tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
26.09.2012
Huyền Viêm
Biệt ly trong thơ Đường

            Con người ta sống ở đời phải trải qua biết bao nỗi buồn, nhưng không nỗi buồn nào thấm thía sâu xa bằng sinh ly, tử biệt. Sống mà xa nhau đã là buồn, còn vĩnh biệt nhau thì nỗi buồn lại tăng lên gấp bội.


            Thơ văn viết về cảnh biệt ly khá nhiều và dễ gây xúc động lòng người. Trong “Truyện Kiều”, cụ Nguyễn Du đã viết:


                                            Người lên ngựa, kẻ chia bào,


                                      Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san.


để tả cảnh chia ly giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều khi mối tình của hai người đang thời nồng thắm.


             Còn trong “ Chinh phụ ngâm”, nữ sĩ Đoàn thị Điểm đã vẽ lên cảnh biệt ly giữa người vợ và người chồng ra trận bằng những lời thơ vô cùng xúc động:


                                            Hà lương chia rẽ đường này,


                                      Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.


             Nhưng thơ biệt ly đặc sắc nhất, phong phú nhất phải kể đến thơ Đường. Trong hàng vạn bài thơ Đường nổi tiếng, thơ biệt ly đóng một vai trò quan trọng. Trong thơ Đường, tình bạn được nói đến nhiều nên cảnh chia ly giữa bạn bè cũng tạo nên những vần thơ tuyệt tác.


             Lý Bạch (701-762) và Mạnh Hạo Nhiên là hai bạn thơ rất thân thiết. Một lần Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng, Lý Bạch tiễn bạn trên lầu Hoàng Hạc, làm bài thơ đưa tiễn nhan đề “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (1):


                                            Bạn từ lầu Hạc lên đường,


                                      Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng.


                                            Bóng buồm đã khuất bầu không,


                                      Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.


                                                (Lầu Hoàng Hạc, tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng –


                                                                                                Ngô Tất Tố dịch)


             Cuối xuân, trăm hoa đua nở, khói sóng mịt mùng, phong cảnh thật là diễm lệ. Từ lầu Hoàng Hạc, Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên  đi Dương Châu, một nơi phồn hoa đô hội. Con thuyền đưa bạn đi cứ xa dần, xa dần rồi bóng buồm cô đơn mất hút trong khoảng không, chỉ còn thấy dòng trường giang chảy mãi tận chân trời. Thuyền bạn đi rồi mà Lý Bạch vẫn còn đứng nhìn theo, nỗi cô đơn dâng ngập tâm hồn.


             Lời thơ không nói đến tình mà tình cảm thật dạt dào, không một lời tiếc nhớ mà lòng nhớ tiếc thật mênh mông. Ý tại ngôn ngoại là sở trường của Lý Bạch.


             Bạch Cư Dị (772-846) tiễn một ông bạn già không nhà cửa là Hạ Chiêm, ra đi mà chẳng biết đi về đâu. Thương bạn đã già mà còn long đong vất vả nên lệ trào, ướt đẫm khăn tay:


                                            Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu,


                                            Bảy mươi tuổi tác, cửa nhà đâu?


                                            Buồn trông trận gió theo thuyền nổi,


                                            Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu.


                                                      (Lâm giang tống Hạ Chiêm – Tản Đà dịch)                                                     Hai câu đầu nói lên mối tình thắm thiết giữa đôi bạn già. Trong câu cuối,  tác giả chơi


chữ rất khéo :“ bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân” (sóng bạc đầu quanh  khách bạc đầu), có ý nói sóng bạc đầu bủa quanh thuyền như muốn làm bạn với kẻ bạc đầu.


             Cũng là cảnh tiễn bạn  trên sông, Trịnh Cốc (836-905) viết bài “Hoài thượng biệt hữu nhân” bằng những vần thơ tuyệt tác:


                                                Sông Dương ngàn liễu đua tươi,


                                            Hoa dương buồn chết lòng người sang sông.


                                               


                                                Ly đình tiếng sáo não nùng,


                                            Anh đi bến Sở, tôi trông đường Tần.


                                                                        (Tiễn bạn trên sông Hoài – Ngô Tất Tố dịch)


             Dạo ấy là vào cuối xuân, dương liễu còn xanh nhưng hoa bay lả tả trong bóng chiều khiến khách sang sông thấm thía nỗi buồn ly biệt. Trong cảnh yên tĩnh ấy bỗng vang lên tiếng sáo ở chốn ly đình khiến đôi bạn biết rằng chiều đã muộn và giờ biệt ly đã đến. Họ đành phải chia tay, bạn đi về đất Sở, còn tác giả quay lại đất Tần.


             Bài thơ tiễn biệt nói lên tình cảm thân thương giữa hai người bạn. Cảnh chia tay ấy lại được điểm xuyết bằng buổi chiều tà ảm đạm, hoa dương lả tả bay và tiếng sáo ở chốn ly đình khiến người đọc cũng cảm thấy buồn lây với nỗi buồn của kẻ đi người ở.


             Lúc tiễn ông Nguyên Nhị đi sứ An Tây (2), Vương Duy (701-761) làm bài thơ “Tống Nguyên Nhị sứ An Tây”:


                                                                         Mưa mai thấm bụi Vị thành,


                                                                     Liễu bên quán trọ sắc xanh ngời ngời.


                                                                         Khuyên anh hãy cạn chén mời,


                                                                     Dương quan ra khỏi, ai người cố tri.


                                                                                                                   (Tương Như dịch)


           Trận mưa mai đã thấm bụi ở Vị thành. Bên quán trọ, khóm liễu xanh xanh như tươi cười đón chào đôi bạn. Vương Duy khuyên bạn hãy cạn chén rượu tiễn vì khi ra khỏi Dương quan (3) thì không còn ai là bạn thân để cùng nhau đối ẩm. Lời thơ thân mật và chan chứa cảm tình.


            Cao Thích (705-765) có người bạn thân là Đổng Đại tức Đổng Đình Lan, một danh cầm thời bấy giờ. Trong buổi chiều tiễn bạn, Cao Thích làm bài thơ “Biệt Đổng Đại” với lời lẽ thân thương:


                                                                           Mười dặm vàng pha bóng nhật vân,


                                                                           Nhàn xuôi gió bấc, tuyết bay nhanh.


                                                                           Đừng buồn nẻo trước không tri kỷ,


                                                                           Thiên hạ ai người chẳng biết anh.


                                                                                                             (Tản Đà dịch)


             Chiều hôm ấy dải mây vàng kéo dài đến mười dặm và gió bấc thổi lạnh, tuyết rơi nhanh, chim nhạn bay đi trốn tuyết.


             Biết bạn rất buồn trước cảnh chia tay và băn khoăn lo lắng cho những ngày sắp tới, tác giả khuyên bạn đừng buồn và an ủi bạn rằng tên tuổi của bạn ai chẳng biết, lo gì không có tri kỷ trên đời.


             Kẻ ở lại hẳn rất buồn vì nỗi cô đơn, nhưng vẫn lo cho người ra đi không vui trong cuộc hành trình sắp tới. Tình bạn thắm thiết biết bao !


             Tân Tiệm là bạn thân của Vương Xương Linh (698-757). Một lần Tân Tiệm đi Lạc Dương, Vương đưa bạn lên lầu Phù Dung (4) để chuốc chén quan hà. Nhân cảm hứng, Vương làm bài thơ “Phù Dung lâu tống Tân Tiệm”:


                                                Mưa lạnh sông đêm tới đất Ngô,


                                                Sáng ra tiễn khách, núi buồn trơ.


                                                Lạc Dương nếu có ai thăm hỏi,


                                                - Một mảnh lòng băng ở  ngọc hồ.


                                                         (Tiễn Tân Tiệm ở lầu Phù Dung – Trần Trọng San dịch)


             Vương Xương Linh bị biếm ra làm quan ở đất Ngô, ban đêm đi thuyền trên sông mưa lạnh, gần sáng thì đến nơi. Sáng ra, tác giả lại đến lầu Phù Dung để tiễn Tân Tiệm về Lạc Dương và dặn bạn rằng nếu ở Lạc Dương có ai hỏi thăm ông thì bảo rằng lòng ông đã lạnh lẽo đối với danh lợi rồi.


             Sở dĩ Vương lạnh lẽo với danh lợi vì hoạn lộ long đong, bị giáng chức nhiều lần, lại bị biếm đến Long Tiêu (tỉnh Hồ Nam), cuối đời về quê thì bị thứ sử Lư Khâu Hiểu giết vì tư thù. Thật đáng tiếc cho một tài hoa lỗi lạc. Bài thơ này rất hay nhưng cũng lạnh lẽo như lòng ông vậy.


             Trong hàng vạn bài thơ Đường, ta thấy thơ tiễn bạn rất nhiều nhưng thơ tiễn người tình thì rất hiếm. Đó là nỗi băn khoăn, thắc mắc của người đọc.


             Tình bạn đã thế, tình anh em nào kém thiết tha. Nhà thơ Vi Thừa Khánh (?- 707) vì liên can đến vụ Trương Dịch Chi dưới thời Võ Hậu nên bị đày đi Lĩnh Nam (tỉnh Quảng Tây). Dịp này ông làm bài thơ “Nam hành biệt đệ” để từ biệt em mình:


                                                Sông dài nước chảy lênh đênh,


                                            Dặm nghìn đất khách mối tình mênh mông.


                                                Hoa kia chia mối hận lòng,


                                            Lúc rơi tới đất tuyệt không tiếng gì.


                                                                        (Đi Lĩnh Nam, từ biệt em – Tương Như dịch)


             Bị đi đày, tác giả có điều uất ức không nói ra được, vì thế mà cho rằng hoa rơi xuống đất cũng giận thay cho mình nên rơi im lìm, không một tiếng vang. Cảnh sông dài, đường xa gây nên biết bao nỗi buồn trong lòng người lữ thứ, ra đi mà chẳng biết ngày về.


             Ngoài những bài thơ tiễn bạn, biệt em, ta còn thấy có thơ tiễn tráng sĩ sang sông vì nghĩa lớn, đó là thái tử Yên Đan của nước Yên tiễn đưa tráng sĩ Kinh Kha qua sông Dịch (5) sang Tần để hành thích Tần Thủy Hoàng. Lạc Tân Vương (640 - ?) thời Sơ Đường đã làm bài thơ “Dịch thủy tống biệt” nói về việc ấy:


                                                Đất này từ biệt Yên Đan,


                                            Tóc đầu dựng ngược, máu hờn nóng sôi.


                                                 Người xưa đã khuất bóng rồi,


                                            Ngày nay còn thấy nước trôi lạnh lùng.


                                                                        (Tiễn biệt ở sông Dịch – Trần Trọng Kim dịch)


             Lời thơ vừa hào hùng vừa cảm động. Câu 2 nói lên cái khí phách của tráng sĩ chỉ muốn ăn tươi nuốt sống vua Tần, hai câu cuối biểu thị lòng tiếc thương vô hạn đối với Kinh Kha, một tráng sĩ đã không tiếc hy sinh thân mình vì nghĩa lớn mà không thể hoàn thành sứ mệnh.


             Xa người thì lưu luyến, còn xa cảnh vật đâu dễ lạnh lùng bởi cảnh đã quen với người, lâu ngày xem như bạn. Với cảm tình ấy, nhà thơ Nhung Dục (? -?) đã viết nên bài thơ “Biệt hồ Thượng Đình” bằng những lời thơ thật đẹp:


                                                Lộng gió xuân tươi gác giữa hồ,


                                                Ly tình dây cuốn liễu quanh co.


                                                Oanh vàng ở mãi thành quen biết,


                                                Từ giã kêu vài tiếng líu lo…


                                                                        (Xa hồ Thượng Đình – Lê Nguyễn Lưu dịch)


             Ở đây không chỉ có cảnh mà còn có chim. Tác giả sống đã lâu nên thân thiết với con oanh vàng và nó cũng quyến luyến tác giả. Vì thế khi ông ra đi, nó hót lên vài tiếng líu lo, vừa để tiễn đưa vừa tỏ lòng nhớ tiếc. Tình của tác giả đối với cảnh vật đẹp biết bao! Đã nói về chuyện biệt ly của người trần thì thiết tưởng cũng nên nói đến cảnh biệt ly của người tiên. Lưu Thần, Nguyễn Triệu trong một lần đi hái thuốc đã may mắn lạc vào động thiên thai và kết duyên cùng tiên nữ. Nhưng tiếc thay, lòng trần chưa sạch nên hai chàng nhớ nhà và muốn trở về. Hai nàng tiên biết không giữ được nên đành phải tiễn đưa mà lòng buồn khôn xiết vì biết hai chàng dù muốn quay lại cảnh tiên cũng không thể được.


             Nhà thơ Tào Đường (?-?) tả cảnh tiễn đưa ấy trong bài thơ “Tiên tử tống Lưu Nguyễn xuất động”:


                                                Chén rượu ngày về nên gượng uống,


                                                Phong thư vô sự chớ thường coi.


                                                Hoa nương cửa động còn thơm mãi,


                                                Nước xuống trần gian cứ chảy xuôi.


                                                Theo tiễn bâng khuâng bên suối lạnh,


                                                Rêu ngàn, non quạnh, bóng trăng soi.


                                                (Tiên nữ tiễn Lưu Nguyễn ra khỏi động – Ngân Giang dịch)


             Cảnh ly biệt bao giờ cũng buồn nhưng là nỗi buồn thật đẹp giúp thi nhân tạo nên những vần thơ trác tuyệt.


 


HV.


Nguồn: Trung Hoa, Tình, Thơ và Mộng. NXB Trẻ, 2012.


www.trieuxuan.info


                                                                       


__________ 


      (1)  Quảng Lăng: nay là thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô.


(2)     An Tây: tức An Tây đô hộ phủ, do nhà Đường lập ra để quản lý vùng đất ngoài biên giới phía tây Trung Quốc.


(3) Dương quan: một cửa ải ở tây nam huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc.


(4)     Lầu Phù Dung: ở phủ Trấn Giang, nay là huyện Đan Đồ, tỉnh Giang Tô.


5- Sông Dịch: ở phía bắc thành Bảo Định, chảy qua Dung Thành và Dịch Huyện, tỉnh Hà Bắc.                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »