tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
12.07.2012
Thái Thành Đức Phổ
Lưu Linh liệt truyện (4)

Một lần khác, chúng tôi gồm ông Khương Minh Ngọc, nhà văn đẻ ra tác phẩm Đất rừng phương Nam1, nhà thơ Hoàng Trung Thông, tất nhiên là có nhà văn lớn nọ và tôi- đang ngồi trong cái nhà hầm của Hội Liên hiệp uống rượu thì B52 của giặc Mỹ đến. Cũng xin nói rõ với quý vị là đáng lẽ tôi cũng phải lên nơi sơ tán nhưng vì nhà văn Khương Minh Ngọc bảo tôi phải ở lại Hà Nội để trực cơ quan nên tôi mới có mặt trong cuộc rượu này. Trên trời thì tiếng máy bay B52 rền vang, dưới đất thì tiếng  của nhà thơ Bảo Định Giang – Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp - ồm ồm nhắc chúng tôi phải xuống hầm khiến nhà văn lớn cười tủm tỉm:


- Chà, cái tiếng B51 này nghe cũng ghê gớm đấy chứ, các ông nhỉ?


- Tiếng B51 là tiếng gì?


- À, tiếng B51 là tiếng của ông Bảo Định Giang ở 51Trần Hưng Đạo, trụ sở của Hội Liên hiệp. Có thế mà cũng phải hỏi.


Cuộc rượu đang lúc cao hứng thì chất cay không còn, lại không ai có sẵn tiền góp vào đủ để mua một lít. Hồi ấy văn nghệ sĩ nói chung là nghèo, không như bây giờ. Gì chứ một lít rượu cuốc lủi thì mua lúc nào mà chẳng được. Mọi người đang lúng túng chưa biết xoay xở ra sao thì ông nhà văn lớn từ tốn bảo:


- Các ông ngồi chờ mình. Mình đi lấy tiền mua rượu.


Ông chống gối đứng lên đi đâu đó một lúc rồi quay về, bảo tôi:


- Ông Phổ ít tuổi nhất, chịu khó đi mua giúp mình chai rượu.


Tôi vội vàng xách chai chạy ra Phố Huế.


Sau này gặp ông nhà văn lớn, tôi hỏi đêm ấy ông lấy tiền ở đâu để đưa tôi mua rượu, ông bảo:


- Tiền ở chỗ ông Phó Chủ tịch Hội Bảo Định Giang chứ ở đâu?


- Cụ mà lấy được tiền ở chỗ ông Bảo Định Giang? Cụ tài thật.


- Tài gì mà tài!


Rồi nhà văn lớn kể là ông đi thẳng đến chỗ ông Bảo Định Giang, hỏi ông ấy:


- Ông Giang này, cỡ như mình lúc chết Hội có đi vòng hoa và tiền phúng điếu không?


- Ông mà qua đời thì… tiền phúng điếu tôi chưa biết nhưng vòng hoa chắc chắn là nhiều. Ông nghĩ xem, Hội Liên hiệp ta có bao nhiêu Hội chuyên ngành. Chỉ cần mỗi Hội chuyên ngành một vòng hoa thôi thì có mà chất đầy sân Hội Liên hiệp.


- Vậy ông cho mình tạm ứng trước tiền mấy vòng hoa, đến lúc mình mất ông nhớ bớt đi số vòng hoa mình tạm ứng trước là được.


- Thế mà ông Bảo Định Giang cũng nghe theo? – Tôi hỏi.


- Ai mà nghe những lời vô lý như thế. Mình nói thế cốt là để vay tiền mua rượu cho anh em uống, đến kỳ lương sau mình sẽ trả lại cho ông Giang.


Cái mẹo vay tiền của nhà văn lớn như tôi vừa kể trên hồi ấy tôi cho là khá độc đáo nhưng ngày nay là rất bình thường vì đã có khá nhiều người lấy chuyện phúng điếu trước ra làm trò đùa cho vui. Còn nhớ có lần chúng tôi hẹn nhau tập trung tại quán anh Phạm Lân chuẩn bị đi viếng đám tang của Lâm Râu, nhân lúc cả bọn đang nói chuyện về lẽ sinh tử ở đời,  già Bút bảo tôi:


- Bây giờ tao với mày làm thế nào để ngã lăn đùng ra rồi bảo Phạm Lân cho người khiêng lên nhà tang lễ để lấy tiền phúng điếu, xong rồi đem về quán thằng Lân uống bia tiếp.


Già Bút – không hiểu sao nhiều người gọi anh là già Bút vì tính ra năm sinh của anh nhỏ hơn của tôi – là người vui tính, tưởng nói thế cho anh em vui, không ngờ anh Lân nghe thấy, gắt lên:


- Các ông chỉ nói gở. Đùa như thế mà cũng đùa được!


Thế là chúng tôi lập tức chuyển đề tài. Một người như anh Phạm Lân mà cũng phải kiêng cữ, huống gì là tôi, một người tự đánh giá là HÈN NHẤT TRONG THIÊN HẠ.


Nhà văn Khương Minh Ngọc, giám đốc Nhà xuất bản Giải phóng, có đặc điểm là trước khi muốn viết một cái gì đó – như truyện ngắn chẳng hạn – ông đều phải uống ít ra là một cút (xị) rồi mới đặt bút viết được. Làm việc với ông lâu ngày nên tôi rất hiểu thói quen này của ông. Mỗi chiều thấy ông cầm cái chai nhỏ đi ra hướng ga Hàng cỏ là tôi biết ngay tối hôm ấy thế nào ông cũng thức để sáng tác. Thế nhưng sáng hôm sau gặp ông ở cơ quan, chưa kịp hỏi tối qua có viết được trang nào không thì ông đã nói trước:


- Chiều qua tao mua một cút rượu về, định tối đó viết một cái truyện ngắn về đề tài miền Nam cho báo Thống nhất. Nào ngờ uống hết chỗ rượu trong chai, buồn ngủ quá, leo lên giường định chợp mắt một lúc rồi thức dậy viết, không ngờ ngủ một mạch cho đến sáng luôn.


Cứ thế, chiều nào cũng thấy ông cầm chai ra đường Nam Bộ mua rượu để tối đó phục vụ cho công cuộc sáng tác, rồi sáng hôm sau nếu có ai hỏi ông lại bảo ngủ quên, không viết được câu nào.


Ấy thế nhưng cuối cùng nhà văn Khương Minh Ngọc cũng cho ra đời một tập truyện khá dày dặn lấy tên là Ngôi nhà ven đường số 4 do tôi biên tập. Khi ấy nhà xuất bản đã chuyển vào Sài Gòn và tác giả cũng đã chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ địa phương trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam. Thú thực là khi cầm tập bản thảo của nhà văn Khương Minh Ngọc, tôi không biết ông viết vào lúc nào, nhưng sau đó lại thấy điều mình băn khoăn là không cần thiết. Dù sao thì ông cũng đã có được tập bản thảo và từ tập bản thảo đánh máy trở thành một tập truyện in chỉ còn là vấn đề thời gian.


Câu nói “Kết quả biện minh cho hành động” áp dụng vào trường hợp của nhà văn Khương Minh Ngọc quả là không còn câu nào chính xác hơn.


Nhà xuất bản tôi còn một nhân vật khác cũng phải có rượu mới sáng tác được, đó là họa sĩ Võ Thành Lũy, nhưng anh khác với ông Khương Minh Ngọc là vừa uống vừa vẽ chứ không phải uống xong rồi mới bắt đầu cầm cọ. Người nào muốn có một bức chân dung đẹp hoặc chân dung vẽ theo phong cách caricature , chỉ cần mua một chai cuốc lủi đem đến ngỏ lời là anh sẵn sàng ngay. Theo trình tự, thế nào anh cũng bảo khách ngồi coi nhà, còn mình thì leo lên chiếc xe trâu  đạp ra  chợ Cửa Nam để mua mấy thứ về làm thức nhắm. Từ chợ về, anh đổ mớ ốc bươu ra thau rửa qua, vớt ốc ra rổ rồi thay thau nước khác. Lúc ấy anh mới đổ rổ ốc vào lại thau nước mới rồi cắt vào đó mấy quả ớt. Chờ một lúc cho ốc sặc ớt nhả hết chất bẩn anh mới rửa lại, xong đâu đó cho vào nồi, đổ một ít nước, cắt mấy cây sả cho vào, đậy nắp lại, là xong phần chính. Rồi anh bắt đầu giã ớt, lấy giấm, lấy đường để pha nước chấm, vừa thêm cái này, bớt thứ kia, lấy thìa nếm thử, vừa hít hà vừa chíp chíp miệng, khiến người ngồi chờ để anh vẽ chân dung dù chưa được dùng thử con ốc nào cũng đã thấy hết sức hấp dẫn. Tôi ở cạnh nhà Võ Thành Lũy, rất nhiều lần thấy anh tiễn khách ra về, cả chủ lẫn khách mặt mày đều ửng đỏ, khách lại cầm trong tay cuộn giấy croquis, cho dù không hỏi thăm cũng thừa biết là khách rất ưng ý. Họa sĩ Lũy là ngưởi có biệt tài về nấu nướng và cách nhìn người cũng như sự vật của anh vì thế cũng đều liên quan đến các món ăn. Chẳng hạn có lần nhà xuất bản của tôi tổ chức cho một số biên tập viên lên K65  trên Sơn Tây, tìm gặp một vài nhân vật hoạt động ở chiến trường Khu V, để nghe họ kể về cuộc sống và chiến đấu của chính họ, mục đích là cho các biên tập viên nắm bắt được thực tế ở chiến trường, sau này biên tập sẽ tránh được sai sót. Tôi còn nhớ hôm ấy chúng tôi đang say sưa nghe một nữ cán bộ hoạt động ở Quảng Đà – nay là Quảng Nam và Đà Nẵng – kể về cách thức hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, thì bỗng nhiên nghe tiếng anh Lũy chen ngang:


- Chà! Thứ này tốn nhiều khế và chuối chát lắm đây!


Lúc ấy do chúng tôi tập trung vào câu chuyện của người nữ cán bộ nọ nên không hiểu họa sĩ Võ Thành Lũy nói gì. Về sau hỏi, anh mới bảo:


- Lúc đó tao nhìn ra ngoài, thấy một người béo quá cỡ đi ngang qua nên mới nói thế.


Miêu tả một người béo tài tình đến mức không nói gì về người ấy mà chỉ dùng hai thứ phụ liệu chuyên ăn kèm với thịt mỡ là khế và chuối chát, tôi nghĩ cho dù là Nguyễn Công Hoan đi nữa cũng chỉ giỏi đến thế là cùng.


Nhưng ở Nhà xuất bản Giải phóng, uống rượu mà được liệt vào hàng Nam Hải dị nhân thì chỉ có mỗi một người, đấy là anh Lý Cương. Anh trước làm ở xưởng phim trên phố Hoàng Hoa Thám, sau chuyển về nhà xuất bản phụ trách mảng hình ảnh. Anh kể trong một lần ngồi uống rượu với mấy ông bạn cùng làm ở xưởng, thấy mũi mình ngứa ngáy khó chịu, anh bèn cho ngón tay vào ngoáy và lôi ra cả một con giun đũa khiến cả bàn xanh mặt. Con giun này ở trong ruột, chắc bị cơn đại hồng tửu ập vào nên chịu không nổi phải tìm đường bò ngược trở ra.


Từ khi vào đại học cho đến tận giờ này tôi từng tham dự không biết bao nhiêu cuộc rượu nhưng chưa lần nào được chứng kiến trường hợp hy hữu như thế.


Uống rượu như anh Lý Cương đúng là người “xưa nay hiếm”.


                      


                           GÀ QUÈ ĂN QUẨN CỐI XAY


 


                         


Trên đây tôi đã tiết lộ cho quý vị bí quyết của anh Định Nguyễn đã rời nhà để đi theo tiếng gọi của rượu thịt – kể ra nói như thế cũng có phần hơi phàm phu tục tử, nhưng sự thật nó là như thế; Hay nói một cách nghiêm trọng hơn là anh đã gia nhập nhóm “Xa vợ” – tuy thời gian không dài lắm – một cách ngoạn mục như thế nào, còn sau đây là cách của Trọng Hiền, cũng là một trong số bạn bè của tôi.


Anh là người luôn có mặt ở quán Cây trúc, thường xuyên đến nỗi chúng tôi gọi đùa anh là “Đại sứ đặc mạng toàn quyền” của quán này. Anh vui tính, kể chuyện tiếu lâm rất có duyên nên bàn rượu nào có anh tiếng cười không bao giờ dứt. Mà cũng chính vì cái tài này nên anh thường được chúng bạn gọi đi nhậu. Anh lại là người hay cả nể nên không muốn từ chối bất cứ cuộc rượu nào mà bạn bè nhắn gọi đến. Anh chỉ sợ mình đến chỗ anh A gọi mà không đến chỗ anh B kêu, sau này lỡ anh B biết được, cho anh như thế là nhất bên trọng nhất bên khinh thì không hay cho lắm.


Một hôm nọ anh đang ngồi nhà thì có tiếng chuông điện thoại – điện thoại bàn, cố nhiên – gọi ra quán Cây trúc. Thực đơn quán này thực ra cũng chỉ loanh quanh có mấy món như đậu phụ chấm mắm tôm, cần xào, nghêu luộc… , nhưng được cái giá cả cũng hợp túi tiền của giới bình dân nên đám bạn anh Trọng Hiền thường nhóm họp ở đây. Quán này còn hai ưu điểm nữa mà ít có quán nào sánh được, đó là chỗ ngồi thoáng mát – bàn nhậu kê luôn trên lề đường thì làm gì mà chả thoáng mát – và hai là chủ quán rất dễ tính: có tiền thì trả, không có tiền thì ghi sổ, hôm sau đến uống trả luôn thể.


Anh Trọng Hiền thường được bạn bè mời nên chuyện tiền nong ít khi phải lo nghĩ. Anh uống ít, lại mát tính nên ai cũng thích. Một hôm gặp Trọng Hiền, tôi dò hỏi:


- Mỗi cuộc nhậu ông chỉ uống vài chai, sao cuộc nào ông cũng đi làm gì cho vừa tốn thì giờ vừa tốn xăng. Sao không ở nhà làm vài chai cho đỡ tốn… sức?


- Ở nhà uống vài chai? Thế ông tưởng nhà máy bia chở bia về tận nhà cho ông uống chắc? Còn sở dĩ tôi uống ít là vì người ta mời mà ngồi vào bàn mình cứ uống tì tì hết chai này đến chai khác thì lần sau còn ai dám mời nữa.


Hóa ra ông này nghĩ cũng chu đáo ra trò.


Một lần anh Trọng Hiền được một nhóm bạn rủ đi nhậu nhưng họ không đến quán Cây trúc mà kéo nhau vào quán bia nằm trong khuôn viên của Hội Văn Nghệ1. Thời đó quán này còn bán bia hơi nên thu hút khá đông văn nghệ sĩ tiếng tăm rất nhiều nhưng tiền bạc thì ngược lại, tức là không có bao nhiêu. Quán này một thời nghe đâu còn có Câu lạc bộ một lít, nghĩa là người nào thuộc câu lạc bộ này vào đây cũng đều tự mình mua một lít bia hơi đựng trong chiếc bình nhựa rồi kiếm bàn ngồi. Kẻ trước người sau cứ thế cùng ngồi, cùng uống, chuyện trò râm ran, hết văn thơ rồi đến nhạc họa, chỉ có điều bia trong bình người nào người ấy uống, không ai mời ai.


Ấy là kể chuyện những người có chân trong câu lạc bộ một lít, còn anh Trọng Hiền, vì không có thẻ hội viên của câu lạc bộ này nên anh ngồi ở bàn khác, tức là bàn của các bạn anh. Giá như mọi khi thì lúc uống cả bàn cười nói vui vẻ, chuyện nở như ngô rang, rồi lúc tàn tiệc thì một người vẫy cô tiếp viên – đấy là gọi theo kiểu ở các nhà hàng, còn ở quán bia của Hội Văn Nghệ thì dùng từ bình dân hơn: các cô chạy bàn – viết hóa đơn thanh toán. Nhưng lần này, khi cô chạy bàn đang cúi xuống nhẩm đếm số vỏ chai bia bị quăng lăn lóc dưới đất để tính cho chính xác thì nghe anh Trọng Hiền bảo:


- Cô nhớ viết hai phiếu thanh toán đấy nhé!


- Sao lại viết hai phiếu ạ?


- À, một phiếu ghi bia và thức ăn, phiếu kia ghi nước đá và đậu phộng rang. Phiếu thứ hai cô đưa tôi thanh toán.


Bấy giờ đám bạn anh mới phá ra cười. Hôm đó không biết hứng chí thế nào, chờ mọi người vừa dứt trận cười, anh hỏi luôn:


- Chiều mai thế nào?


- Chẳng thế nào cả.


-  Sao lại chẳng thế nào cả? – Anh hỏi. – Chiều mai các cậu đến đây, tớ đãi.


- Hoan hô! – Đám bạn reo to. – Thế mấy giờ?


- Năm giờ rưỡi chiều! – Anh nói chắc như đinh đóng cột. – Ai không đến, thiệt thòi ráng chịu.


Trên đường về, khi còn lại mỗi mình, anh thầm nghĩ: “Hôm nay mình uống mật gấu hay sao mà liều thế không biết. Kể ra lâu lâu đãi bọn nó một chầu cũng không có gì là quá đáng, chỉ có điều từ giờ đến chiều mai mình kiếm đâu ra mấy trăm ngàn?”.


Anh Trọng Hiền vừa chạy xe vừa suy nghĩ. Và đúng như người ta thường nói: “Cái khó ló cái khôn”, anh đã nghĩ ra được diệu kế. Thế là anh vội vàng cho xe chạy thẳng ra khu vực nhà thờ Đức Bà. Anh lại chỗ bán thiệp chọn mua một tấm thiệp mời dự lễ cưới. Rồi anh vào Bưu điện trung tâm nhờ một người viết giúp tên anh, số nhà anh đang ở, ngày tháng và nhà hàng đãi tiệc cưới cũng như giờ giấc, vân vân và vân vân… Đoạn, anh lên xe chạy thẳng về nhà. Trước khi nhấn chuông gọi cửa, anh lấy tấm thiệp mời đám cưới lẳng lặng nhét vào thùng thư báo của nhà mình.


Sáng hôm sau vợ anh mở thùng thư, thấy chiếc phong bì liền cầm đưa cho anh:


Anh cầm lấy chiếc phong bì, mở ra rồi bảo vợ:


- Không phải thư mà thiệp mời dự đám cưới.


Rồi anh giả vờ chăm chú đọc, vừa đọc vừa lẩm bẩm thành tiếng cố ý cho vợ nghe thấy:


- Thằng bạn này lâu lắm mình không gặp, sao nó biết mình ở đây mà mời dự đám cưới con nó nhỉ? Mà nó lại mời cả hai vợ chồng mới chết chứ.


- Ai mà chả thế! – Vợ anh bảo. – Thường không có việc gì thì ít khi nghĩ đến nhau nhưng  đến khi dựng vợ gả chồng cho con thì thế nào người ta cũng cố nhớ lại xem người thân, bạn bè có những ai để mời cho đông đủ, không sau này lại trách. Người ta chẳng đã bảo “Ma chê cưới trách” là gì.


- Thời buổi này ai mà trách! – Anh ra chiều thông cảm. – Lắm người không được mời họ còn… mừng nữa kia.


- Đã đành là vậy, nhưng một khi người ta đã mời thì mình nên đi cho phải phép.


- Thì anh có bảo là không đi đâu, chỉ có điều cả hai vợ chồng mình cùng đi thì tốn kém lắm.


- Đi làm gì cả hai vợ chồng? – Vợ anh bảo. – Người ta mời cả hai người là theo phép lịch sự chứ em đâu có biết bạn anh là người nào. Đến chỗ đám cưới mà không quen ai thì thành ra lạc lõng, mà chỉ có em và anh nói chuyện với nhau thì có khác gì… ở nhà.


- Vậy em tính thế nào? – Anh hỏi cho có lệ.


- Còn tính thế nào nữa. – Vợ anh quyết ngay. – Một mình anh đại diện là được rồi.


Chiều hôm đó anh Trọng Hiền đóng bộ đàng hoàng – cố nhiên rồi, đi dự đám cưới chứ có phải đi nhậu đâu mà ăn mặc tềnh toàng – cầm chiếc phong bì trong đó có ba trăm ngàn vợ anh vừa nhét vào đi thẳng đến… quán bia của Hội Văn Nghệ, nơi có các bạn anh đang ngồi chờ.


Thế mới biết, muốn giữ được chữ tín sao cho… vẹn cả đôi đường cũng chẳng phải dễ dàng gì.


Mà đúng là không dễ thật, chẳng hạn như trường hợp của nhà văn Triệu Xuân, Chủ tịch Nhóm Văn chương Hồn Việt. Dịp Tết Tân Mão, nhà thơ Dương Ngọc Khánh, một thành viên của nhóm có mời các anh em trong nhóm – trong đó có cả vợ chồng tôi – giờ ấy ngày ấy đến thăm nhà và đón Tết muộn. Buổi sáng đúng ngày hẹn, vì quên mất địa chỉ nơi cư trú của anh Khánh và không tiện tập trung cùng anh em tại địa điểm đã quy định nên tôi gọi điện cho Triệu Xuân, nhờ anh nói lại số nhà của anh Khánh để vợ chồng tôi đến thẳng chỗ ấy. Nào ngờ Triệu Xuân báo cho tôi biết tối qua anh phải vào bệnh viện An Sinh cấp cứu vì huyết áp lên quá cao.


- Vậy huyết áp bây giờ thế nào rồi?


- Cũng tạm ổn, chỉ có điều cảm thấy người không được khỏe lắm.


- Huyết áp không phải là chuyện đùa đâu. Theo tôi Triệu Xuân nên gọi điện cho Dương Ngọc Khánh báo hoãn vì mình bị như thế… như thế… để anh ấy không phải chờ đợi, mà mình đỡ bị mang tiếng là thất hứa.


- Đã đành là vậy, nhưng về phía anh Khánh thì cũng có phần khó xử. Thôi thì thế này. Anh cứ chờ ở nhà, em sẽ điện cho anh Khánh xem thế nào, sau đó sẽ báo cho anh biết tình hình cụ thể.


- Được rồi, - tôi bảo. – Cậu cứ cân nhắc cho thật kỹ. Tôi chỉ sợ đến chỗ anh Khánh, cậu thấy không khí vui quá lại làm mấy chén rồi huyết áp tụt xuống, sau đó lại tăng đột ngột khiến anh em trong nhóm thêm lo lắng.


Một tiếng sau tôi nhận được điện thoại của Triệu Xuân báo cho biết anh và cả nhóm đang ngồi ở nhà anh Dương Ngọc Khánh và bảo vợ chồng tôi đến ngay. Triệu Xuân bảo:


- Anh Khánh đã sắp xếp đâu vào đấy cả rồi, nay chỉ vì mình em mà cả nhóm không đến thì có hai cái mất: một là không giữ đúng lời hứa, hai là chủ nhà và anh em mất vui.


- Thế nên cậu quyết định vẫn đi?


- Vưỡn! Cùng lắm, mình không uống mấy ly rượu là được chứ gì.


Nhận phần thiệt về mình để anh em được vui, âu đó cũng là một cách hành xử.


Nhưng không phải ai cũng thực hiện thành công mưu kế của mình. Dạo còn làm biên tập thuê cho một tờ báo, tôi có quen một phóng viên chuyên viết phóng sự điều tra là anh Quỳnh Ngọc. Anh là người vui tính, được nhiều anh em trong tòa báo quý mến. Tất nhiên anh cũng quý mến nhiều anh chị em trong tòa soạn, trong đó có cả tôi, tuy tôi chỉ là kẻ làm mướn. Trong tòa soạn có rất nhiều phóng viên – chuyện này thì ai mà chẳng biết – nhưng không hiểu sao ban thư ký tòa soạn thường đưa bài của anh Quỳnh Ngọc cho tôi biên tập. Tôi là người chẳng biết viết lách gì nên nhiều khi biên tập bài của các phóng viên có bút lực vào hàng thượng thặng thường rất lấy làm e ngại, cũng may là suốt thời gian làm thuê cho báo này tôi không hề bị phóng viên nào phàn nàn khi sửa chữa bài của họ.


Một hôm biết Quỳnh Ngọc được tòa soạn phân công đi tham dự cuộc họp báo do một tập đoàn nước ngoài nào đó tổ chức vừa trở về tòa soạn, tôi hỏi:


- Họp báo thế nào, có đủ tài liệu viết bài không?


- Đủ thì đủ nhưng khó viết lắm! – Quỳnh Ngọc bảo.


- Sao lại khó? – Tôi ngạc nhiên hỏi lại.


- Có gì đâu! Cái mình biết thì họ không đưa, cái mình không biết thì họ  lại đưa.


- Cậu nói cái gì thế? Cụ thể ra xem nào.


- Thế này anh ạ. Tiếng Anh mình không biết thì họ đưa tài liệu toàn tiếng Anh, còn tiền Anh – tức đồng bảng –  mình biết thì họ lại không đưa.


Tính Quỳnh Ngọc tếu táo như vậy nên rất dễ hòa đồng.


Một sáng chúng tôi ngồi dưới gốc nhãn uống cà phê thì Quỳnh Ngọc mò đến. Sau khi kéo ghế ngồi và gọi ly cà phê, anh nói với Tổng biên tập:


- Sáng nay, chín giờ anh cho tôi về nhà có tý việc.


- Việc gì mà về lúc chín giờ? – Tổng biên tập hỏi. – Hay là cậu định làm chuyện… Mà giờ ấy vợ cậu làm gì có nhà.


- Vợ tôi hôm nay không đi làm. Cô ấy ở nhà chờ mấy ông công nhân đến lắp điện thoại.


Hồi ấy mà lắp được điện thoại là ghê gớm lắm vì giá cả rất đắt, lại còn xin đủ thứ giấy tờ. Nói chung là rất lôi thôi. Ngay như tôi, nếu không có sự can thiệp của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh thì có muốn gọi điện thoại cũng phải chạy ra bưu điện chứ ngồi nhà lấy đâu ra điện thoại để gọi. Thế là mọi người – tất nhiên là những người nhà chưa có điện thoại – nhờ Quỳnh Ngọc bày cách làm thế nào để ông bưu điện duyệt cho nhà mình cái phương tiện liên lạc hữu tuyến, dù phải đóng đến hai triệu rưỡi trở lên. Quỳnh Ngọc hăng hái tư vấn cho mấy người, sau đó anh vui vẻ mời:


- Chiều nay mời các quan bác đến quán lẩu dê xơi mấy chén rượu nhạt để mừng “nhà cháu” mới tậu được cái “Anô”. – Quỳnh Ngọc bắt chước cách nói của mấy ông nhà quê thời còn thực dân Pháp.


- Lẩu dê thì chúng tớ xơi nhưng rượu nhạt thì xin kiếu.- Tổng biên tập bảo.


- Thì cũng nói cho nó trọn câu chứ ăn thịt dê mà uống rượu nhạt thì có mà…


Dĩ nhiên là tất cả đều nhận lời.


Chiều hôm đó chúng tôi kéo đến quán lẩu dê. Không phải nói quý vị cũng có thể hình dung được tiệc rượu mừng Quỳnh Ngọc mắc được điện thoại – hay nói  cách khác là cuộc nhậu do Quỳnh Ngọc rửa điện thoại – tưng bừng đến mức nào. Mấy miếng vú dê – chẳng biết vú dê hay vú lợn – bày trên vỉ nướng cháy xèo xèo, khói bay ngát mũi. Nồi lẩu sôi sùng sục, mùi thơm đặc trưng lan tỏa, rượu tiết dê nồng nàn. Hôm đó Quỳnh Ngọc tỏ ra khá hào phóng: anh gọi thêm thịt đến mấy lần, rượu hết chai này đến chai khác. Tôi vừa nhấp rượu vừa liếc nhìn Quỳnh Ngọc: hắn vẫn vui vẻ cười đùa, sắc mặt luôn tươi tỉnh, chưa kể lúc thì chọc người này, lúc lại trêu người kia, không có tý biểu hiện nào là khổ chủ đang bị ăn khao. Tàn tiệc, tôi và Quỳnh Ngọc còn ngồi lại uống thêm vài ly. Tiện thể, tôi hỏi hắn:


- Hôm nay cậu kiếm đâu ra tiền mà chi sộp thế?


- Tiền trong túi em, việc gì phải kiếm ở đâu.


- Nhưng hôm nay cậu về sớm, làm sao kịp vào chỗ thủ quỹ mà tạm ứng?


Thấy tôi cứ hỏi tới hỏi lui, Quỳnh Ngọc thật thà kể:


- Thật ra số tiền nhậu hôm nay em đã tính toán đâu vào đấy cả rồi, nhưng vì người tính không bằng trời tính nên cuối cùng đành phải móc tiền của mình ra.


- Thế là thế nào? Cậu nói lằng nhằng quá, tớ chẳng hiểu gì cả.


- Anh thì làm sao hiểu được chiêu thức độc đáo này. Bây giờ em hỏi anh: Nếu đột nhiên anh bảo vợ đưa cho mình 500 ngàn để chiều đi… nhậu, liệu vợ anh có vui vẻ mà xùy tiền ra không? Không chứ gì. Nhưng nếu anh bảo vợ đưa cho mình 3 triệu để thanh toán tiền mắc điện thoại trong khi thực chất tiền mắc điện thoại chỉ có 2 triệu rưỡi, vợ anh sẽ đưa tiền ra ngay mà không hề tính toán đắt rẻ gì cả.


- Tớ hiểu rồi. Tức là số tiền cậu chi cho cuộc rượu vừa rồi là số tiền cậu khai đội giá với vợ cậu chứ gì?


- Không phải.


- Sao lại không phải? Vừa rồi cậu chẳng bảo là…


- Đáng lý ra là phải, nhưng số em nó xui nên tính toán  một đường nó lại đi một nẻo. Mà trăm sự cũng do mình quá chủ quan. Em cứ đinh ninh mấy cậu công nhân bưu điện mắc cho xong cái điện thoại cũng phải mất mấy tiếng đồng hồ, mình tắm xong chưa chắc các cậu ấy đã làm xong. Nào ngờ khi em từ nhà tắm bước ra thì không thấy mấy cậu bưu điện đâu cả, chỉ còn mỗi cô vợ trong nhà:


- Ơ, mấy cậu  công nhân mắc điện thoại đi đâu cả rồi?


- Họ về cả rồi.


- Sao lại về?


- Không về, dễ thường họ chờ anh tắm xong dẫn đi uống bia chắc?


- Nhưng điện thoại thì sao,  đã xong cả chưa?


- Xong cả rồi, anh ra gọi thử đi.


- Thế còn tiền nong?


- Em thanh toán đâu vào đấy rồi. Mà chỉ hết có 2 triệu rưỡi, không như nhà anh Năm, hết những 3 triệu.


“Đáng nhẽ nhà mình cũng phải đóng 3 triệu, – em nghĩ thầm. – Chỉ vì mấy cậu công nhân làm việc quá chuyên nghiệp mà mình mất toi 500 ngàn”.


- Thế là coi như cậu không bỏ túi được 500 ngàn, gọi là  tiền phát sinh chứ gì?


- Anh biết rồi, lại còn hỏi. Thành ra tiệc rửa điện thoại vừa rồi em phải chủ chi, không có sự đóng góp của cô vợ. Thế mới đau!


Ở tờ báo này còn một nhân vật nữa cũng thuộc hàng đệ tử của Lưu Linh, ấy là Tư Định. Anh là chánh văn phòng của báo, đồng thời cũng là người đem tiền về cho báo nhiều nhất vì anh có được nguồn quảng cáo rất dồi dào. Ai cũng biết, thời buổi này làm báo mà không kiếm được quảng cáo thì không biết lấy tiền đâu để trả tiền công in, tiền giấy báo chứ đừng nói gì đến tiền lương cho cán bộ công nhân viên và phóng viên của tòa báo. Vai trò của người chạy quảng cáo quan trọng như vậy cho nên có nhiều tờ báo đăng tin tuyển phóng viên nhưng thực chất là tuyển người chạy quảng cáo, tương tự là có một số người mang danh là phóng viên nhưng quanh năm suốt tháng chẳng thấy viết bài nào hoặc có viết chỉ là viết bốc thơm cho các đơn vị đưa mẫu quảng cáo, song lại được ban biên tập của tờ báo rất quý mến.


 Tư Định có thói quen là mỗi khi thấy anh em ở tòa soạn cuốn suppor đưa xuống nhà in là anh lại rủ cả bọn ra quán nhậu. Anh luôn là người chi tiền, vì anh có khoản phần trăm trong số tiền mà đơn vị quảng cáo đưa cho tòa báo. Thú thật là đi uống bia do Tư Định khao mãi cũng ngượng nên một hôm tôi bảo:


- Để ông khao mãi tôi thấy áy náy quá! Từ giờ tôi sẽ giúp ông dò lại phần quảng cáo, nếu phát hiện lỗi thì ông hãy khao, nếu không có lỗi nào thì chúng ta vẫn đi uống nhưng góp nhau lại trả, đồng ý không?


- Không thành vấn đề!


Nhưng cuối cùng thì lần nào đi nhậu Tư Định cũng chi tiền vì không lần nào tôi không phát hiện ra lỗi trong phần quảng cáo do anh phụ trách. Chắc các vị cũng thừa biết, số chữ trong các mẫu quảng cáo không nhiều nhưng nếu không xem kỹ rất dễ bị sai sót. Không ít đơn vị đưa quảng cáo lấy cớ báo in sai mẫu đã đưa để không chi tiền. Có không ít mẫu quảng cáo của các đơn vị đưa cho báo nhiều khi viết sai (cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt) nhưng nếu anh sửa lại cho đúng chính tả thông thường cũng bị lấy cớ là báo in sai mẫu mà họ đã đưa, thế là bị quỵt tiền. Tôi nói dò kỹ là dò cho thật đúng với nguyên mẫu chứ không phải đúng chữ nghĩa như chúng ta – những người bình thường – vẫn hiểu.


Có một dạo không hiểu vì sao cái gì người ta cũng đòi rửa và tìm đủ mọi cách để phát hiện trong số bạn bè thân quen của mình có cái gì đó mới để bắt… rửa cho bằng được. Anh mới đi hớt tóc về, một người trong cơ quan nhìn thấy, thế là đòi rửa… đẩu mới – thật ra vẫn là cái đầu cũ, chỉ có tóc là mới cắt mà thôi. Anh mặc quần mới đến cơ quan ư? Rửa! Anh mới may chiếc áo chemise? Rửa! Thậm chí anh bỏ áo trong quần mà ai đó phát hiện anh có chiếc thắt lưng mới cũng phải rửa. Nói chung là rửa tất tần tật. Cũng phải thừa nhận là những năm dấy lên phong trào rửa này thì đời sống còn nhiều khó khăn nên người ta kiếm cớ này cớ nọ để ngồi lại với nhau uống dăm ba chén rượu gọi là. Anh Phạm Lê Tấn Phong, hồi ấy là phó tổng biên tập của tờ Doanh nghiệp, một lần bảo tôi:


- Trước kia chúng mình kiếm một lon bia uống đã khó,  giờ muốn từ chối một lon bia lại càng khó hơn.


Nhân chuyện rửa điện thoại của Quỳnh Ngọc, tôi nhớ lại có lần mình cũng được mời tham dự một tiệc rửa… xe. Nghe anh bạn đến báo Hai Thệt – anh là con thứ ba trong gia đình có bốn người con, không hiểu sao lại được đôn lên thứ hai – tổ chức tiệc rửa xe vào chiều tối hôm đó, tôi hết sức ngạc nhiên nên hỏi lại cho rõ:


- Hai Thệt rửa xe? Mà xe gì?


- Tối nay đến khắc biết, hỏi làm gì cho… rách việc.


Tối đó tôi đến thì thấy mọi người đã ngồi vây quanh  chiếc bàn, giữa bàn là chai rượu Cây lý – có người lại bảo là rượu Cai Lý mới đúng – và một tô lớn đầu cổ cánh chân gà, nói theo mấy bạn người Nam là xí quách gà (cũng may là hắn ta không gọi xí quách… cá). Tôi hỏi Hai Thệt:


- Nghe ông mở tiệc rửa xe, mà xe đâu?


- Xe dựng bên cạnh gốc cây kia kìa, không thấy hay sao mà hỏi.


Hóa ra chiếc xe của Hai Thệt thuộc loại xe đi không tốn xăng nhưng lại tốn sức, chạy không nghe tiếng nổ nhưng lại nghe tiếng thở, tức là chiếc xe đạp.


- Tưởng là xe gì chứ xe đạp mà cũng bày đặt rửa làm gì cho… tốn rượu.


- Sao lại không rửa? – Hai Thệt cãi lại.- Anh em bảo cái gì cũng rửa hết.


Tuy là nói thế, nhưng sau này tôi biết Hai Thệt có mua mấy con chim để nuôi nhưng không thấy ai bắt anh phải rửa… chim cả.


Có một sự kiện không thể không nhắc lại, đấy là vào những năm 1985 – 1987, không hiểu sao người ta lại đọc sách khiếp thế không biết. Quyển sách nào cũng in ba bốn chục ngàn bản, thậm chí có quyển còn in đến năm sáu chục ngàn bản mà cũng bán hết veo. Mà nào có phải sách có giá trị gì về mặt văn học cho cam. Chỉ toàn là sách vụ án. Tôi nhớ hồi ấy có một cô ca sĩ chết hôm trước, hai hôm sau đã thấy phát hành quyển sách viết về vụ án này, thế mà nhiều người cũng đổ xô tìm mua để đọc.


Sau giai đoạn cực thịnh, nền văn hóa đọc bắt đầu tuột dốc thê thảm. Những quyển sách chỉ có chức năng giải trí trước đó in bốn năm chục ngàn bản, sang giai đoạn này những quyển sách được liệt vào hạng bestseller cũng chỉ in được một ngàn bản, thậm chí có quyển chỉ in có năm trăm bản mà phát hành vẫn không xong.


Nhưng đó là chuyện mãi sau này mới xảy ra.


Do phong trào đọc sách phát triển như thế cho nên các quán sách báo ở lề đường mọc lên nhiều không thua gì mấy quán… rượu. Anh Văn Viết Lộc cũng có một quán bán sách báo nằm trên đường Trần Quý Cáp (sau này đổi tên là Võ Văn Tần), mục đích là để góp phần truyền bá văn hóa đọc cho chúng tôi, những người thường tụ tập tại… thư quán này, nhưng không phải để đọc sách mà để… uống rượu. Dạo ấy không hiểu sao chúng tôi có nhiều thì giờ rỗi như thế, chẳng bù cho bây giờ. Chúng tôi ngồi ở quán sách của Văn Viết Lộc từ 7 giờ cho đến 13 – 14 giờ mới về. Sáng thì uống cà phê, trưa trưa thì uống rượu… suông vì gom góp tiền lại chúng tôi cũng chỉ mua được nửa lít rượu… đế. Nhân đây tôi cũng xin được phép giải thích tại sao trong Nam gọi là rượu đế còn ngoài Bắc lại gọi là rượu cuốc lủi.


 Số là vào những năm Việt Nam bị bọn thực dân Pháp đô hộ, chúng dùng chính sách ngu dân để cai trị đất nước ta, mục đích là làm cho dân ta quên đi nỗi nhục mất nước. Chúng khuyến khích dân hút á phiện, uống rượu – nhưng chỉ được uống rượu ty, tức rượu của nhà nước bảo hộ, chứ không được uống rượu tự nấu. Chúng bổ số rượu phải tiêu thụ xuống tận làng xã, nếu xã nào không hoàn thành chỉ tiêu của nhà nước Pháp bổ xuống – nói trắng ra là không uống hết số rượu đã khoán – sẽ bị phạt rất nặng. Còn nếu ở làng xã nào có người lén lút nấu rượu để bán thì bị khép tội chống lại nhà nước bảo hộ, không những bị phạt tiền mà còn bị tống vào nhà đá.


Thế nên có chuyện một ngày kia viên Tây đoan  ở phủ nọ nhận được tin báo ở làng kia có người lén lút nấu rượu, y bèn tức tốc đạp xe  đến tận nhà lý trưởng của làng này bắt lý trưởng phải cùng y đến nhà người bị báo là nấu rượu lậu. Gã Tây đoan xông thẳng vào nhà nhưng chẳng thấy ai ngoại trừ một người đàn bà vẻ sợ sệt khi nhìn thấy người Tây đứng trước mặt mình.


- Rượu lậu nấu mày, phải khôông?


Thấy viên Tây đoan nói tiếng Việt chưa rành, lý trưởng bảo:


- Quan lớn hỏi mày nấu rượu lậu, phải không?


- Xin bác lý nói giúp, nhà cháu không dám nấu rượu đâu ạ.


- Mày không nấu? – Gã Tây đoan lớn tiếng. – Tao mà thấy rượu khám trong nhà thì mày bảo sao ?


- Dạ, nhà cháu xin đi tù ạ.


Hai quan chức – một Tây một ta – lục soát từ nhà trên xuống dưới bếp vẫn không thấy gia chủ giấu rượu lậu ở chỗ nào, bèn ra trước sân đứng… thở. Đang thở dốc, bỗng gã Tây đoan như nhớ ra được điều gì, y bèn lững thững ra chỗ chuồng lợn. Lục soát một lúc, gã phát hiện chủ nhà đã giấu bộ đồ nghề cất rượu trên mái chuồng lợn. Gã lôi bộ đồ nghề cất rượu xuống, đắc chí hỏi người đàn bà:


- Là cái gì đây? Mày nói mày nấu rượu không, sao mấy thứ này có mày trong nhà ?


- Thưa quan lớn, trước kia nhà cháu có nấu rượu, nhưng từ khi nhà nước bảo hộ ra lệnh cấm, nhà cháu không dám nấu nữa.


- Không nấu? Sao mấy thứ này giữ mày lại ?


- Xin quan lớn xét cho, nhà cháu để trên đó lâu ngày thành ra quên khuấy đi mất chứ quyết không dám phục hồi nghề cũ đâu ạ.


- Tao không biết. Mày vẫn phải đi tù.


- Nhưng nhà cháu có nấu rượu đâu?


- Mày bảo ai không nấu rượu? Dụng cụ có mày nấu rượu tức là nấu rượu ! Mày phải đi tù.


Rồi mặc cho người đàn bà phân trần, van xin, y vẫn nhất quyết áp giải người đàn bà về phủ.


Y gò lưng chở người đàn bà, vừa đạp xe vừa thở. Đến một đoạn đường có ít người qua lại, y dừng lại, dựng xe đạp vào gốc cây, bảo người đàn bà đứng chờ rồi y đến bên một bụi cây để đi tiểu. Người đàn bà chờ một lúc, biết y sắp tháo hết nước, bèn hô hoán thật to:


- Hiếp dâm! Hiếp dâm!


Nghe tiếng hô hoán, gã Tây đoan hoảng hốt vội vàng cài cúc quần chạy lại chỗ người đàn bà. Đúng vào lúc ấy, những người làm đồng chung quanh nghe tiếng hô cũng kéo nhau chạy lại. Mọi người nhao nhao hỏi:


- Ai hiếp dâm? Ai hiếp dâm?


- Ông Tây chứ ai! – Người đàn bà nói.


- Ghê gớm thật! Giữa ban ngày ban mặt mà dám giở trò đồi bại à? Đi báo cho Trương tuần  biết.


Trương tuần đến, hỏi người đàn bà:


- Người ta bảo nhà chị hô hoán là bị hiếp dâm, thế ai hiếp dâm?


- Ông Tây này chứ ai!


- Nhưng ông Tây hiếp dâm ai?


Nguời đàn bà ấp úng một lúc rồi nói:


- Thì nhà cháu chứ ai.


- Có ai làm chứng không?


- Chỉ có nhà cháu với ông ấy, làm gì có ai làm chứng.


Trương tuần quay qua hỏi viên Tây đoan:


- Thưa quan lớn! Quan lớn bị người đàn bà này tố cáo là đã cưỡng hiếp bà ấy, sự thể thế nào?


- Không đúng! Tôi không người này cưỡng hiếp !


- Có ai làm chứng cho quan lớn không?


- Non! Non!


- Người nói có, người bảo không, làm sao phân xử được? -    trương tuần nói thành tiếng.


Rồi không biết nghĩ thế nào, gã trương tuần lại quay qua hỏi người đàn bà lần nữa:


- Nhà chị vẫn nhất quyết tố cáo quan lớn đây là người hiếp dâm?


- Không ông ấy thì còn ai vào đây?


- Thế nhà chị có bằng chứng gì không?


Người đàn bà nghe trương tuần hỏi, liền cao giọng:


- Ông ấy có dụng cụ hiếp dâm tức là hiếp dâm, cần gì phải có bằng chứng. Ông ấy cùng lý trưởng đến tận nhà cháu khám rượu lậu, hai người chỉ tìm được chiếc nồi cất rượu từ đời nảo đời nào, thế mà vẫn bắt cháu giải lên quan. Ông ấy bảo nhà cháu có dụng cụ nấu rượu tức là nấu rượu. Vậy ông ấy có dụng cụ hiếp dâm tức là đã hiếp dâm, cần gì phải hỏi.


Sau một hồi đôi co và được gã trương tuần cố gắng giảng giải, gã Tây đoan mới hiểu ra vấn đề. Thế là người đàn bà được tha.


(còn tiếp)


Nguồn: Lưu Linh Liệt Truyện. Phóng sự của Thái Thành Đức Phổ. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »