tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
28.09.2012
Huyền Viêm
Từ Lôi Vũ đến Nhật Xuất

Vào đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, ở Trung Hoa có hai kịch phẩm của Tào Ngu đã gây chấn động dư luận: Lôi vũ  (Dông tố) viết năm 1933 và Nhật xuất (Mặt trời mọc) viết năm 1935.


            Tào Ngu (1910-1996), kịch tác gia tên tuổi của Trung Hoa, tên thực là Vạn Gia Bảo, tự Tiểu Thạch, sinh ở Hồ Bắc, trong một gia đình quan lại đã suy tàn. Ông học tiếng Anh, tiếng Pháp ở  Đại học Thanh Hoa, đọc nhiều tác giả phương Tây, đặc biệt mê kịch và giỏi đóng kịch.


            Ngay từ thuở mới lớn, ông đã chứng kiến nhiều cảnh xấu xa nhơ bẩn trong xã hội Trung Hoa phong kiến bán thuộc địa nên về sau ông đem những cảnh ấy vào trong Lôi vũ. Cái mặt trái của xã hội gây cho ông nhiều nỗi đau buồn nên ông bất bình và căm thù cái xã hội bất công xấu xa ấy.


            Từ lúc còn học Tiểu học,  Tào Ngu đã đọc nhiều tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học cổ điển Trung Hoa như Tam quốc chí, Tây du ký, Hồng lâu mộng... Ông lại gặp một thuận lợi là mẹ ông rất mê kịch, thường dẫn ông đi xem nên ông sớm hiểu rằng “kịch là một thứ hay đến mê người”.


Lúc lên Trung học, Tào Ngu bắt đầu làm quen với các tác gia trong nền văn học hiện đại Trung Quốc như Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Úc Đạt Phu, Diệp Thánh Đào, Điền Hán, Thành Phương Ngô... Thành Phương Ngô chủ trương duy mỹ chủ nghĩa, yêu cầu nhà văn phải đạt cho kỳ được cái mục đích  perfection and beauty” (hn hảo và tuyệt mỹ). Phương Ngô cho rằng câu châm ngôn phương Tây “no struggle, no drama” (không đấu tranh, không có kịch) chính là nguyên tắc sáng tác kịch hiện đại. Trong thời kỳ này, khả năng văn nghệ của Tào Ngu bắt đầu chớm nở.


Lên Đại học, ông được tiếp xúc với nền văn học ưu tú thế giới, nhất là những kịch phẩm của Ibsen (Na-Uy), Bernard Shaw (Ái Nhĩ Lan), Tolst, Tchékhov (Nga), Hauptmann (Đức), Shakespeare (Anh) vân vân... Tào Ngu đã chịu ảnh hưởng không ít của các tác gia này.


            Năm 1933, khi còn là sinh viên khoa tiếng Anh tại Đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh,  ông đã bắt đầu viết kịch Lôi vũ và năm sau thì vở kịch ấy hn thành. Vở kịch gây chấn động dư luận, được dịch ra tiếng Nhật rồi tiếng Anh nên được phổ biến khá rộng rãi trên thế giới. Nội dung vở kịch có thể tóm tắt như sau:


            “Chu Phác Viên hồi còn trẻ yêu một người đầy tớ gái xinh đẹp tên Thị Bình và có với nàng hai đứa con trai. Đứa lớn tên là Chu Bình, đứa nhỏ còn nằm trong bụng mẹ. Sau vì muốn cưới một cô con gái nhà giàu, gia đình Phác Viên đuổi nàng đi, bắt lại Chu Bình rồi tung tin nàng đã chết. Thị Bình nhảy xuống sông tự tử nhưng được cứu sống. Sau đó, nàng lấy người chồng khác là Lỗ Quí, một tên lưu manh, nghiện rượu, rất xảo quyệt và vô liêm sỉ, sinh được một đứa con gái tên là Lỗ Tứ Phượng. Còn đứa con riêng của nàng với Chu Phác Viên nằm trong bụng mẹ ngày nào, sau khi sinh được Lỗ Quí đặt tên là Lỗ Đại Hải.


            Hơn hai mươi năm sau, tình cờ Lỗ Quí và Phượng cùng vào làm đầy tớ nhà Chu Phác Viên lúc này đã trở thành ông chủ mỏ, còn Lỗ Đại Hải thì làm công nhân trong mỏ của Phác Viên. Thị Bình vì bận đi làm ăn xa nên không hề hay biết. Lúc này Phác Viên đã có vợ sau là Phồn Y, chỉ lớn hơn Chu Bình có bảy tuổi. Phồn Y còn trẻ, khao khát yêu đương mà Phác Viên thì đã già, tính tình khô khan, lạnh lùng, khắc nghiệt, cứ về tới nhà là quát tháo ầm ỹ khiến nàng rất đau khổ, lại luôn luôn bắt nàng phải uống thuốc đắng mà không biết bệnh nàng là tâm bệnh, không thuốc nào chữa khỏi.


            Nàng bèn tìm cách quyến rũ Chu Bình, con riêng của chồng. Lúc đầu Chu Bình cũng sốt sắng đáp lại tình nàng, nhưng về sau thì lạnh nhạt dần vì mặc cảm tội lỗi và cũng vì yêu Phượng, hơn nữa bấy giờ Phượng đã có thai với Bình.


Chu Xung, con của Phồn Y và Phác Viên, cũng yêu Phượng, nhưng không được nàng 


đáp lại. Khi biết Chu Bình không còn yêu mình nữa, Phồn Y phẫn uất căm hờn, lồng lộn như con thú dữ bị dồn vào bước đường cùng, tìm cách phá phách cho hả giận rồi muốn ra sao thì ra.


            Trong một chuyến về thăm nhà, Thị Bình được Phồn Y mời lại chơi và báo cho biết vì Chu Xung yêu Phượng nên buộc Phượng phải thôi việc. Trong khi đó, Lỗ Đại Hải cầm đầu  một cuộc đình công ở mỏ, về đặt yêu sách với Phác Viên. Do một sự tình cờ, Phồn Y biết  Thị


Bình là vợ trước của Phác Viên, là mẹ của Chu Bình, còn Đại Hải là con của Phác Viên và Thị Bình.


            Vào lúc nửa đêm, trong khi dông tố nổi lên dữ dội ở bên ngi thì trong nhà dông tố cũng nổi lên: lúc cả gia đình Lỗ Quí đang có mặt ở nhà Phác Viên và Chu Bình sắp dắt Phượng đi trốn thì Phồn Y gọi Phác Viên ra, vạch trần sự thật cho mọi người biết. Đã đến nước ấy, Phác Viên đành phải nói hết. Thế là Phác Viên, Thị Bình, Chu Bình, Đại Hải và Phượng phải đối diện nhau trong một hn cảnh hết sức bi thảm và đau xót. Mãi đến lúc đó, Chu Bình mới biết mình yêu em gái, Phượng mới biết mình có thai với anh ruột, Đại Hải mới biết lão chủ mỏ phải chịu trách nhiệm về vụ bắn giết thợ đình công và bị mình chửi rủa tàn nhẫn chính là cha đẻ của mình.


            Đau đớn quá, Phượng lẻn ra ngi, nắm một sợi dây điện đứt để tự tử. Nghe tiếng thét rùng rợn của Phượng, Chu Xung chạy ra, thấy nàng đã chết bèn ôm lấy nàng để điện giật chết theo. Đại Hải nhảy qua cửa sau chạy mất. Phác Viên gọi lại không được, chợt nhớ tới Chu Bình thì bỗng có tiếng súng nổ ở phòng bên. Phồn Y giật mình chạy qua xem rồi la thất thanh: Chu Bình chết rồi! Thị Bình bước được hai bước rồi khuỵu xuống, ngã sấp trên sàn gạch”.


            Thường các đn kịch đóng đến đây là hết. Nhưng trong vở kịch, tác giả còn thêm hai màn ngắn nữa: màn giáo đầu và màn kết thúc. Ngôi nhà của Phác Viên sau đó bán cho nhà chung và trở thành một dưỡng đường. Phồn Y và Thị Bình đều hóa điên và cùng dưỡng bệnh ở đấy. Trong màn giáo đầu, Phác Viên đến thăm Phồn Y ở trên lầu và trong màn kết, Phác Viên xuống tầng dưới thăm Thị Bình. Thị Bình không nhận ra người tình cũ nữa và đăm đăm nhìn ra cửa sổ mong Đại Hải trở về, nhưng đã mười năm qua, Phác Viên cho người tìm kiếm khắp nơi mà không thấy Đại Hải đâu cả.


            Vở kịch có nhiều tình tiết dữ dội, diễn tiến rất nhanh, thắt rồi lại mở, mở rồi lại thắt, càng về sau nhịp độ thắt mở càng nhanh để rồi cuối cùng kết thúc một cách rất bi thảm với hai người điên và bốn cái chết (kể cả cái thai trong bụng Phượng).


            Vở kịch Lôi vũ ra đời được hoan nghênh nhiệt liệt từ Á sang Âu.


Năm 1934, khi đến Thượng Hải, Tào Ngu được mục kích ở cái thành phố mại bản này biết bao bi hài kịch cười ra nước mắt nên một năm sau (1935), ông soạn vở kịch Nhật xuất được khen là kịch hay nhất trong năm. Nhật xuất là một bi kịch xã hội, trong đó hiện lên nhiều hạng người tiêu biểu cho một xã hội xấu xa, vô đạo đức. Nội dung tóm tắt như sau:


            “Nàng Trần Bạch Lộ, một kỹ nữ xinh đẹp và sang trọng của giới thượng lưu, đang sống trong một phòng lớn trang trí rất xa hoa của khách sạn, là gái bao của ông chủ ngân hàng đã ngi sáu mươi tuổi, Phan Nguyệt Đình. Trước khi chạy theo ánh sáng đô thành, Bạch Lộ đã có người yêu ở quê là Phương Đạt Sinh, một thanh niên có học, ngay thẳng và chân thật. Sinh lên thành phố tìm Bạch Lộ, muốn cứu vớt nàng ra khỏi cảnh đời u ám tối tăm để cùng về quê sống hạnh phúc bên nhau, nhưng Bạch Lộ đã cười chàng là quá ngây thơ và từ chối đề nghị của chàng.


           


            Tại đây, Phương Đạt Sinh gặp gỡ nhiều hạng người trong giới “thượng lưu”: Trương Georges du học ở Mỹ về, bỏ vợ và ba con để chạy theo Bạch Lộ; Tư Hồ, một anh chàng rất điển trai nhưng lưu manh, đang chim chuột với mụ Bát Cố đáng tuổi mẹ hắn để đào mỏ  và Phan Nguyệt Đình, một nhà tư sản, chủ ngân hàng.


            Giữa lúc ấy bỗng có “cô bé xíu” 15 tuổi, lạc gia đình, chẳng may sa vào nhà chứa. Không chịu để cho lão Kim Bát – một tên tư sản đầu cơ gian ác – làm nhục, cô đã chạy trốn vào phòng của Bạch Lộ, được Bạch Lộ và Phương Đạt Sinh che chở.


 Phan Nguyệt Đình nợ lão Kim Bát rất lớn. Để tránh nguy cơ phá sản và che mắt những người gửi tiền vào ngân hàng, một mặt hắn cho xây những tòa nhà lớn làm như vẫn còn giàu có, mặt khác lo cầm cố gia sản để trả bớt nợ. Không ngờ Lý Thạch Thanh , một viên chức xảo quyệt, biết được bí mật ấy bèn tìm cách dọa dẫm ông chủ để hưởng lợi. Để giảm bớt chi phí, Phan Nguyệt Đình sa thải nhân viên và thầy ký Hồng Tĩnh Tam (Tam Hắc) là nạn nhân đầu tiên của hắn. Bị thất nghiệp thình lình, vợ lại bỏ theo trai, vô gia cư, vô nghệ nghiệp, thầy ký Tam lâm vào cảnh tuyệt vọng nên đầu độc ba đứa con để cho chúng khỏi khổ và để nhận bản án tử hình. Nhưng trớ trêu thay, Tòa án lại tha bổng, khiến ông muốn chết mà không được chết, muốn sống cũng chẳng ai cho sống!


            Bỗng có tin giá phiếu quốc trái tăng cao, Phan Nguyệt Đình mừng rỡ tưởng  như  chết


đi sống lại, cách chức ngay Lý Thạch Thanh giữa lúc con của Thanh bệnh nặng sắp chết mà không có tiền thuốc thang chạy chữa. Lúc ấy Bạch Lộ không còn đủ sức che chở cho “cô bé xíu” nữa nên cô lại rơi vào nhà chứa, bị hành hạ tàn nhẫn và buộc phải tiếp khách nên cô treo cổ tự tử.


            Nhưng tin giá phiếu quốc trái tăng chỉ là tin giả của lão Kim Bát tung ra để lừa Phan Nguyệt Đình. Thế là Phan Nguyệt Đình phá sản, không n bảo bọc được cho Bạch Lộ nữa. Bạch Lộ mất nơi nương tựa, không có tiền trả nợ, phải mở miệng vay tiền của Trương Georges nhưng hắn từ chối, lại còn đểu cáng mời nàng dự đám cưới của hắn nữa. Nhục nhã và tuyệt vọng, Bạch Lộ uống thuốc ngủ tự vẫn. Phương Đạt Sinh đến gọi nàng nhưng không có tiếng đáp, chỉ có tiếng hát rì rầm của đám thợ thuyền đang xây dựng ở bên ngi. Anh bước ra, ngước mắt nhìn trời rồi hướng thẳng về phía mặt trời mới mọc (nhật xuất)”.


oOo


            Cả hai vở kịch đều thật xuất sắc, đạt tới một giá trị nghệ thuật rất cao, nhưng mỗi vở mang một dáng vẻ riêng. Vở Lôi vũ, Tào Ngu viết khi còn là sinh viên nên khung cảnh chỉ thu hẹp trong một gia đình. Trái lại, vở Nhật xuất ông viết khi đã vào đời, đã va chạm với thực tế nên khung cảnh rộng lớn hơn, khung cảnh của xã hội Trung Hoa thời ấy. Tào Ngu đã chuyển từ bi kịch gia đình sang bi kịch xã hội.


            Trong vở Lôi vũ, tác giả đã khéo léo dùng “dông tố” của thiên nhiên ở ngi trời để kích thích bản năng của con người, khiến cho “dông tố” trong lòng người cũng nổi dậy và càng lúc càng thêm cuồng loạn đến mức kinh khủng. Vở kịch có nhiều tình tiết gay cấn đến nghẹt thở, nhất là chuyện loạn luân trong gia đình: dì ghẻ yêu con chồng, em gái có thai với anh trai, hai anh em cùng yêu một đứa ở... Rồi đến con chửi cha, em đánh anh, đầy tớ phản chủ, cha (Lỗ Quí) muốn bán đứng con gái (Phượng) để lấy tiền vân vân... Tài cấu tạo, xếp đặt cũng như thể hiện tâm lý nhân vật rất khéo léo không kém gì các vở kịch cổ điển Tây phương. Mặc dù tác giả không nhận, nhưng các nhà phê bình đương thời đều nhất mực cho rằng Tào Ngu viết Lôi vũ là để vạch trần tội ác của chế độ đại gia đình cũ.


            Trong vở Nhật xuất tác giả đã đưa lên sân khấu cả một bộ mặt thật của xã hội Trung Hoa thời ấy: cảnh sa đọa trụy lạc trong khách sạn, cảnh cờ bạc sát phạt nhau tàn bạo, cảnh tối tăm bệ rạc của một ổ điếm hạng tồi, cảnh cá lớn nuốt cá bé, nỗi khổ nhục của con người lương thiện mà phải lâm vào cảnh thất nghiệp, cảnh giết người, tự tử, cảnh thị trường chứng khn chao đảo thất thường, nạn kinh tế khủng hoảng, xưởng máy đình công..., tất cả hợp lại vẽ nên một bức tranh đen tối đến thê thảm của xã hội Trung Quốc đương thời. Tuy nhiên, trong phần kết thúc, tác giả mở ra một chân trời mới với vầng thái dương vừa mọc như báo hiệu một ngày tươi sáng và tiếng hát rì rầm của thợ thuyền như nhắc ta nhớ rằng tương lai ở trong sự đn kết nỗ lực của người lao động. Nhưng khác với Lôi vũ, vở Nhật xuất không có những màn gay cấn đến nghẹt thở, không có những tình tiết thật dữ dội để rồi bùng nổ như một tiếng sấm khi kết thúc.


            Trong lời bạt vở Nhật xuất, tác giả viết :“Mấy năm trời xiêu bạt trong cái xã hội gớm guốc quái gở này, tôi đã thấy được sự đời dễ sợ chả khác nào một giấc mơ bị mộc đè. Bấy nhiêu ấn tượng, đến chết tôi cũng sẽ không bao giờ quên được, nó biến thành những vấn đề nghiêm trọng, đột ngột đánh vào i những đòn trí mạng, bấy nhiêu vấn đề hun nóng tình tự của tôi, tăng thêm cái cảm giác bất bình của tôi (...) Tôi muốn viết một tí gì để nói toang ra mọi nỗi bực tức trong lòng. Tôi muốn thét to vào mặt lũ người hoang dâm vô sỉ đó rằng :“Ngày cuối cùng của chúng mày đã đến kia rồi”. Nỗi bất bình đó là nỗi bất bình trước một xã hội tàn nhẫn “lấy chỗ thiếu đắp thêm vào chỗ thừa”.


            Sau hai vở kịch này, Tào Ngu n viết thêm mấy vở nữa như: Nguyên dã (Đồng hoang, 1936); trong thời kháng chiến chống Nhật (1937-1945) ông sáng tác mấy tác phẩm phục vụ kháng chiến như Nhuệ biến (Thay cũ đổi mới, 1941) và Bắc Kinh nhân (Người Bắc Kinh, 1941). Năm 1942 ông cải biên thành kịch quyển tiểu thuyết nhan đề “Gia” (Gia đình) của nhà văn hiện thực phê phán Ba Kim, dịch Roméo et Juliette.


Sau ngày nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập (1949), Tào Ngu lãnh đạo ngành kịch nói Trung Hoa.  Năm 1954 ông viết vở Minh lãng đích thiên (Bầu trời trong sáng), vở kịch này gợi lên vấn đề trách nhiệm tinh thần của bác sĩ và nhà bác học.  Khi khơi dậy vấn đề nghiêm trọng nhất làm xao động nhân loại ở một thời kỳ mà thế lực của khoa học thắng lướt tất cả, tư tưởng của Tào Ngu phô diễn trong kịch bản này có một tầm quan trọng vượt biên giới. Năm 1962 ông viết Đảm kiếm thiên (Mật đắng gươm thiêng) mượn chuyện Việt vương Câu Tiễn thời Xuân Thu chiến quốc nằm gai nếm mật quyết chí phục thù để động viên  tinh thần tự lực cánh sinh. Tuy nhiên những vở kịch này không sao sánh được với Lôi vũ Nhật xuất.


            Bàn về nghệ thuật của Tào Ngu, học giả Nguyễn Hiến Lê đã có nhận xét như sau:


            “Nghệ thuật của ông khá cao: khéo lựa đề tài hấp dẫn, khéo dàn cảnh, khéo  xếp  đặt


tình tiết, dẫn dắt đối thoại, đôi khi lại có chút thi vị, chút hóm hỉnh...


            Nhưng có điều đáng trách là trước năm 1940, nhân sinh quan của ông bi thảm: con người hn tn bị thiên nhiên chi phối, cá nhân hn tn bị xã hội đè bẹp; chống lại thì chỉ gây chết chóc, tự tử, hoảng loạn. Cảnh gia đình trong kịch của ông chỉ là thối nát, tội lỗi, mà ái tình cũng không có được một chung cục đẹp đẽ. Tóm lại, ông thiếu sự chừng mực trong tư tưởng  cũng như trong bút pháp, không biết điều hòa những năng lực tương phản trong các sự xung đột. Vì vậy mà ông chưa thể đứng vào hàng đại kịch tác gia của thế giới, mặc dầu ông được thế giới nhận là một trong vài văn hào bậc nhất của Trung Hoa hiện đại, danh ngang với Lỗ Tấn”.


HV.


Nguồn: Trung Hoa, Tình, Thơ và Mộng. Biên khảo của Huyền Viêm. NXB Trẻ, 2012.


www.trieuxuan.info


 


______________


            (*) Nhà văn Đặng Thai Mai là người đầu tiên đã dịch hai vở kịch này đăng trên báo Thanh Nghị (1942)

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »