sài Gòn để tham dự một hội chợ sách, báo. Nhân thể để thăm người anh cùng cha khác mẹ là ông Nguyễn Huy Lai. Bác Lai tôi ngày ấy sống ở khu Vườn Chuối, tức khu vực phố Trần Quốc Toản, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, cho đến sau 1975 gia đình bác vẫn sống ở đây. Xóm Rá là một địa danh có thực, nằm ngay trong khu Vườn Chuối, và những điều cần viết về nó đã hình thành trong tâm trí nhà văn từ ngày ấy.


 Xóm Rá là một phóng sự về thực trạng nhà chứa và gái mãi dâm. Cái chủ đề này trước đó hai người bạn của cha tôi là ông Trọng Lang và ông Vũ Trọng Phụng đã viết rồi. Xem thi ên ph óng s ự “H à N ội l ầm than” c ủa Tr ọng Lang m ới th ấy h ết s ự b óc l ột d ã man c ủa b ọn ch ủ nh à ch ứa đ ối v ới cu ộc đ ời c ủa c ác c ô g ái. Hay đ ọc “Thanh ni ên tru ỵ l ạc” c ủa Nguy ễn Đ ình L ạp, m ột ph óng s ự xu ất s ắc đ ăng tr ên b áo “Ích h ữu” n ăm 1938 c ũng th ấy t ác gi ả t ố c áo kh ông th ư ơng ti ếc v ấn n ạn x ã h ội n ày. Đ ến V ũ Tr ọng Ph ụng, v ới hai t ác ph ẩm “L ục s ì” v à “L àm đ ĩ” th ì ti ếng c ư ời c ủa ông đ ã x é tan t ấm m àn ô tr ọc, gi ả d ối c ủa x ã h ội n ửa phong ki ến, n ửa thu ộc đ ịa Vi ệt Nam l úc b ấy gi ờ. Nếu như các truyện ngắn, ký và tiểu thuyết của cha tôi trước đây thường nghiêng về những nỗi hoài cảm xót xa, những nỗi buồn sâu lắng, man mác, thì bút pháp của Xóm Rá lại cuồn cuộn, có lúc hết sức dữ dội, tinh quái và trào lộng. Nhưng điều cốt yếu ở đây là, cái nhìn của cha tôi đối với họ không phải là cái nhìn trịch thượng của người ở tầng lớp trên, thương hại mà vẫn ghê tởm họ. Tiếp tục một cách chân thành và nhất quán hướng viết trước đây, trong tác phẩm này cha tôi đã biểu lộ lòng thù ghét trước tất cả những gì dã man xúc phạm con người, chà đạp lên nhân phẩm con người.


 Trong bối cảnh xã hội miền Bắc lúc bấy giờ, tác phẩm ấy làm sao in được. Mà nếu có in ra, Xóm Rá cũng sẽ chịu chung số phận với “Đống rác cũ” của Nguyễn Công Hoan và “Vào đời” của Hà Minh Tuân. Với Ngọc Giao, chắc chắn búa rìu sẽ nặng tay hơn.


 Cha tôi vẫn khôn nguôi ấp ủ hy vọng một ngày nào đó nó sẽ được in. Nhưng rồi, năm 1977, một buổi chiều, cha tôi đưa tôi tập bản thảo viết tay Xóm Rá - đ ứa con tinh th ần của ông, viết trên thứ giấy mỏng tang đã vàng ố, do chính tay ông tự xé làm đôi. Cha tôi bảo: “Chiều nay, dùng nó mà nhóm bếp!”. Lúc đó, cả khuôn mặt ông tái nhợt, đôi môi run run, hai bàn tay nắm chặt. Ông buồn bã, lặng mấy ngày không nói. Sự việc này cha tôi cũng đã đề cập tới trong bức thư kể trên gửi ông G. Meillon, năm 1980:


 


 “Tôi hiện có hai tập bản thảo, một viết theo tiểu thuyết, một viết theo phóng sự. Cuốn thứ hai là phóng sự về xã hội Sài Gòn từ thời Ngô Đình Diệm. Bản thảo đó còn, nhưng trong một cơn điên tôi đã xé làm hai mảnh, nay ngồi dán nối lại không sao được, vì nó bị de’sordonne’ (không có trật tự) từ đầu đến cuối 450 trang. Tôi rất hối hận, nếu nó còn nguyên, chỉ sửa chữa qua, rất có thể in được lúc này, và nó sẽ là món h àng “ăn khách”. Tôi nhiều lúc phàn nàn với bạn già Hoàng Thiếu Sơn là số phận tôi chẳng ra gì.”


 


 Tôi hoảng hốt và sót xa. Ngay lập tức tôi đã lén đưa tập bản thảo đó cho anh tôi sắp xếp, dán lại, rồi tôi gói ghém kỹ, cất giấu dưới gầm cầu thang ở ngôi nhà 30 Châu Long, suốt một thời gian dài.


 Rồi vào mùa xuân năm 1995, cha tôi đem tặng nó cho ông Lâm cà ph ê, với một tờ giấy đính kèm có nội dung sau:


.


 “Năm 1949, tôi đã thâm nhập vào cái xóm Rá này của Sài Gòn. Đó là một cõi địa ngục, có mặt hầu hết tướng tá, bộ trưởng, ngoại giao, lẫn lộn với bầy đĩ bợm thượng, trung lưu. Tôi đã qua hai tháng sống với lũ ma quỷ ấy. Tôi hiểu họ, thấy họ đến tận xương tận tuỷ. Có lẽ bởi coi là ghê tởm, là thiếu đạo dức, là ký giả nhà chứa, là văn chương sa đoạ, là tác phẩm mãi dâm mà các nhà văn, nhà báo miền Nam đỏ mặt và đỏ bút khi nghĩ đến một vấn đề xã hội, một vấn đề nhân loại như thế. Cũng có một vài nguời dám mon men đến lĩnh vực mãi dâm, nhưng họ đứng ngoài ngưỡng cửa nhòm vào để rồi bịa đặt những mẩu chuyện li kỳ, rùng rợn, bi đát nữa… Bởi thế, tôi đã cố gắng viết một phóng sự diễn tả đầy đủ thực trạng cái xã hội mãi dâm, cái xã hội kỳ quái, tối đen mà hiện nay ta còn ù tai, mờ mắt, chưa nhận xét được gì chân xác.


 Nếu nói đến hiện thực thì đây là một tác phẩm đủ sức ghi lại một phần lớn sự kiện về con người và xã hội Sài Gòn ngày ấy.


Cuối năm 1957, tôi đang say sưa viết dở “Xóm Rá” thì giới văn học miền Bắc bị một cơn xoáy mạnh, nhiều cây bút đều bị hẫng, ngừng cả lại. Tác phẩm này – cùng chung số phận với “Đất” của tôi – coi như yểu mệnh, lẽ ra nó c òn sống trên một trăm trang nữa!


Sau “Xóm Rá”, tôi dự định viết tiếp “Xóm cù lao” (truyện dài miền Nam) nhưng rồi đành phải gác bút. Tôi sắp ra khỏi cõi thế gian, trân trọng và tin cậy gửi tặng tập bản thảo này cho bạn Văn Lâm (ông Lâm café).


Hà Nội, Xuân 1995


Ngọc Giao


Sau này, mùa hạ năm 2009, anh Nguyễn Văn Lộc, con trai ông V ăn Lâm đã trao lại cho tôi tập bản thảo viết tay trên với lời nói ân cần rằng, gia đình anh đã có công gìn giữ tác phẩm của cha tôi, nay tôi phải có trách nhiệm làm cho nó được ra mắt bạn đọc. Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước tấm lòng tử tế của vợ chồng anh. Và với sự nỗ lực của Ban biên tập Nxb Hà Nội, tác phẩm Xóm Rá đã ra mắt bạn đọc đúng dịp Hội Nhà văn Việt Nam kỷ niệm 100 năm sinh cha tôi.


*


 B ốn n ăm sau, n ăm 1962, cha t ôi l ại ấp ủ d ự đ ịnh vi ết v ở k ịch l ịch s ử, v ới nh ân v ật ch ính l à Phan Đ ình Ph ùng – m ột trong s ố c ác v ăn th ân, c ác anh h ùng đi đ ầu trong cu ộc kh áng chi ến ch ống th ực d ân x âm l ư ợc Ph áp c ủa d ân t ộc.


 N ăm ấy t ôi 16 tu ổi. T ôi l àm sao qu ên n ổi m ột bu ổi s áng m ùa h è n ăm 1963, t ôi c ùng cha t ừ ng ôi nh à m ẹ t ôi ở s ố 9, ph ố Đ ồng Xu ân đi b ộ sang hi ệu s ách Y ên S ơn ở đ ầu ph ố H àng Gi ấy, gi áp ph ố H àng Khoai. B à ch ủ hi ệu s ách Y ên S ơn d áng ng ư ời to l ớn đ ẫy đ à, m ặc áo phin n õn, đeo chu ỗi h ạt ng ọc m ầu xanh, đ ứng sau qu ầy s ách. Cha t ôi tr ỏ v ào c ác gi á s ách sau l ưng b à, b ảo: “C ó cu ốn n ào v ề Phan Đ ình Ph ùng, t ôi xin mua h ết”. B à ch ủ m ừng r ỡ tr ư ớc ng ư ời mua hàng dễ tính vào bu ổi s ớm m ới m ở h àng. H ơn n ữa, b à c òn l à ch ỗ b ạn b è quen bi ết c ủa m ẹ t ôi.


 T ừ h ôm đ ó tr ở đi, cha t ôi v ùi đ ầu v ào đ ọc ng ấu nghi ến, ghi ch ép v à v ạch ra c ác ch ư ơng, h ồi cho v ở k ịch. M ấy th áng sau, v ở k ịch l ịch s ử Phan Đ ình Ph ùng ra đ ời. V ốn s ẵn qu ý tr ọng t ài n ăng c ủa ông M ão, di ễn vi ên đ óng vai Quang Trung Nguy ễn Hu ệ trong v ở c ải l ư ơng “Quang Trung” c ủa Đo àn C ải l ư ơng Trung ư ơng, cha t ôi đ ã c ó bu ổi g ặp g ỡ, trao đ ổi v ới ông v à đ ưa ông đ ọc tr ư ớc. Đ ến n ăm 1963, v ở k ịch l ịch s ử Phan Đ ình Ph ùng đ ã đ ư ợc ch ính t ác gi ả chuy ển th ể c ải l ư ơng. C ó l ẽ đ ây l à k ết qu ả sau nh ũng bu ổi l àm vi ệc gi ữa t ác gi ả v ới ông M ão. Theo anh Nguy ễn B á Tr ác k ể, cha t ôi đ ã đ ưa anh ch ép l ại b ản th ảo (chuy ển th ể c ải l ư ơng) n ày. Trong gia đ ình t ôi, anh c ó ch ữ vi ết r ất đ ẹp, r õ r àng. T ôi c òn nh ớ nh ư in c ái b ản th ảo ấy qua n ét ch ữ c ủa anh. Ngo ài b ìa k ẻ ch ữ PHAN Đ ÌNH PH ÙNG b ằng m ực t àu đen nh ánh, ki ểu ch ữ in. B ản th ảo đ óng b ằng b ìa m ầu v àng nh ạt, m ột th ứ b ìa r ẻ ti ền h ồi ấy. G áy b ản th ảo kh âu b ằng loại ch ỉ d ùng kh âu gi ầy. T ôi kho ái nh ất c ái ch ư ơng (hay h ồi) n ói v ề v ị t ư ớng Cao Th ắng, d ư ới tr ư ớng Phan Đ ình Ph ùng, ng ày đ êm ngh ĩ c ách ch ế thu ốc s úng đ ể gi úp ch ủ t ư ớng kh áng c ự v ới gi ặc Ph áp. B ản th ảo v ở k ịch Phan Đ ình Ph ùng đ ã ho àn t ất, nh ưng s ố ph ận c ủa n ó c ũng ch ẳng h ơn g ì X ã B èo v à X óm R á.


 Kh ông r õ v ì nguy ên c ớ g ì xui khi ến, cha t ôi đ ã đ ưa b ản th ảo Phan Đ ình Ph ùng cho m ột v ị l ãnh đ ạo S ở V ăn ho á H à N ội l úc b ấy gi ờ đ ọc. V ề s ự vi ệc n ày, g ần đ ây nh à v ăn B ùi B ình Thi cho t ôi đ ư ợc bi ết: V ị n ọ đ ã đ ưa đ ến Ban V ăn ngh ệ, Đ ài Ti ếng n ói Vi ệt Nam m ột bản thảo đánh máy v ở k ịch c ùng t ên, nhưng lại ký tên ông ta. C ó nhi ều đi ều ti ếng x ì x ào quanh chuy ện n ày. Ông tr ư ởng Ban V ăn ngh ệ ĐTNVN Ph ạm Tu ân th ấy nhi ều nghi v ấn v ề t ác gi ả thực sự của v ở k ịch, nên ông đ ã quy ết đ ịnh kh ông d ựng n ữa. Đúng là cha tôi đã làm cái việc đem “gửi trứng cho ác”. Sau này, trong một bài ký, cha tôi cũng tự nhận rằng “lũ chúng tôi viết khôn mà sống dại”.


 T ự đ áy l òng m ình, t ôi kh ông mu ốn n ói ra nh ững chuy ện n ày, ch ỉ mong đ ư ợc qu ên đi. Nh ưng tr ư ớc h ư ơng h ồn cha t ôi, t ôi c ảm th ấy c ần ph ải cất tiếng n ói lên m ột đi ều g ì đ ó…


*


 Sau đó cha tôi tính chuyện chuyển sang lĩnh vực dịch thuật, vì ngoài việc cầm bút ông còn biết làm gì khác. Trong quá trình tìm tài liệu của cha tôi trên “Tiểu thuyết thứ Bảy”, tôi nhận thấy trước đây cha tôi đã từng dịch khá nhiều truyện ngắn của các tác giả như; “Viên ngọc bích” của A.Blanc Peridier; dịch dăm ba truyện của Stefan Zweig… Và mới đây, bạn Minh trong “Câu lạc bộ Người yêu sách” có gửi qua hòm thư điện tử cho tôi tập truyện ngắn “Mối tình thiên thu” - do Nxb Á Châu ấn hành tại Hà Nội năm 1953, Ngọc Giao dịch. Kể ra điều này để thấy công việc dịch thuật văn học không phải là một việc làm mới mẻ đối với cha tôi. Nhà thơ Đoàn Phú Tứ, tác giả bài Mầu thời gian, với những câu thơ


 “Mầu thời gian xanh xanh


Hương thời gian tím tím…”


sau này, lúc về già còn biết làm gì khác ngoài công việc dịch thuật, và ông đã trở thành một dich giả bậc thầy. Tuy nhuận bút ít ỏi, còm cõi, phải nói đó là một công việc nặng nhọc mà an toàn, một vùng trú ẩn đáng tin cậy cho những ai “có vấn đề” thời bấy giờ muốn lẩn tránh cuộc đời. Như Cao Xuân Hạo, Nguyễn Vĩnh (Báo Văn Nghệ), Phan Hồng Giang, Vũ Đình Liên, Phạm Mạnh Hùng, Nhữ Thành (Phan Ngọc)… Nếu chúng ta tiến hành một khảo sát về những người làm công tác dịch thuật trong giai đoạn này, tôi tin rằng suy nghĩ của tôi không phải không có cơ sở.


 Bấy giờ anh em chúng tôi (con bà hai) còn nhỏ, nghe cha đang tính dịch các cuốn như “Một nghìn một đêm lẻ”, hay “Chuyện kể An-đéc-xen”, hoặc “Ba người Ngự lâm pháo thủ” thì khoái lắm, cứ háo hức chờ xem. Chờ hoài mà chẳng thấy đâu. Có lẽ qua những kinh nghiệm đau xót trong cuộc đời, và sau mấy buổi gặp đầy nặng nề và khó chịu với điệu bộ hách dịch, kẻ cả của ông Như Phong – giám đốc Nxb Văn học dạo ấy - cha tôi đã nhận thức được rằng ngay cả trong lĩnh vực này, nếu có làm thì ông cũng chẳng được yên.


 


Những người bạn


Sáng tác Xóm Rá (1957) và Phan Đình Phùng (1962), sau hai gắng gỏi cuối cùng đó bầu nhiệt huyết của cha tôi trở nên nguội lạnh. Ông rút lui hoàn toàn vào im lặng, với một nỗi lo sợ mơ hồ như lúc nào cũng cánh cánh bên mình.


Cha tôi là một con người tinh tế, sâu sắc. Ông am hiểu tiếng Pháp và văn hóa Pháp, và cũng có nhiễm cái phong vị lãng mạn của họ. Ông rất súc tích cả trong lối sống và trong phát ngôn, thâm trầm và nhân hậu trong cuộc sống, sâu sắc và uyên thâm trong tri thức, nhạy cảm trước cái đẹp. Càng già càng hiu hắt, càng tiếc thương từng áng mây chiều, từng đoá hoa sớm héo, từng làn gió nhẹ xuân thu. Ông không còn gì nữa, như ông nói trong một bài ký sau này, “ngoài dăm ba khóm trúc gầy, mươi khóm hoa hèn cỏ dại mọc lẫn vào thanh thảo. Đôi khi cố công ngồi tỉa xén một hai búi cây hoang dại bờ rào do một ông già nông thôn mang đến nửa bán nửa cho…Âu đó cũng vui tuổi già, sau những ngày dài, chập tối, ngõ vắng lên đèn, một mình, bước thấp bước cao, lê đầu gậy, dạo một quãng cho đỡ đau xương cốt”. Kể từ đó, ông sống “những ngày tàn không tác phẩm”.


Cha tôi không dám viết gì nữa. Nhưng cái sự không được viết quả là một cực hình đối với cha tôi. Đã qua nửa đời, nhưng ông vẫn mang nặng muôn vàn thế sự, có khi ôn lại tưởng như sắp vỡ óc ra. May mà sức óc không có khả năng lưu giữ hết, nhiều sự kiện buồn vui lành dữ,theo dòng thời gian tuần tự trôi đi. Cha tôi, với biết bao nỗi thăng trầm, quên đi đã nhiều theo tuổi tác. Giai đoạn này cha tôi sống hoàn toàn khép mình tại ngôi nhà 14, Đặng Dung, Hà Nội, làm bạn cùng cây cỏ, chim muông, như ông nói trong một bức thư trả lời ông bạn Đồ Đức ở Nam Định, hỏi thăm cha tôi độ rày sống ra sao.


Một mảnh sân con,


Một gian phòng nhỏ,


Dăm cành xuân cỗi,


Chơi với nước non.


Là một người con, một người sưu tầm và tuyển chọn tác phẩm và một bạn đọc có hệ thống toàn bộ tác phẩm của nhà văn Ngọc Giao, tôi nhận thấy cha tôi coi việc cầm bút để được sống với thế giới nhân vật của ông nó mới thiêng liêng làm sao. Ông coi việc viết như một lẽ sống, viết nhiều khi là để dãi bày những suy nghĩ của mình chứ không do bất cứ sự mưu cầu danh lợi hay bị đe nẹt nào, bởi thế ông sáng tác rất nhanh và dễ dàng. Bài ký Mõ làng chẳng hạn, cha tôi viết xong trong chưa đầy một ngày, trước khi qua đời ở tuổi 86 (tháng 6 âm lịch năm 1997) có vài ngày, chưa kịp gửi báo để in.


Sống bên vợ con, nhưng hình như tâm trí ông lúc nào cũng vương vấn với những “hình bóng cũ”. Thuở còn nhỏ, tôi thường thấy cha say sưa sống lại với những quá vãng một thời bên khay trà, mâm rượu với các ông bạn thân quý như hoạ sỹ Nguyệt Hồ (chuyên vẽ minh hoạ cho tờ Tiểu thuyết thứ Bảy); hoạ sỹ Trịnh Hữu Ngọc và hoạ sỹ Lưu Văn Sìn (cả hai ông đều cao lớn, khoẻ mạnh, quắc thước, ăn nói hào sảng, mặc Âu phục rất lịch sự). Các nghệ sỹ cải lương Anh Đệ và Sỹ Tiến, nhà văn Thanh Châu, cụ Bạch Diện – chuyên dịch tin cho hãng tin AFP thời Pháp thuộc, và các nhà thơ Hoàng Cầm, Trần Huyền Trân, Hồ Dzếnh.


Cha tôi thường chuyện trò với các bác ấy về các đề tài một thuở của các ông: Cuộc đời những nghệ sỹ lừng danh một thời của sân khấu Bắc Kỳ như bà Hoa Tâm (một người bạn thân thiết của gia đình tôi), các kép hát Chín Cưỡng, Sáu Phú, Tám Ngân; Chuyện đua xe đạp với những tay cua-rơ cứng cựa như Chức, Cổng mà cha tôi quen biết, quý mến; Chuyện bóng đá với những cầu thủ Thông, Hối, Viễn và vua giữ lưới Văn Đức Nhuận - cao lớn như người Âu, rất đẹp trai, hoạt bát, vui vẻ với mọi người, thân mật với học trò. Cha tôi học Pháp văn của thầy Nhuận tại trường Quảng Văn ở phố Nguyễn Siêu; Chuyện ông Đỗ Văn mới mở ngành in mà báo ra đã rất đẹp,với những tờ như Con Ong, Đông Tây, Nhật Tân; Chuyện sòng bạc của Ba Sinh công tử; Chuyện Hiên Chi viết bẻ văn Nguyễn Văn Vĩnh; Chuyện bọn đàn bà phố Hàng Chiếu đanh đá; Rồi thì chuyện nhà cầm đồ Vạn Bảo phố Hàng Chiếu của Hoa kiều, cạnh nhà số 73 nơi gia đình tôi tá túc lúc bấy giờ. Cha tôi đã từng cầm cố đồ ở đó để giúp đỡ các bạn, đáng kể nhất là bác Chu Ngọc – nhà soạn kịch, một nghệ sỹ ít học nhưng có tài năng và lòng trung hậu với bạn hữu làng văn.


Chuyện lão Phủ Trọng, chủ rạp Quảng Lạc bắt kép Giò mặc triều phục thái sư ra sân khấu, ngửa mặt lên tầng gác, trên đó có Toàn quyền A. Sarraut ngồi mà vái lạy. Phủ Trọng cũng lạy theo. Cả rạp, trước cảnh sỉ nhục ghê tởm ấy lặng hẳn đi. Sau đó mấy phút tất cả khán giả xô ghế đứng lên, ào ạt kéo ra khỏi rạp với nhiều tiếng chửi. Qua tối ấy, Quảng Lạc vắng dần, để rồi chết hẳn.


Trong số những câu chuyện cha tôi thường say sưa nói cùng các bạn, tôi nhớ nhất các câu chuyện về sân khấu Hà Nội ngày xưa. Cũng bởi có mấy người trong số đó tôi có biết. Như bác Sỹ Tiến, bố ca sỹ Lệ Quyên xinh đẹp. Như bác Hoa Tâm - một nữ nghệ sỹ chèo tài sắc một thời, sống trong một căn phòng hẹp bên ngách rạp cải lương Kim Phụng, quãng phố Tạ Hiền. Bà không chồng con. Ngày nhỏ, một hôm me tôi (bà cả) sai tôi vác một đôi chiếu hoa đến biếu bà, bà cứ xoa đầu tôi rồi ôm lấy tôi hôn hoài. Mãi tận bây giờ, hơn năm mươi năm rồi mà mùi hương của bà vẫn như còn vương trên má tôi.


Ông còn kể cho các bạn chuyện tuổi nhỏ cơ hàn của ông: Tối tối vác thang tre cho một ông cụ làm nghề thắp đèn leo lên cột đèn gỗ, thắp đèn dầu hoả cho mấy phố Vải Thâm, Lò Rèn, Hàng Sắt, Hàng Đồng. Thời kỳ ấy, Hà Nội mới có đèn điện ở mấy phố Tây.


*


Những câu chuyện về Hà Nội và con người Hà Nội một thời cứ trôi đi cùng năm tháng, những người bạn kể trên của cha tôi theo kiếp nhân sinh dạt đi mỗi người một nơi, rơi rụng dần. Có thể nói, những kỷ niệm ấy là một phần trong vốn sống, kinh nghiệm sống làm nên thế giới văn học của cha tôi. Để rồi sau này, một số bài ký viết dựa trên những vốn sống đó được coi là tự truyện của chính tác giả. Nó như một tiếng thở dài, một niềm day dứt tự vấn khôn nguôi.


Cha tôi có lần lắc đầu bảo với các con, khi thấy chúng tôi sáng nào cũng lặng lẽ đeo cặp lồng cơm vào xe đạp để đến nơi làm việc, chiều lại đạp xe về:“Cuộc đời anh em chúng m ày sao m à đ ơn đi ệu th ế. Thời bố, mỗi ngày là một kỷ niệm”. Bình sinh, cha tôi rất chán ghét và cố hết sức xa lánh cuộc đời công chức, thế nhưng ông lại nắm bắt rất kỹ cái tâm lý an phận, tự bằng lòng với cuộc đời của lớp người này - tâm lý tiểu tư sản thành thị: nó khiến con người trở nên nhàm chán, tẻ nhạt và tầm thường. Nhưng ông cũng có cái nhìn đầy trào lộng và xót thương đối với họ, thể hiện qua một số truyện ngắn của ông (Một ngày chủ nhật, Bức thư, Người bạn tỉnh xép,Tội lỗi ngoài ngưỡng cửa…).


Rồi những năm thời kỳ đầu xây dựng XHCN, đời sống cơm áo gạo tiền khó khăn túng thiếu triền miên. Tôi còn nhớ, ngay cả trong hoàn cảnh ấy, mỗi khi các bác Nguyệt Hồ, Thanh Châu, Hoàng Cầm, Hồ Dzếnh tới thăm cha tôi, lúc gia đình còn ở phố Đồng Xuân hay khi đã dọn về phố Châu Long, là mẹ đẻ tôi - bà Lê Thị Thanh (bà hai) chào mời đon đả. Vừa từ kios bán sách báo ngoài bến xe Bến Nứa sau một ngày vất vả về, chẳng nề mệt nhọc, mẹ tôi vội vào bếp làm cơm đãi khách.Tuy vợ chồng là nghĩa tao khang nhưng mẹ tôi thờ chồng như thờ cha. Nhìn chồng vui vẻ cùng bạn hiền bên mâm rượu, mẹ tôi vui lắm.


Tôi nhớ nhất cái buổi bác Hoàng Cầm đến thăm cha tôi tại ngôi nhà mẹ tôi thuê ở số 9, phố Đồng Xuân. Hồi ấy tôi chừng mươi mười hai tuổi. Cha sai tôi đạp xe đạp lên nhà me tôi (bà cả) ở 14, Đặng Dung, mở tủ sách lấy vở kịch thơ Kiều Loan của Hoàng Cầm mang tới cho ông. Đó là một vở kịch thơ viết tay bằng bút mực, nét chữ rất nắn nót nhưng thiếu cá tính, nó khác hẳn với một thi sỹ đầy cá tính như Hoàng Cầm. Ngay từ trang đầu, tôi còn nhớ như in có một câu thơ, tựa như một đề từ:


Kiều Loan ơi, khi trăng lặn về non


Quê hương ấy mịt mù bao tâm sự


Sau mấy ngụm trà, bác Hoàng Cầm cất giọng ngâm vài đoạn, có lẽ là những đoạn bác tâm đắc nhất. Cho đến ngày nay, dễ chừng năm mươi năm qua rồi, tôi vẫn không sao diễn tả nổi cái cảm xúc bồng bềnh mê đắm mà giọng ngâm của bác cùng thế giới ngôn từ vừa trừu tượng phiêu lãng vừa gần gũi thấm vào tâm hồn tôi và vẫn còn ở mãi trong tâm khảm tôi tới giờ. Ngày ấy bác có dáng người thanh nhã, nhất là đôi mắt sáng, cặp môi hồng tươi, khác hẳn hình ảnh một ông già bé tí ngồi vặn vẹo trong chiếc xe đẩy ta thường thấy in trên các báo những năm gần đây. Trời còn phú cho bác một giọng nói đầy truyền cảm. Thảo nào người ta vẫn bảo: “Hoàng Cầm đọc nghị quyết cũng thành thơ”.


 Bác hoạ sỹ Nguyệt Hồ người nhỏ thó, cặp râu rủ hai bên mép, đôi mắt nhỏ tinh quái mỗi khi nheo nheo lại kéo theo các nếp nhăn. Đi đâu bác cũng luôn mang theo bên mình một cuốn sổ nhỏ, bên trong viết đầy thơ trào phúng, có bài viết rất tếu táo và tục, lại nhiều bức biếm hoạ vẽ khá kỹ. Anh em chúng tôi được bác cho xem. Cười nôn ruột. Gần đây vào Thư viện Quốc gia, mở một tờ báo “Tiểu thuyết thứ Bẩy” năm 1942 có in tấm hình hoạ sỹ Nguyệt Hồ, vừa nhìn thấy tôi nhận ngay ra bác.


 Bác nhà báo Bạch Diện, chuyên dịch tin cho Hãng tin AFP thời Pháp thuộc, khi về già bị điếc nặng. Gặp bạn già, bác thèm nói chuyện lắm, nhưng lại không nghe được. Thành thử cha tôi và bác đành phải “bút đàm “. Mà lại “bút đàm” hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Mỗi khi cha tôi từ nhà bác ở phố Hàng Tre về, ông giở những trang “bút đàm” giữa hai người ra coi lại, tủm tỉm cươì một mình.


 Hoạ sỹ Lưu Văn Sìn để lại trong tôi nhiều kỷ niệm từ những ngày thơ bé. Ông có vóc dáng cân đối, khoẻ mạnh, khuôn mặt sạm nắng gió của một người từng trải, tóc chải gôm bóng loáng, lại thêm bộ âu phục cắt khéo khiến ai đã nhìn ông là cứ muốn nhìn mãi. Ông đi đứng đàng hoàng, đăc biệt lời nói tiếng cưòi rất hào sảng. Trước 1954, ông có một ngôi nhà hai tầng xinh xắn ở phố Phan Đình Phùng, kề bên Nhà thờ Cửa Bắc. Tôi còn nhớ có lần ông khoác chiếc măng tô mầu ghi sẫm, lái chiếc ô tô Citroen mầu đen, đến 14 Đặng Dung đón hai cha con tôi tới cửa hàng mì vằn thắn của người Tầu ở phố Lý Thường Kiệt (bây giờ) ăn sáng. Hôm ấy nom ông như một thám tử trong các phim của Mỹ vậy. Bà vợ ông cũng rất đẹp. Bà thường mặc chiếc áo dài mầu mỡ gà, mái tóc dài đen nhanh nhánh lúc nào cũng được vấn tròn quanh đầu, không bao giờ thấy một sợi vương. Ông Lưu Văn Sìn với cuộc sống ô tô, nhà lầu, vợ con ngày ấy đề huề như thế mà không hiểu sao giới nghệ sỹ lại gọi đùa ông là “Lưu không tiền” (tiếng lóng dạo ấy: tiền = sìn). Sau này, gia đình ông dọn xuống khu trại của ông ở Nam Đồng, vì túng thiếu cứ bán xới dần mòn cả khu trại. Hiện bây giờ bà vợ ông vẫn còn sống ở đây, trong một ngôi nhà hai tầng, diện tích chừng ba chục mét vuông. Lúc ông còn sống, cha mẹ tôi vẫn đến thăm vợ chồng ông. Nhưng bấy giờ ông đã bị mất trí, tóc tai rối bù, râu ria tua tủa, ăn mặc bẩn thỉu. Gặp ông, rồi thầm so sánh với bóng dáng ông ngày trước mà thấy rùng mình. Không hiểu sao, sự sa sút của gia đình ông luôn khiến tôi liên tưởng cảnh luỵ suy tàn của một gia đình quý tộc trong tác phẩm “The Dead Souls” (Những linh hồn chết) của Gogol.


Nhà thơ Trần Huyền Trân nổi tiếng cũng ở rất gần nhà ông Sìn, khu Nam Đồng. Về già, bác Trân hình như bị chứng hoại thư ở hai chân, đi lại vô cùng đau đớn khó khăn. Mỗi khi đến thăm bác Sìn, bao giờ cha tôi cũng đến với bác Trân, tác giả của những câu thơ đầy nuối tiếc về một thời đã qua


Các hoạ sỹ nổi tiếng khác của Hà Nội như Bùi Xuân Phái, Trịnh Hữu Ngọc, Thy Thy Tống Ngọc, Kim Đồng, Nguyễn Huyến, Hoàng Lập Ngôn đều là những người bạn thân quý, là chốn giao du đi lại của cha tôi. Có thể nói không sợ quá lời rằng những hoạ sỹ danh tiếng này, thông qua các hoạt động và tác phẩm của mình, họ đã góp phần to lớn vào việc khẳng định bản sắc của nền hội hoạ hiện đại Việt Nam. Khi còn sống, họ đều là những hoạ sỹ nghèo, có người thường xuyên uống chịu cà phê của ông Lâm ở phố Nguyễn Hữu Huân. Nhưng hiện nay, khi đã sang bên kia thế giới thì tranh của họ đều được đặt những mức giá khủng khiếp…, đến nỗi mấy ngày Tết âm lịch vừa rồi (2011), nghe mấy ông buôn tranh bàn tán với nhau về mức giá thực sự tranh của các hoạ sỹ kể trên - cứ kể vào đây tranh của Tô Ngọc Vân, Tạ Tỵ, Nguyễn Tiến Chung nữa - tôi không kìm nén nổi, đã thốt kêu lên rằng: “Ngày trước, nếu cha tôi muốn, thì việc có trong tay nhiều bức tranh của các hoạ sỹ này cũng chẳng khó khăn gì”.


Bác Bùi Xuân Phái thường cùng cha tôi đến thăm bà vợ ông chủ Nxb Tân Dân; hai người đặc biệt quý anh Vũ Dân Tân, con trai ông Vũ Đình Long, họ đều có mặt trong tiệc cưới của Tân và Natasha. Vũ Dân Tân cũng là người bạn lành hiền, thân thiết của tôi.Tiếc thay anh đã ra đi quá sớm, để lại trong tôi một khoảng trống lớn.


Các bác Thy Thy Tống Ngọc, Bùi Xuân Phái, Hoàng Lập Ngôn đều vẽ tặng cha tôi những bức ký hoạ chân dung quý giá. Bức ký hoạ của bác Thy Thy Tống Ngọc vẽ Ngọc Giao (trước 1954) ở góc nhìn nghiêng (profile), chỉ mấy nét mà lột tả đủ diện mạo, nom như đang suy tư điều gì. Còn nhớ, chừng năm 1960, có một ông khách – nói đúng hơn là một quan khách người Quảng Nam đến chơi, nhìn bức chân dung kể trên, ông cất lời nhận xét: “Được sống trong xã hội tốt đẹp của chúng ta mà sao trông anh buồn bã thế?”. Cha tôi đã ra sức giải thích rằng bức này vẽ trước khi hoà bình lập lại, rằng…, nhưng ông khách vẫn giữ nguyên ý kiến! Phê bình nghệ thuật mà ai cũng như ông này thì nền nghệ thuật nước nhà nguy to!


Bức ký hoạ của bác Bùi Xuân Phái sâu lắng, rất có thần thái. Bức của bác Hoàng Lập Ngôn vẽ theo lối caricature, cường điệu một số đặc điểm để làm vui một cách rất ngộ nghĩnh, đến nỗi vừa ngó qua cha tôi đã thốt lên trước mặt hoạ sỹ: “Mày còn hiểu tao hơn cả bố tao!” Dứt lời, cha tôi ôm chầm lấy bác Ngôn, đưa tay lên xoa xoa mái tóc bạc lơ thơ quăn tít trên cái đầu hói của ông bạn già.


Trong số các hoạ sỹ kể trên, tôi có ấn tượng sâu sắc nhất đối với hai ông: ông Trịnh Hữu Ngọc và ông Nguyễn Huyến - người sau này trở thành nhạc phụ của tôi. Có một số điều trùng hợp lạ lùng trong số phận của hai ông hoạ sỹ này với cha tôi: Cả ba ông đều có một tuổi thơ đầy buồn tủi, cùng hết sức long đong trong sự nghiệp và qua đời trong cùng một ngày: ngày 4 tháng sáu âm lịch.


Cha ông Trịnh Hữu Ngọc (tức ông nội dịch giả Trịnh Lữ) vốn là thợ hàn nồi súp de trên tầu thuỷ của Tây, sau đó ở lại xưởng Ba Son, Sài Gòn để làm việc. Bà mẹ ông Ngọc mất sớm, lúc ông mới 9 tuổi đầu, để lại ba người con, phải ở nhờ nhà họ hàng trên Bắc Giang. Cha ông Ngọc thường gửi tiền về để nuôi các con. Ông Ngọc ở quê khổ quá bèn trốn lên tầu hoả, vào Sài Gòn tìm cha. Ngay từ lúc 17, 18 tuổi ông đã làm việc ở Sở Bưu điện Sài Gòn. Sau đó ông ra Hà Nội, giúp việc cho cụ Nam Sơn - một hoạ sỹ danh tiếng lúc bấy giờ để học “ké” cho đến khi đủ năng lực thi vào Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và được cấp học bổng. Những ngày ở xưởng vẽ của cụ Nam Sơn, ông Ngọc đã gặp bà Khang (mẹ của dịch giả, hoạ sỹ Trịnh Lữ sau này), và ông bà đã trở thành bạn đời của nhau. Những năm 70’ và 80’ của thế kỷ trước, cả hai bà vợ của ông Ngọc và ông Giao đều mở đại lý bán sách báo tư (hai bà vợ của hoạ sỹ Hoàng Lập Ngôn và nhà thơ Hồ Dzếnh cũng được mẹ tôi mách cho cách mở các kios sách báo. Bà Ngôn có kios ở bên đền Bà Kiệu, Bờ Hồ, còn bà Hồ Dzếnh mở kios ngay tại nhà bà ở đâu gần phố Thi Sách). Ông Trịnh Hữu Ngọc và cha tôi cùng tạ thế vào ngày 4 tháng sáu âm lịch, năm 1997. Ông Nguyễn Huyến cũng qua đời cùng ngày, tháng ấy, nhưng trước đó một năm.


Cha tôi bảo, ở Hà Nội trước đây chỉ có những gia đình khá giả mới dám dùng đồ nội thất xuất từ xưởng MEMO của ông Trịnh Hữu Ngọc. Những chiếc tủ, chiếc bàn, chiếc kỷ do nhà MEMO làm ra không còn đơn thuần là một vật dụng nữa mà phải nói chúng là những tác phẩm có độ bền và vẻ đẹp trường tồn cùng thời gian. Mỗi lần đến nhà Trịnh Lữ chơi là tôi lại đưa tay vuốt nhẹ chiếc kỷ và bàn trà còn sót lại, kinh ngạc trước sự tinh tế của chúng. Chúng như là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cách đào tạo mỹ thuật của người Pháp với tố chất nghệ sỹ của chính bác. Nhưng cái gia tài tranh sơn dầu, sơn mài to lớn bác để lại mới thực sự đáng khâm phục. Những bức tranh bác sáng tác bên túp “lều vịt” của bác trên mạn Hồ Tây trong những năm máy bay Mỹ ném bom Hà Nội, như “Chiếc thuyền thúng trên đầm sen” để lại trong tâm hồn ta bao nỗi bâng khuâng xao xuyến, đẩy ta tới những suy tư về cõi vô thường…Quãng thời gian về ở ẩn bên Hồ Tây, vô hình chung đã khiến người hoạ sỹ già họ Trịnh, qua các bức tranh của ông, trở thành người lưu giữ trung thành và chân thực nhất linh hồn và vẻ đẹp mơ màng của một Hồ Tây thuở xưa – khi chưa bị sự thực dụng trơ trẽn của kinh tế buôn bán lần mò đến. Có lần, người hoạ sỹ già ấy bảo tôi: “Nếu như cháu thấy trong tranh bác có một cái gì sâu lắng, ấy là ngay cả trong khi vẽ bác cũng thiền đấy cháu ạ ”. Tôi tin điều đó. Ngắm tranh bác, dù là tả một chiếc cổng ken bằng tre lối dẫn vào túp “lều vịt” của bác trên mạn Hồ Tây, hay những đoá hoa trong một bức tĩnh vật ta đều thấy thấp thoáng đâu đó một nụ cười…mà tôi không biết diễn tả sao cho hết. Nó đưa người xem tới một trạng thái như vừa được gột rửa, thấy lòng mình thư thái lạ thường. Lạ một điều, bình sinh bác không hề thích mở triển lãm tranh của mình mà cũng không muốn tham gia Hội Mỹ thuật.


Hoạ sỹ Nguyễn Huyến sinh ra trong một gia đình đông con. Cha làm nghề bốc thuốc đông y ở phố Lãn Ông, Hà Nội, mẹ đẻ mất sớm khi ông còn nhỏ. Bà mẹ kế luôn hắt hủi, đối xử tệ bạc với anh em ông. Ông gần như hoàn toàn tự học vẽ lấy. Hồi còn trẻ, một hôm vào ngày giáp Tết âm lịch, buồn vì chuyện nhà, vì bà mẹ kế nên ông đã bỏ nhà lên Tuyên Quang, mang theo giá vẽ, đồ vẽ. Năm ấy, ông gặp bà Tường Vân, con gái yêu của cụ Đạt – một viên quan huyện đang trị nhậm ở Tuyên Quang. Sau đó ông bà đưa nhau về Hà Nội lập nghiệp. Cha tôi hồi còn làm ở Toà soạn “Tiểu thuyết thứ Bảy”, 93 Hàng Bông, những lúc rỗi rãi thường tản bộ sang thăm ông bà Nguyễn Huyến. Lúc bấy giờ bà Huyến mở một lớp dạy thêu đồ đầm cho các cô, các bà Hà Nội. Cái năm cố vấn Vĩnh Thuỵ, tức Bảo Đại được Chính phủ của chủ tịch Hồ Chí Minh bố trí ở 51, Trần Hưng Đạo, những lúc ông buồn thường được ông Nguyễn Đức Thụy (anh ruột ông Nguyễn Huyến) đưa đến nhà ông bà Nguyễn Huyến chơi. Sau 1954, ông Thuỵ giữ chức chánh văn phòng Phủ Thủ tướng, thời thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cha tôi thường nói đùa với các bạn rằng: “Trên đời này chỉ có ông Nguyễn Huyến là người, ngoài vợ mình ra, ông không biết tới một người đàn bà nào khác”. Cho dù thời cuộc diễn biến thế nào, cho dù vừa ra khỏi phòng họp sau những đợt học tập chính trị, chỉnh huấn tư tưởng, hay những đợt đi thực tế, “ba cùng” với nông dân, hễ về tới nhà là hoạ sĩ Nguyễn Huyến lao ngay vào vẽ, vừa xong bức này lại lên ma-két phác thảo cho bức khác. Có lẽ được sống bên người vợ đẹp, luôn tận tuỵ chăm sóc chồng đã là một nguồn cảm hứng sáng tác hội hoạ cho ông. Ngoài rất nhiều tranh sơn mài, ông còn để lại mấy bức chân dung người vợ bằng sơn dầu hết sức sống động. Năm 1975, hai gia đình tác thành cho tôi lấy Thục Uyên, con gái ông bà Nguyễn Huyến. Uyên sau đó tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Yết Kiêu, và điều đáng nói: Uyên là người con dâu mà cha mẹ tôi quý lắm. Năm nay, cháu Nguyễn Tú Quyên - con gái tôi, cháu nội ông Ngọc Giao, cũng vừa tốt nghiệp từ ngôi trường này.


Bây giờ tôi muốn nói tiếp về tình bạn giữa cha tôi đối với các nhà văn, nhà báo như các bác Nguyễn Công Hoan, Hoàng Công Khanh, Thanh Châu, Phạm Văn Kỳ, đặc biệt là bác Tam Lang Vũ Đình Chí là những người vừa là chỗ bạn bè lại là những cây bút viết thường xuyên cho “Tiểu thuyết thứ Bảy”- nơi cha tôi hầu như đã gắn bó cả một thời trai trẻ với nó.


Toà soạn “Tiểu thuyết thứ Bảy” trong giai đoạn từ 1930 đến 1945 đã tập hợp được rất nhiều cây bút xuất sắc của giới văn chương Bắc Hà - những người rồi đây đều trở thành những gương mặt tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam. Nhưng không hiểu vì nguyên cớ gì mà ngày ấy ông chủ Vũ Đình Long luôn coi Nguyễn Công Hoan là bậc thượng khách. Mỗi lần ông giáo Hoan lên Hà Nội chơi, ông Long đều bố trí xe đưa đón cẩn thận. Lại mời tiệc tùng sang trọng ngay tại nhà riêng. Dĩ nhiên bao giờ ông Long cũng đề nghị cha tôi cùng thù tiếp với ông. Chỉ ông Hoan là người duy nhất trong văn phái T.T,T.B là được nhận trước một khoản nhuận bút của nhà Tân Dân mà chưa cần đưa bài. Bài ký “Hội chợ vì hội chợ”, viết năm 1935 của cha tôi in trong cuốn “Quan báo” đượm chất hoạt kê, nhưng dưa trên một câu chuyện có thực: cha tôi đã cùng với ông chủ Tân Dân và nhà thơ J. Leiba, nhà văn Thanh Châu cất công xuống tận Nam Định để thảo luận với Nguyễn Công Hoan việc xuất bản “Cô giáo Minh”của ông. Sau đó, tình bạn giữa cha tôi và ông Hoan trở nên gắn bó, thân thiết. Việc cộng tác viết lách giữa ông Hoan với nhà Tân Dân từ đó thường qua cha tôi. Hai ông đã có những chuyến đi thăm thú dài bên Viên Chăn và Nông pênh, để lại khá nhiều bức ảnh đẹp chụp cùng nhau. Nhưng từ 1945 cho tới tận 1976 hai ông mới gặp lại, trong lần ông Hoan đến nhà tôi ở 30, Châu Long, để giúp cha tôi mua một chiếc vé tầu hoả vào Nam thăm anh em, bạn bè. Nói chung, các nhà văn tham gia kháng chiến, sau này chẳng mấy người còn đi lại với cha tôi và cha tôi cũng tránh,không muốn gặp họ, mặc dù trước 1945 giữa những người này có một mối quan hệ bạn bè và nghề nghiệp khá bền chặt.


 Khác hẳn nhà văn Nguyễn Công Hoan, một số người, trong đó có nhà văn Hoàng Công Khanh vừa ở tù về hôm trước thì mấy hôm sau đến thăm cha tôi ngay. Đấy là lần đầu tiên tôi được gặp tác giả “Mẹ tôi sớm biệt một chiều thu”. Trông ông không có gì đặc biệt, ngoài đôi mắt sáng tinh anh và khoé miệng cười rất tươi. Đôi mắt ông cho thấy một con người đầy nghị lực và nhân hậu. Có lần gặp ông dắt chiếc xe đạp, tay lái treo lủng lẳng mấy chiếc cưa thợ mộc và phía sau buộc hòm đồ nghề từ trạm y tế chỗ tầu điện tránh nhau, phố Quán Thánh. Ông bảo tôi: “Giờ hạnh phúc nhất trong một ngày của bác là, sau khi ăn tối xong xuôi được ngồi vào bàn để viết”. Có lẽ tiểu thuyết “Hoa nhạn lai hồng” của bác ra đời từ những giờ phút như thế này trên chiếc bàn viết ọp ẹp trong một căn hộ tồi tàn ở khu tập thể. “Hoa nhạn lai hồng” kể lại quãng đời của bác ở nhà tù Sơn La hồi Pháp thuộc. Cha tôi khâm phục tác phẩm này lắm. Đọc xong, ông ngửa mặt lên trời mà nói: “Chịu Hoàng Công Khanh! Chịu Hoàng Công Khanh!”.


Tuy không cầm bút viết, nhưng cha tôi luôn dõi theo các sáng tác mới của các nhà văn lớp sau, vui mừng trước thành quả của họ. Ông đăc biệt thích cuốn “Bên kia biên giới” của Lê Khâm, đọc xong ông bảo: “Tay này chắc chắn là có Tây học, đọc là biết liền”. Còn cuốn “Hòn đất” của Anh Đức, cả bản tiếng Việt và bản tiếng Pháp do Nxb Ngoại văn dịch, cha tôi cũng đọc đi đọc lại nhiều lần để so sánh, đối chiếu, ghi chép.


 Nhà văn Thanh Châu không bị “dính” gì. Ông vẫn là hội viên, ăn lương của Hội Nhà văn Việt Nam nhưng chẳng thấy ông viết được tác phẩm nào kể từ sau hoà bình. Tình bạn của ông với cha tôi đậm đà, gắn bó liên tục. Hễ gặp nhau là hai người ôn lại biết bao chuyện từ thuở hoa niên cho tới khi hoà bình lập lại. Lúc về già, ông Thanh Châu đã yếu lại còn phải hầu hạ bà vợ bị ngã gẫy chân, vất vả đêm ngày. Cha mẹ tôi thương người bạn già ấy lắm. Hầu như lần nào Thanh Châu từ ngôi nhà thuê của ông ở phố Trần Quốc Toản tới nhà tôi chơi, cha mẹ tôi đều giữ lại mời cơm. Ông Thanh Châu cũng có một ước mơ cháy bỏng giống cha tôi là được tái bản các tác phẩm của mình. Ông khoe tôi, ông có bẩy chỉ vàng, định dùng làm lộ phí tìm vào Thư viện Trung ương Sài Gòn để sưu tầm tác phẩm của ông viết trước 1945. Nghe vậy, tôi bèn đưa ông tới Phòng đọc micro film ở Thư viện Quốc gia Hà Nội, ghi phiếu yêu cầu từng năm một của “Tiểu thuyết thứ Bảy”, rồi hướng dẫn ông cách sử dụng máy đọc. Khi thấy các bài viết ký tên Ngọc Giao xuất hiện liên tục trên màn hình máy đọc microfilm, ông thốt lên: “(một câu chửi tục)! Ngọc Giao nó viết khoẻ thế này mà cứ bị chúng nó xúm vào đánh hoài”. Lần ấy, ông Thanh Châu tìm được khá nhiều tác phẩm của mình.


 Bác Phạm Văn Kỳ, từng là Thư ký Toà soạn “Tiểu thuyết thứ Năm”, rồi chủ bút báo “Sinh lực” và nhà nhiếp ảnh lão thành Hồng Tranh đều là những người bạn thân thiết đến những ngày cuối đời của cha tôi, họ khiến tôi đặc biệt kính trọng. Cả hai bác đều hết sức công tâm trước các sự kiện lịch sử mình được chứng kiến, hiểu biết rộng và là những con người tử tế, bao dung.


 Năm 1976, cha tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh để thăm anh em, bạn bè. Dạo ấy tôi vào sau cha tôi ít ngày. Người bạn cha tôi đến thăm đầu tiên là ông Tam Lang Vũ Đình Chí - người cha tôi thực tâm coi là bậc sư phụ đã dẫn dắt ông vào làng văn, làng báo. Như trên đã nói, trước đây ông Tam Lang có mời cha tôi cùng mở tờ “Lẽ sống”, do Tam Lang làm chủ bút. Cha tôi đã đăng phần tiếp theo của tiểu thuyết Đất trên tờ này. Bởi thế “Lẽ sống” bị đóng cửa. Tam Lang lại xin ra tiếp “Lên đường”, rồi “Công tội”. Hai tờ báo này sau đó cũng bị đóng cửa nốt chỉ vì đăng Đất. Phải nói là ông Tam Lang đã phải gánh chịu biết bao hệ luỵ vì bạn. Vậy mà ông chẳng hề phàn nàn một câu. Năm 1974, hồi còn làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam, đã có lần tôi nhìn thấy ông Tam Lang trên một bức hình đăng trên báo “Tia sáng” của chính quyền Sài Gòn, lưu trữ tại Đài. Ông dáng người cao lớn, mặc sơmi trắng, đeo cà vạt, quần là phẳng phiu, đang dẫn đầu một đoàn nhà báo dương cao biểu ngữ “Đoàn Ký giả đi ăn mày”, đòi chính quyền Việt Nam Cộng hoà của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải cải thiện đời sống cho các nhà báo. Thực không sao nói hết được nỗi vui mừng của những người tri kỷ khi gặp lại nhau, sau bao năm xa cách. Cha tôi hỏi thăm bác Tam Lang về các ông Tchya, Nguyễn Gia Trí, Vũ Bằng, Thượng Sỹ…Nhưng khi cha tôi ngỏ ý nhờ bác đưa tới thăm họ, bác vội gạt đi mà bảo: “Tôi thấy không tiện, anh ạ. Tchya, Thượng Sỹ đã lâu tôi không được tin. Nguyễn Gia Trí và Vũ Bằng thì ngại tiếp khách miền Bắc lắm…- ngập ngừng giây lát, Tam Lang nói tiếp - Ngay cả tôi cũng vậy. Chỉ dám và chỉ muốn gặp riêng anh thôi.”


* * *


 Trong gần một thế kỷ sống dưới ách đô hộ của Pháp, đất nước ta đã xuất hiện một lớp nhà văn, nhà thơ, hoạ sỹ danh tiếng. Nhiều người trong số họ nằm trong những tên tuổi tôi đã nêu ở trên. Chính họ là những người đã biết tiếp thu những tinh tuý của văn hoá, văn minh phương Tây, và có công đặt nền móng đầu tiên cho nền văn xuôi và thơ ca Việt Nam, làm nên diện mạo ban đầu cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của họ nay đọc lại vẫn thấy thích thú, khiến ta cảm động. Chúng vẫn có sức ám ảnh ta tới tận lúc tuổi già và giá trị tư tưởng, nghệ thuật của chúng sẽ trường tồn mãi trong nhiều thế hệ bạn đọc.


 Không chỉ trong văn chương mà còn cả trong hội hoạ. Nền hội hoạ Việt Nam hiện đại, mở đầu bằng việc thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, với sự đóng góp mang tính chất tiên phong của các hoạ sỹ kể trên đã góp phần không nhỏ cho việc xây dựng nền móng ban đầu của nó. Tất cả đều bắt đầu từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX.


 Xét riêng khu vực Đông Bắc Á, vấn đề ảnh hưởng phương Tây và sự tiếp biến văn hoá này không chỉ xảy ra đối với nền văn hoá Việt Nam mà cả với Nhật Bản. Khoảng mười lăm hoặc hai mươi năm đầu thời Minh Trị (1868 – 1912), văn đàn Nhật Bản đã chủ động tiếp thu tinh hoa của nền văn học phương Tây. Đây là giai đoạn làm quen, học hỏi, bắt chước, thể nghiệm để chuẩn bị cho một nền văn học mới ra đời, và là một bước ngoặt quan trọng của thời kỳ văn học mới.


 Tuy phần lớn phải sống trong cảnh nghèo, nhưng các văn nghệ sỹ Việt Nam vẫn được phát sáng, được bộc lộ mạnh mẽ các tài năng cá nhân và họ đã trở thành người khai sáng, người mở đường, và hơn thế, họ đều là những con người có nhân cách, đạo đức. Lần đầu tiên sau biết bao đè nén của chế độ phong kiến, thân phận con người và cái tôi cá nhân có dịp được bộc lộ. Đó là một câu chuyện có thật trong nền văn hoá của dân tộc chúng ta.


 Vậy mà tất cả đã thành “người của muôn năm cũ” rồi. Bây giờ, giữa cuộc sống đầy thực dụng, gấp gáp và chai lì này, quá nửa đời nhìn lại mới thấy Hà Nội một thời trong chiến tranh: nghèo nàn, lam lũ mà vẫn thuần khiết, tinh tế, rất giầu tình người. Những con người và tình người, kể cả những ngôi nhà và phố phường của nó ngày ấy sao mà đẹp đến thế. Một vẻ đẹp đến nao lòng.


 


Đẩy xe kinh sử


…Rồi những năm sau đấy cha tôi vẫn thế. Vẫn sống quá ư kín tiếng và gác bút triệt để. Kinh nghiệm sống đã rèn luyện cho ông trở nên ưu thời mẫn thế. Một trong những niềm vui ít ỏi của ông là đọc sách. Bằng nhiều cách, qua nhiều con đường cha tôi vẫn gây dựng lại được một tủ sách lớn, trong đó các kiệt tác của Alexandre Dumas, Paul Bourget, George Sand, của Lamartine hay Victor Hugo, và của các tác gia phương Tây khác cũng dần dần sưu tầm được. Ông đặc biệt sung gướng mỗi khi tôi mượn được các tạp chí Paris Match, Nouvelle Observateur… các số gần nhất của Thư viện Khoa học Xã hội về cho ông. Cả đời mình, cha tôi thực sự coi sách báo là những người thầy, người bạn đáng tin cậy, một chốn trú ẩn an toàn cho mình. Anh bạn Trịnh Lữ ngày ấy cũng hay mang những loại tạp chí này về cho cha - hoạ sỹ Trịnh Hữu Ngọc - để bác re’sume (tóm tắt) những bài tiêu biểu vào từng tờ phiếu cho thư viện trên, như một nguồn kiếm sống thực sự của bác.


 Năm 1987, trong một bữa tiệc cưới của anh bạn tôi là Đỗ Tiến Sâm (hiện giờ là viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc) ở phố Hàng Bạc, tôi được anh giới thiệu với Giáo sư Phạm Huy Thông, người cùng phố với gia đình vợ anh. Khi biết tôi là con nhà văn Ngọc Giao, ông ngạc nhiên thốt lên: “Sao mà cụ kín tiếng đến thế. Tôi cứ ngỡ cụ đi Nam từ năm 1954 rồi! Ở ngay Hà Nội mà tôi chẳng bao giờ nghe người ta nhắc nhở tới tên tuổi của cụ”. Giáo sư Phạm Huy Thông hẹn thể nào cũng đến thăm cha tôi và bảo rằng “Để động viên ông cụ viết. Với một cây bút như Ngọc Giao mà không viết thì phí hoài lắm”. Nhưng rồi vị giáo sư đáng kính ấy đã ra đi quá ư đột ngột, và đầy bí ẩn.


 Hầu như ngay sau đó, vào một buổi chiều mùa hè, Giáo sư Phan Ngọc (Nhữ Thành), con nhà học giả Phan Võ tới 30, Châu Long thăm cha tôi. Hình như ông không biết đi xe đạp. Ông đi tầu điện từ phố Huế đến chỗ tầu tránh Quán Thánh, rồi đi bộ tìm đến nhà tôi. Hôm ấy giữa hai người có một buổi nói chuyện tâm đầu ý hợp lắm. Đang nói chuyện thì mất điện một lúc. Tôi phải đứng, dùng quạt nan quạt cho hai ông. Điều khiến tôi nhớ nhất là Giáo sư Phan Ngọc đã hết lời khuyên cha tôi viết các bài ký về từng chủ đề, và đặc biệt là làm một hồi ký về đời viết văn của ông. Cha tôi có vẻ suy nghĩ nung lắm. Việc cha tôi buông bút, không sáng tác là có nhiều lý do, nhưng việc không chịu viết một hồi ký về đời văn, đời người của ông thì quả vô cùng đáng tiếc và đáng trách. Sau này, khi viết cuốn “Sự tiếp xúc văn hoá Việt Nam với Pháp” (Nxb Văn hoá Thông tin & Viện Văn hoá, 2006), giáo sư Phan Ngọc đề cập tới một số vấn đề văn học Việt Nam trong sự tiếp xúc với văn học Pháp – trong đó có kể lại những gì ông trao đổi với cha tôi trong buổi nói chuyện này.


 Cha tôi vẫn nhẫn nại, với một sức chịu đựng đến kỳ lạ trong việc hàng ngày đạp xe đi mua sách báo mới, rồi mang ra quầy sách cho vợ bán. Ban đầu ở Gò Đống Đa, sau này ở bến xe Bến Nứa. Có chăng, ông chỉ biết bày tỏ niềm bi phẫn của mình qua mấy câu thơ, mỗi buổi chiều ông nặng nhọc đẩy chiếc xe chứa đầy sách vào gửi tại một ngôi chùa trước Gò Đống Đa:


 “Đẩy xe kinh sử, ngẩng đầu vọng gió Tây Sơn


Bấm bụng Hoài Âm, thương thân mình Hàn Tín”


 Từ một người viết sách báo chuyên nghiệp, ông trở thành một người giúp vợ bán sách báo và có vẻ an phận, bằng lòng với nó. Càng già càng hiu hắt, nỗi cô đơn nó cứ như một định mệnh tự kiếp nào hiển hiện ra trên những nét chữ run rẩy của ông.


 “Đêm tìm Liêu trai đọc


Nghe gió vọng hồn ma


Ma người đều không đến


Âu là ta với ta”


* * *


 


Việc Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt tập truyện ngắn Cô gái làng Sơn Hạ, năm 1989 đã mang tới một niềm vui khó nói hết đối với cha tôi. Cuốn sách này chỉ chọn lọc có 12 truyện ngắn, in rất xấu, sách lại mỏng manh. Tôi tưởng cha tôi buồn, vậy mà ông rất vui. Sự thực đâu có giản đơn như thế. Ông Lý Hải Châu, giám đốc Nxb Văn học lúc bấy giờ đã rất háo hức ủng hộ việc ra một “Tuyển tập Ngọc Giao”. Ông bảo tôi: “Hồi trẻ, chú mê đọc Ngọc Giao lắm”. Việc tuyển chọn và biên tập đang được tiến hành thì lại có những thế lực, dư luận cản trở. Cha tôi ngóng chờ hoài, ngày nào cũng hỏi tôi bao giờ cuốn sách mới ra. Hàng mấy tháng trời, sự việc cứ chìm trong im lặng. Chỉ tới khi, một cán bộ an ninh cấp cao của Bộ Nội vụ ( lúc bấy giờ ) gửi tới Nxb Văn học bức thư sau:


Kính gửi anh Lý Hải Châu. Theo tôi, việc tái bản các tác phẩm của bác Ngọc Giao không có gì trở ngại


thì cuốn truyện ngắn mỏng manh kể trên mới được ra mắt.


 


Làn gió mới


Trước làn gió tươi mát của công cuộc Đổi mới, từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, sức bút của cha tôi bỗng hồi sinh, như chính ông thổ lộ, ông “cố ngồi, cố viết, tay quá run, chữ không thật nét, coi như làm cái việc rửa bút cùn, lau kiếm gỉ, viết với tâm tình băng giá của một ông già. Viết nhiều, viết ít, viết gì đi nữa, chỉ là những dòng chữ biệt li…”. Cha tôi luôn quyến luyến với các bạn cùng thời đã khuất, và cố khắc phục tuổi già, ngồi viết hồi ký về một số bạn văn có tài, có đức đã quá sớm xa rời nhân thế như: Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương, Lan Khai, Tam Lang, Vũ Đình Long, Nguyễn Bính…Ông còn dự định viết tiếp về Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Thụy Chương, Lê Bái Leiba, Lư Trọng Lư, Vũ Bằng, Thanh Châu, Hoàng Cầm là những nhà văn mà ông quen gọi là “những cây bút trong Văn phái Tiểu thuyết Thứ Bẩy”. Viết các chân dung văn học kể trên, với một tình cảm thương mến thiết tha và trung thực, cha tôi luôn mong muốn nói lên một sự thực: Những người cầm bút các ông sống với nhau cũng như đối với cuộc đời hết sức trân trọng, hết tình thân ái. Các ông luôn giữ cách sống cho phong nhã, nghiêm chỉnh mà vui vẻ, lễ độ.


 Sau bấy lâu không cầm bút, Ngọc Giao vẫn phát triển và duy trì một giọng văn kể chuyện hết sức riêng biệt: bình thản, có chút chế giễu, gần gũi, có sức gợi mở.


 Những bài ký và chân dung văn học của cha tôi viết rải rác trong giai đoạn này, sau đó tôi đã tuyển chọn lại thành một cuốn sách dưới nhan đề Hà Nội cũ nằm đây – tác phẩm cho thấy sức bút của ông vẫn dồi dào và trí tuệ vẫn mẫn tiệp. Ông hay suy tư. Những người hay suy nghĩ sâu xa thì lại càng hay buồn. Nỗi buồn, nỗi đau lớn nhất của cuộc đời ông, với tư cách một nhà văn, là không được viết và bị quên lãng quá lâu. Nhiều lúc, ông giật mình ngơ ngác vì thấy mình vẫn tồn tại khi các bạn ông như Vũ Trọng Phụng, Vũ Đình Long, Lan Khai, Lê Văn Trương, Tam Lang, Thuỵ Chương, Lê Bái (Leiba), Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính đã ra đi từ lâu – như ông viết trong bài ký Người phun kiếm: “Các ông bạn cầm bút của tôi, cùng thời với tôi, tất cả đều đã ra khỏi cái quá khứ văn bút đau thương kệch cỡm này”.


 Qua bản phác thảo công việc của cha tôi, dưới tiêu đề: “Tiếng cười và nước mắt thời Hà Nội cũ”, tôi nhận thấy có tới 28 chủ đề ông dự định viết. Chẳng hạn: mục 16/ Phố Hàng Chiếu đanh đá; mục 24/ Ở Nhã Nam, Yên Thế viết Bạn Dân cho Công an Cao Bắc Lạng, Chiến khu XII. Vào vùng tề, viết Đất (1949) trước lưỡi lê họng súng của Tây mặt gạch; mục 25/ a) Gặp Đông cung Thái tử, hậu duệ vua Thành Thái năm 1951; 25 b) Gặp Công chúa Phương Thảo, con phế đế Bảo Đại cuối hè năm 1994…Thế nhưng những năm cuối đời, sức cùng lực tận đã không cho phép ông làm điều đó được trọn vẹn. Từ đây có thể thấy, sinh thời ông đã có rất nhiều dư định trong sáng tác, có những dự định đã thành tác phẩm, có những dự định còn dang dở.


 Cha tôi được trở lại hiện diện với cuộc đời, đó quả là niềm vui khó nói hết ở ông và của gia đình chúng tôi. Kể từ 1989 đến nay, các tập Văn xuôi lãng man Việt Nam, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam chọn lọc, Tổng tập văn học Việt Nam…và nhiều tập truyện ngắn Việt Nam chọn lọc khác đã tuyển khá nhiều truyện ngắn đặc sắc của Ngọc Giao.


 Như trên đã nói, từ 1930 đến 1954, ngoài việc viết chính thức cho tờ Tiểu thuyết thứ Bẩy, cha tôi đã cộng tác với khá nhiều tờ báo: Tri tân, Sinh lực, Tao đàn, Phổ thông, Lẽ sống, Lên đường, Công tội, Truyền bá, Cậu ấm cô chiêu. Hiện giờ tôi đang tiến hành sưu tầm những gì ông đã viết trên các báo này, để tập hợp thành một tập truyện ngắn mới.


 Trước mắt, một số tác phẩm của cha tôi vừa mới được các Nxb Văn học, Nxb Hội Nhà văn, Nxb Hà Nội in và tái bản lần đầu: Hà Nội cũ nằm đây; Quan báo; Phấn hương; Nhà quê; Xóm Rá; Cầu sương.


 Trong một tương lai gần, các tác phẩm chính sau đây cũng sẽ được trở lại với bạn đọc thân kính của ông: Cơn gió bấc (tiểu thuyết,1938); Con người (tiểu thuyết, 1947); Đất (tiểu thuyết, 1949); Quán gió (tiểu thuyết, 1949); Đốt lò hương cũ (tuyển 54 ký); Mưa thu (truyện dài - tuyển 3 truyện); Ngọc Giao -Truyện ngắn tinh tuyển (29 truyện); Bến đò Rừng (truyện ngắn - tuyển 32 truyện); Hang thuồng luồng (tuyển 30 truyện viết cho thiếu nhi)… để rồi tiến tới một TUYỂN TẬP NGỌC GIAO.


*


 Ở phần đầu bài viết, hy vọng các bạn đọc thân kính đã thấy được mong ước thiết tha đến cháy bỏng của cha tôi, lúc đã ngoài tám mươi, là được in lại các tác phẩm của ông. Đúng là có nhiều khó khăn trong hoàn cảnh chính trị, xã hội lúc bấy giờ. Nhưng trước lương tâm mình, tôi nghiêm khắc nhận thấy việc chậm trễ thu thập, sưu tầm, hệ thống hoá lại các tư liệu, tác phẩm của cha để đưa ra xuất bản, trách nhiệm ấy thuộc về anh em chúng tôi. Nếu sớm nhận thức được điều đó và cố gắng làm, thì có lẽ ngay khi còn sống cha chúng tôi đã sung sướng được gặp lại một số đứa con tinh thần của ông – Những đứa con trung thành đã cùng với Người cha của chúng dám đứng hẳn về phía những thân phận khốn khổ trong xã hội, tố cáo mọi áp bức bất công, cất lên tiếng kêu thống thiết của biết bao kiếp người – trong đó có cả tiếng kêu của những người nông dân bị cướp đất và bị mất đất.



Hà Nội, ngày 05-5-2011, ngày kỷ niệm 100 năm sinh của nhà văn Ngọc Giao.


NTK.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »