tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
24.12.2012
Đặng Xuân Đĩnh
Thân thương cuộc đời (3)

Theo “Đặng Tộc thế phả” của Cử nhân Đặng Đức Cường (1889) và “Đặng thị nguyên nhân ký” của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng soạn thảo đầu thế kỷ 20 thì nguồn gốc họ Đặng ở Hành Thiện là họ Trần. Họ Đặng Hành Thiện thuộc dòng dõi Tiến sĩ Đặng Đình Huấn sinh ra Đặng Tiến Vinh. Đặng Tiến Vinh sinh ra Đặng Chỉnh Pháp tức Đặng Đại Lang là thủy tổ họ Đặng Hành Thiện về sinh sống ở làng từ ngày đầu thành lập làng cách đây gần 400 năm. Trước kia Hành Thiện được gọi là xã Hành Cung. Dân cư xã này đã từng sinh sống ở ấp Hộ Xá thuộc huyện Nam Trực, Nam Định, thường được các thái thượng hoàng và các vua Trần lui tới nên ấp này trở thành trang Hành Cung. Để nhớ đến tình xưa nghĩa cũ, làng Hành Thiện mới lấy tên xã Hành Cung.


Cùng một thủy tổ, họ Đặng Hành Thiện chia ra 8 chi. Ngoài ra còn có chi Đặng Vũ, dòng dõi họ Vũ nhập cư Hành Thiện lấy con gái họ Đặng được nhận làm con nuôi.


Họ Đặng Xuân ông tôi là dòng họ đông dân thứ hai trong làng, thuộc chi thứ tư.


Xét về nguồn gốc, họ Đặng Hành Thiện xuất xứ từ họ Trần. Vào cuối thế kỷ thứ 14, Hồ Quý Ly lấn át nhà Trần lập ra vương triều Hồ. Một số quý tộc nhà Trần mưu chống lại nên bị tàn sát. Do đó, người họ Trần phải thay đổi họ tên. Lúc đầu đổi là họ Đông, sau đổi là họ Đặng[1]. Họ Đặng là một dòng họ có công khai phá thành lập ra làng từ khởi đầu.


Ông cha thường kể lại cho nghe những chặng đường gian khổ phải di cư nhiều lần do đất bị lở xuống sông, bền bỉ phấn đấu không ngừng cho sự sinh tồn của dòng họ, vì sao phải đổi tên hai lần từ họ Trần sang họ Đông, rồi sang họ Đặng. Cuộc sống của các chi họ tất nhiên có mức độ khác nhau. Chi thứ tám rất nghèo phiêu bạt đi các nơi khác từ lâu. Nhưng tất cả đều thừa hưởng được truyền thống ấy là tinh thần yêu nước chống ngoại xâm, đã sản sinh ra rất nhiều nhân vật nổi tiếng về quân sự, văn học, sử học, chính trị, ngoại giao. Dù phiêu bạt đến bất cứ nơi nào đều tỏ ra có ý chí kiên cường trong cuộc sống. Dù sinh sống ở đâu trên khắp đất nước Việt Nam đều nhớ đến tổ tiên họ Đặng từ Chương Mỹ (Hà Đông), thừa nhận Tiến sĩ Đặng Đình Huấn (Khánh quân công) là thủy tổ họ Đặng toàn quốc. Hàng năm lấy ngày giỗ cụ làm ngày họp mặt đại biểu các dòng họ Đặng.


Vinh dự cho họ Đặng Xuân chúng tôi là hậu duệ của dòng họ Đặng Trần.


Tiếp thu truyền thống hiếu học từ nguồn gốc thủy tổ và của xóm làng, trong họ có nhiều tấm gương sáng kiên trì học tập[2]. Ông Đặng Văn Tường thi 4 khoa đậu tú tài, đến năm 58 tuổi mới đậu cử nhân. Ông Đặng Hữu Dương đậu cử nhân năm 20 tuổi, vào Huế học trường Quốc Tử Giám thi đậu tiến sĩ năm 30 tuổi (1889). Ông Đặng Hữu Nữu nhà nghèo, nhận nấu ăn cho các bạn đến trọ học nhà thầy để được ăn học miễn phí, đậu cử nhân năm 19 tuổi. Ông Đặng Đức Bàng đậu cử nhân năm 17 tuổi. Ông Đặng Đức Địch đậu phó bảng năm 33 tuổi. Ông Đặng Kim Toán đậu phó bảng năm 35 tuổi. Trong họ Đặng Xuân có cụ Đặng Kim Tương (1834- 1914) đậu tú tài không ra làm quan, mở trường dạy học, có 5 con trai (một người mất sớm) còn 4 người theo gót cha chăm chỉ học tập, trong số đó có 3 người (Đặng Chí Kinh, Đặng Xuân Khánh, Đặng Văn Độ) đậu cử nhân, Đặng Quan Thành (tức Ứng, con út) đậu tú tài. Tinh thần hiếu học được duy trì sang thời Tây học và cho tới ngày nay. Ông nội tôi xuất thân từ dòng dõi nho học. Cuộc đời và sự nghiệp của ông được tóm tắt như sau:


A. Thời niên thiếu của ông nội tôi


Năm Mậu Tý (1828) dưới triều Nguyễn niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 9, cậu Đặng Xuân Bảng ra đời tại làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thuở xưa, làng Hành Thiện đã nổi tiếng là một làng văn hiến. Ngạn ngữ có câu “Đông Cổ Am, nam Hành Thiện” đã biểu dương làng này là một làng có nhiều nhà khoa bảng nhất ở Sơn Nam (Nam Định). Ngay từ đời nhà Lê (thế kỷ thứ 14) đã có vị đậu tứ trường (cử nhân). Từ đó, cho đến khi kết thúc các khóa thi Hán học đã có 7 vị đậu đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 vị đậu cử nhân và 248 vị đậu tú tài. Hành Thiện có tiếng là đất học từ xa xưa. Không những thế, làng còn có tiếng là có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, cần cù lao động, khéo chân tay.


Tất cả những truyền thống đó chắc hẳn đã có tác động đến cậu bé Đặng Xuân Bảng ngay từ thời niên thiếu.


Ông nội cậu Bảng là cụ Đặng Nguyên Quế (tức Xã Quế) là nhà nho chuyên nghề dạy học, cụ bà chuyên nghề làm vườn, trồng dâu, nuôi tằm. Nhân làm ăn sinh sống ở quê gặp khó khăn, cụ bèn đưa toàn gia ra xã An Dương (Hải Phòng) sinh sống và tiếp tục làm nghề cũ. Trong một chuyến gánh cau đi bán với người con gái 10 tuổi qua bến đò Rừng thì bị đắm đò chết cả hai cha con.


Cha cậu Bảng là cụ Đặng Viết Hòe (tức Mền Hòe). Cụ Hòe kiên trì học tập và thi cử. Bảy lần thi hương, lần nào cũng đậu tú tài (1828, 1831, 1846, 1847, 1848, 1850, 1852). Có lần cùng đi thi với con nhưng không đậu được cử nhân. Có thời kỳ mở trường dạy học ở làng và là người thầy duy nhất dạy các con thành đạt. Sĩ phu trong vùng rất quý trọng cụ ở khả năng truyền thụ kiến thức, giáo dục đào tạo, và tư cách đạo đức của cụ. Cụ bà chuyên nghề dệt vải chăn tằm, là người họ Nguyễn cùng làng.


Cụ Hòe có ba con trai là: Đặng Xuân Bảng, Đặng Ngọc Toản (đậu cử nhân, xếp thứ nhì nên gọi là á nguyên, đã làm giáo thụ huyện Kiến Xương, Thái Bình), Đặng Ngọc Quân (tức Đỗ Quân có đi thi nhưng không đậu, chuyên làm nghề dạy học) và hai con gái (một người lấy tú tài Đặng Vũ Mỹ, người làng; một người lấy cử nhân Nguyễn Doãn Tựu, người làng Dũng Nghĩa, Vũ Tiến, Thái Bình, đã làm tuần phủ tỉnh Hà Tĩnh).


Xuất xứ dòng dõi nho học nói trên, cậu Bảng từ thời niên thiếu đã rất ham học. Gặp cảnh hàn vi, vào dịp tháng 10 cậu đi gánh rạ về lợp nhà và làm chất đốt, có khi đóng đất, cùng người lớn đắp đê. Gặp lúc giáp hạt thì bữa rau, bữa cháo; thường thì cùng cha đi dạy học đến 29 tết mới về nhà. Vì thiếu dầu đèn, có khi cậu dùng đom đóm soi chữ mà học, hay học dưới ánh trăng. Trong cảnh ba gian nhà rách, một ngọn đèn mờ, phong vị nhà nho kham khổ gặp cảnh ngộ ấy cậu chẳng thấy làm khó chịu, vẫn quanh năm học tập, học có suy luận.


Cậu Bảng từ thời niên thiếu đã nổi tiếng là thần đồng(2) . Năm 12 tuổi, khách đến chơi ra câu đối:


- Trời có mắt, trời không xa, đèn trời soi xét.


Cậu đối:


- Đất không chân, đất biết chạy, quả đất xoay vần


Lần khác khách đến nhà ra câu đối:


- Bé chẳng vin, cả gẫy ngành, nên phải học ăn, học nói, học gói, học mở.


Cậu đối:


- Con hơn cha, nhà có phúc, chắc hẳn có cầu, có được, có ước, có nên.


Từ đó, tuổi mỗi ngày một lớn, học mỗi ngày một tiến, học đâu thuộc đấy. Từ bản chất thông minh, văn bài cậu Bảng tỏ ra linh lợi, lời lẽ thanh tao. Cậu chuẩn bị chờ đón khoa thi.


B. Quá trình học tập, đi thi và làm quan


(Xem Bảng Biên niên)


Đến năm 18 tuổi (1846). Ông Bảng đã trở thành một thanh niên chững chạc ăn mặc đi đứng chỉnh tề. Ông chuẩn bị lều chõng đi thi và đậu tú tài. Đến khoa thi sau (1848), lại đậu tú tài một lần nữa, người đời gọi ông là ông Kép Bảng. Thân sinh ông giục lấy vợ, ông một mực từ chối, vì cho rằng mình còn thua kém bạn và phải học nữa.


Đến năm 22 tuổi, đương triều vua Tự Đức (1850), ông thi đỗ cử nhân. Thân sinh lại giục ông lấy vợ. Lần này ông phải nhận lời lấy con cụ Tú Bật người cùng làng. Bà là một người nội trợ đảm đang. Khi ông Bảng cùng cụ thân sinh đi ngồi dạy học, thì bà ở nhà nuôi mẹ chồng và quán xuyến công việc gia đình. Cách hai năm sau bà bị bệnh mà mất, tình cảnh thật gian truân, trong lòng ngổn ngang.


Cùng thời gian này có chiếu bổ ông làm giáo thụ phủ Ninh Giang (Hải Dương). Phủ này đóng bên sông, trên bến dưới thuyền, thật là ngoạn mục. Ngoài việc dạy học, ông có dịp quan sát phong cảnh và tìm hiểu sinh hoạt của người dân ở nơi sông nước, một đô thị phồn hoa buôn bán. Cảnh và người ở đó cũng làm cho ông khuây khỏa đôi phần mỗi khi thoáng nhớ người vợ đã khuất của mình. Hơn nữa, ông vẫn còn say mê học tập để chuẩn bị thi Hội.


Năm 1856, ông Bảng 28 tuổi vào Huế thi Hội, đỗ thứ nhì khoa ấy. Quyển ông đáng đậu Hoàng giáp, nhưng cuối bài sách có câu can vua về thanh sắc tuần du. Vua không ưng, đánh xuống đầu tam giáp tiến sĩ. Vào lĩnh mũ áo, yến tiệc xong, vua hỏi:


- Ngươi ở nhà học ai?


- Tâu bệ hạ, từ thuở bé đến lớn, hạ thần chỉ học cha ở nhà thôi


- Cha ngươi đỗ gì?


- Tâu bệ hạ, cha hạ thần đỗ bẩy khoa tú tài. Vua ban cho bốn chữ “Giáo tử đăng khoa”.


Nghe tin ông Bảng đậu tiến sĩ, có một nhà giàu đánh tiếng gả con gái cho, khi về vinh quy bái tổ tốn phí bao nhiêu cũng xin giúp. Ông không bằng lòng và lý giải rằng: “Nghe nói nhà ông ta là trọc phú, tích của mà không tích đức. Thôi cứ chọn nơi phúc hậu, nhà thanh bạch là hơn”.


Có người giới thiệu cụ tiến sĩ Phạm Thế Lịch người Lạc Quần (làm quan đến tổng đốc và đi sứ sang Trung Quốc) có một người con gái út tên là Phạm Thị Túc, vẫn chưa nhận gả cho ai. Người ta nói cô Túc “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”, ăn nói dịu dàng… ông ưng ngay. Nhưng các chị em ông không ưng lắm, vì nhà mình nghèo mà nhà cụ Phạm cũng nghèo, cô Túc còn ít tuổi quá. Ông vượt qua các trở ngại và mượn mối đến hỏi. Cụ Phạm bằng lòng gả ngay. Người bấy giờ có câu rằng :


Con ông Nghè làm bà Nghè


Tơ hồng ai đã khéo se duyên trời


Đương lúc vợ chồng vui vẻ: “Đường nối dây tơ, gương tô nước thủy” bỗng có chiếu vua gọi vào Nội các. Đường đi vào Huế mất 15 ngày, phải đi bộ và đi thuyền. Đây là dịp ông thưởng ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh. Qua núi Sơn Thủy, núi Tam Điệp, núi Hồng Sơn, ông đều có thơ vịnh. Tiếp đó, qua huyện Thạch Hà, qua truông nhà Hồ (Quảng Trị), ông đều có thơ kết hợp với dòng lịch sử đã xảy ra ở nơi đó.


Năm 1857, ông Bảng 27 tuổi, nhậm chức Bí thư văn phòng Nội các, nhận nhiệm vụ hiệu đính bộ Khâm định nhân sự kim giám.


Công việc hiệu đính xong, có chiếu cử ông ra Bắc nhận nhiệm vụ quyền Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa). Vì cây quế Thanh khó trồng, ông đề nghị quan tỉnh tâu lên vua không bắt dân xã Thịnh Vạn nộp thuế hàng năm nữa.


Ông không cho người nhà ra chốn công đường, lính canh cửa không được đòi tiền, dân ai có việc gì thì cứ đi thẳng vào mà kêu. Nhiều khi hết giờ làm việc, thấy dân còn đứng ngoài cửa, ông cho gọi vào để giải quyết, tránh cho dân khỏi ăn chực nằm chờ. Nha lại đi việc quan, ông yêu cầu không được chè chén của dân. Tổng lý họ cười thầm, quan còn ít tuổi quá không biết ăn tiền, ông làm bài thơ để nói lên tâm sự của mình, cuối bài thơ có hai câu kết:


Kiếm ăn không phải mình không thạo


Bắt nạt dân đen có lẽ nào.


Năm 1860, ông 32 tuổi, nhậm chức Tri phủ Yên Bình (Tuyên Quang). Bắt đầu ông tìm hiểu dân tình, dò hỏi những tay trộm cướp, thầy cúng, thầy kiện nhũng nhiễu dân để trừng trị. Nếu dân đến kiện, ông thường giải nghĩa lý để hai bên hòa giải với nhau là hơn: “Nếu thua kiện hay được kiện đều tốn của vô ích, quan sai, nha bắt, lính hạch, tiền sai”. Ngoài ra ông còn lưu ý tìm hiểu phong tục tập quán của dân.


Năm 1861, ông 33 tuổi, có chiếu gọi vào kinh nhậm chức Giám sát ngự sử. Được tin, thân hào và dân rất tiếc vì nhờ ông mà dân được yên lành, giảm hẳn trộm cướp và kiện cáo (cho dù ông ở phủ này được có hơn một năm). Ông cảm ơn rồi lên đường vào kinh.


Khi nhậm chức này ông được tham gia bàn bạc những việc về hành chính cất nhắc bổ quan, tài chính, đô chính. Trong thời gian này, ông can gián nhà vua không nên phái Phan Thanh Giản đem vàng bạc, báu vật sang Pháp để chuộc ba tỉnh Nam Kỳ là Gia Định, Biên Hòa, Mỹ Tho. Vua không nghe. Cuối cùng lễ vật thì Pháp nhận, còn ý đồ xâm lược thì vẫn tiến hành. Quả nhiên, đến năm 1863 Pháp lại đánh chiếm thêm 3 tỉnh phía tây là Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Từ đấy sáu tỉnh Nam Kỳ đều thuộc về tay người Pháp, coi như thuộc địa của Pháp.


Khi làm chức ngự sử, ông Bảng có ba sớ tâu lên vua. Trong sớ tâu việc tài chính, ông tâu không nên dùng đồ xa xỉ hoặc mua hàng nước ngoài, mà tự sản xuất ra hàng tơ lụa, đồ sứ, mô phỏng như hàng nước ngoài mà dùng. Như vậy sẽ phát triển được công nghệ, đỡ được chuyện “đem tiền đi đổ sông Ngô”. Trong sớ tấu về việc dân chính, ông tâu nên nắm vững dân số, tránh tình trạng tham nhũng trong việc khai tăng đinh và giảm đinh. Nắm chắc sổ đinh mà định thuế cho công bằng, binh ngạch cho chính xác. Làm như vậy là cốt để cho dân xã khỏi phải phiền nhiễu và tránh được tệ đoan của lý dịch. Trong khi khảo sớ tâu về dân chính, ông tìm hiểu về việc quản lý dân đinh ở các nước Âu châu trong những trường hợp bị thiên tai như núi lửa, lũ lụt mà dân số có thay đổi. Đối với sớ tâu về binh chính, ông tâu phải thường xuyên luyện tập hàng ngày, chỉ để một số ít binh sĩ ở lại canh phòng và phục dịch. Tránh tình trạng ghi tên số lính sau cho về quê, còn lương của họ thì các viên quản suất chia nhau đút túi. Các cơ binh phải luyện tập thao trường một tháng hai kỳ cho quen việc chiến trận. Trong sớ tâu, ông có ý phân công quân chính quy và dân quân như ta ngày nay. Ông hết sức chú ý về hậu cần và trang bị võ khí. Tất cả các sớ ông tâu lên vua, đều được vua sai đình thần thỏa nghĩ phúc tấu.


 Ngoài ra, ông còn đề xuất vấn đề mở mang công thương nghiệp.


Năm 1863, ông Bảng 35 tuổi được thăng chức Trưởng ấn lại khoa. Ông có nhiệm vụ duyệt các giấy tờ trước khi tâu lên vua. Tính ông cương trực, thẳng thắn, kể cả trong việc cất nhắc bổ quan. Trong việc này hai ông Thượng thư bộ lại Thân Văn Nhiếp và bộ binh Trần Tiến Thành không được vừa lòng. Từ đấy hai ông để bụng căm tức, thường để ý dò xét ông có can sự gì thì tâu vua. Người nhà nghe thấy người ta nói chuyện, có ý can ông. Ông nói :


“Tôi làm việc cho triều đình, chứ không phải làm việc cho các ông ấy. Kể chức mình còn kém xa, nhưng trưởng ấn là đài quan, lệ được kiểm soát các việc trong bộ, phải vì triều đình mà giữ công pháp. Nếu mình làm quan dưới mà xiểm mỵ quan trên thời mất cả nhân cách. Nếu xiểm mỵ dẫn đến chóng được thăng bổ, nhưng đem lại cái nhục mà đổi lấy cái vinh thì trong lòng nghĩ cũng không sung sướng gì”.


Năm 1864, ông Bảng 36 tuổi nhận lệnh vua nhậm chức Án sát Quảng Yên, là nơi có giặc quấy nhiễu. Trước khi lên đường ra Bắc ông đến chào ông Nhiếp. Ông Nhiếp nói: “Thánh thượng tin ông có tài thao lược nên tôi với quan thượng bộ binh hiệp cử ông ra Quảng Yên. Ông đi chuyến này đánh đâu được đấy, lập công chỗ chiến trường chúng tôi cũng được tiếng”. Thực tình hai ông thượng thư muốn đẩy ông vào chỗ nguy khốn. Trước khi lên đường, ông tìm sách binh pháp đọc và đến gặp các quan võ để nhờ góp ý. Ông có nhiệm vụ hợp lực với Tiến sĩ tuần phủ Trương Quốc Dụng chống lại quan Tàu đến cướp phá từ ngoài biển tiến vào. Ông đề nghị ông Dụng không nên đóng đồn ở nơi ba mặt kề sông, nước thủy triều lên, lỡ ra thuyền địch lén vào đánh tập hậu thì ta gặp khó khăn. Quả nhiên giặc Tàu đem hơn 200 chiến thuyền đánh vào, hợp lực với giặc Thổ ở trên bộ kéo xuống. Quân ta thua, ông Trương Quốc Dụng chết trận. Sau đó ông bày mưu để cho thuyền giặc vào cướp phá, khi chúng kéo ra, ta đem phục binh ở mé sông Hải Yến đón đánh, bắt được hơn 40 thuyền giặc. Hai tháng sau, giặc kéo sang làng An Cố (huyện Thụy Anh- Thái Bình), ông khiến quân thừa cơ đón đánh bắt được hơn 60 thuyền giặc nữa. Ông bèn mở tiệc khao quân cho bõ lúc dầm mưa dãi nắng, gối gươm đội giáo bấy lâu. Ông tâu lên vua khen thưởng và trừng phạt. Đối với những kẻ can án cướp phá mà biết hối cải thì tha cho về và bắt lý dịch ký nhận quản cố.


Năm 1867, ông Bảng 39 tuổi, được thăng chức Bố chính Thanh Hóa. Tỉnh Thanh Hóa là nơi gần biển, chỗ nào cũng làm muối, ông tâu lên vua không nên đặt điếm để thu thuế muối ngay ở tỉnh, mà nên đặt ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn để thu thuế muối chở sang Vân Nam, Quảng Tây. Tổng đốc Tôn Thất Thuyết biết ông là người chính trực công liêm, trong tỉnh có việc gì cũng thường trao đổi với ông rồi mới quyết định, nhất là việc sử dụng người.


Trong lúc thảnh thơi ông thường đến thăm các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa. Lại được tin cha là cụ Mền Hòe được sắc phong “Hàn lâm viện thị giảng học sĩ”, ông lấy làm vui mừng, nhưng nghĩ làm sao trên vì nước, dưới vì dân cho được xứng đáng.


Vua muốn chiếu ông ra làm chánh khảo Hà Nội, nhưng tổng đốc tâu giữ ông lại vì tỉnh đang nhiều việc.


Năm 1868, ông Bảng 40 tuổi có lệnh vua đổi ra giữ chức Bố chính Tuyên Quang, nhân tỉnh này có giặc Mèo là Thế Hòa Đức mưu làm phản và giặc Ngô Côn từ Trung Quốc tràn sang. Đồng thời, tỉnh Sơn Tây tiếp giáp cũng có giặc Tàu và ngụy tướng tên Oai, tên Gạo quấy phá. Ông phải tuân lệnh theo ông Nguyễn Bá Nghi (tổng đốc hai tỉnh Sơn Tây, Tuyên Quang) đi tiễu. Ông Nghi ủy cho ông thảo tờ sớ tâu vua. Ông Nghi chủ ý chiêu dụ, ông Bảng nói chiêu dụ là thất sách. Lúc ấy quân Tàu kéo sang đóng ở Tuyên Quang và Sơn Tây cũng nhằm mục đích tiễu trừ giặc Côn, và đề nghị viện lương cho họ. Nhân đó, ông Nghi tâu lên vua là ông Bảng để quân Tàu nhịn đói. Nhưng thực tế không phải. Như vậy là giữa ông Bảng và ông Nghi có hiềm khích. Vua liền sai Tổng đốc Hà Nội là ông Vũ Trọng Bình đến Tuyên Quang xem xét. Ông Nghi bị cách chức, ông Bình được cử lên thay. Trong việc dụng binh giữa ông Bảng và ông Bình cũng có điều không nhất trí. Lại xảy ra hiềm khích giữa ông và ông Bình chỉ vì tính cương trực thẳng thắn của ông, thấy ý kiến của mình có lợi cho đất nước thì cứ bộc bạch, cho dù ý ấy có trái với ý quan trên.


Ông Bảng có sớ tâu lên vua, vua chuẩn y. Cuối cùng giặc Côn phải ra hàng. Tâu việc biên phòng nên đặt thổ quan là thượng sách, dùng người họ để trị họ thì dễ. Thổ quan am hiểu tình thế, thông thuộc đường lối, quen biết tình hình nên thường được thắng trận, như đời Lê, đời Trần thời trước cũng làm như vậy.


Năm 1869, ông Bảng 41 tuổi lại trở về làm Bố chính Thanh Hóa lần thứ hai. Thân hào trong tỉnh đến mừng ông, ông cảm ơn và khuyên: “Tôi mong các ông làm tiêu biểu cho dân, nên khuyên dân yên phận làm ăn, đừng kiện cáo thì tôi mừng”.


Ông giữ mực thanh liêm, không muốn làm phiền nhiễu dân, không ham rượu, thuốc phiện, cờ bạc, hát xướng. Nếu có khách đến chơi phải bày ra để giao thiệp thì tìm người khác đến tiếp thay mình. Lúc thư nhàn thường đi du ngoạn danh lam thắng cảnh như núi Hàm Rồng, sông Mã, hang Từ Thức, núi Bàn Kha, núi Lam Sơn, núi Tam Thái, núi Kim Sơn, động Hồ Công (thuộc huyện Vĩnh Lộc). Đến đâu ông cũng có thơ vịnh. Ông lưu ý tìm hiểu dấu tích nhà Lê và những danh nhân thời xưa đã đặt chân tới, đồng thời tìm hiểu về địa lý tỉnh Thanh Hóa.


Ông thường than thở với bạn bè nhất là ở Quảng Yên và Tuyên Quang, với tấm lòng trung thực của mình mà đề đạt hay tâu sớ chứ không có ý gì chống cự lại quan trên, nhưng xem ra các quan đại thần không bằng lòng. Nhân ở tỉnh Thanh ít việc, mà triều đình cũng không thiếu gì người, ông tâu sớ xin nghỉ về phụng dưỡng cha mẹ già. Vua phê:


“Nhà ngươi còn có em thứ thay mình phụng dưỡng, nên phải yên lòng làm việc, đừng phụ lòng quyến ái của trẫm”.


Tiếp đó có chiếu đổi ra làm Bố chính Hà Nội. Ông ra làm quan ở đó không được bao lâu lại đổi ra nhậm chức Bố chính Sơn Tây. Tỉnh này lúc đó có 5 phủ, 21 huyện, chức bố chính coi việc thuế ngạch, lương xướng rất là phiền phức.


Năm 1870, ông Bảng 42 tuổi, thăng tuần phủ Hưng Yên (Đời nhà Lê, các nước Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Nhật đến đây buôn bán, gọi là Phố Hiến). Lúc ấy, Hưng Yên bị vỡ đê, Tuần phủ Tôn Thất Đạt lộng quyền, tham nhũng dân ta oán than, lại có tên tú tài Vọng ở huyện Duyên Hà mưu khởi nghĩa. Ông Bảng được cử về đấy thay. Dân bị đói. Ông bàn với các quan bố chính, án sát, trích thóc kho phát chẩn cho dân. Hai ông bảo phải tâu với vua, đợi lệnh sẽ phát, ông Bảng nói:


 “Nếu đợi lệnh, dân đói gần chết đến nơi thì cứu vào đâu? Việc lấy thóc cứ lấy, tôi xin chịu một mình. Chỉ xin nhờ các ông nghĩ việc phát chẩn cho dân chu tất thời hay lắm”.


Sớ vào tâu, vua phê rằng:


“Có lẽ ngươi muốn có ân với dân nên mới thiện tiện như rứa. Nhưng đã rồi thời trẫm cũng bằng lòng. Từ nay không nên thiện tiện nữa”.


Quần thần có ông Nguyễn Thành có sớ xin bỏ đê. Ông tâu không nên bỏ. Phải đào nhiều sông để có nhiều cửa sông cho nước thoát ra biển được nhanh chóng; thường nạo vét cửa sông ngòi để tránh phù sa ngưng đọng. Cấm dân không bao đê tư nữa để nước chảy ra biển được nhanh chóng.


Sớ tấu của ông phân tích lý lẽ rất kỹ. Vua sai đình thần phúc duyệt. Để ngăn lũ lụt, vỡ đê, không thấy ông đề ra chống tệ phá rừng. Có lẽ thời đó dân số còn ít, có phá rừng không đáng là bao.


Năm 1872, ông Bảng 44 tuổi được cử làm Tuần phủ Hải Dương. Lúc ấy có J. Dupuis ra Bắc Kỳ xin thông thương. Ông tâu: “Pháp đã lấy được Nam Kỳ, có hòa ước 1862, không gì bằng Hải Dương, cửa Cấm Giang tàu bè tiện lợi thông buôn bán, ta mở hội buôn cửa Cấm, gửi thư cho các nước Thái Tây có ý thông thương. Tự mình phát thư thì mình làm chủ”. Sớ vào, vua không duyệt và phê: “Một nước còn giao thiệp không xong nữa là nhiều nước”.


Quả nhiên, quân Pháp đi đường thủy vào đánh chiếm Hải Dương. Quân ta chống cự dũng cảm nhưng lực lượng của ta quá mỏng, vũ khí thô sơ, súng thiếu, nên thành Hải Dương thất thủ. Thực tình thì quân ta bị đánh úp, hôm trước có mấy viên Tây vào thành nói: “Hà Nội và các tỉnh khác nước Tây đã đánh được rồi, còn tỉnh đây có bằng lòng để nước Pháp đóng quân không?”.


Ông Bảng trả lời: “Việc đó phải đợi lệnh triều đình”. Thế là chúng đánh ngay.


Năm 1874, ông 46 tuổi. Ông và các quan thất thủ phải về kinh hậu cứu. Nghĩ lại, những lúc đua chen trường ốc, nghị luận nơi gián đài, những lúc cuối nơi chiến trường, quả là gian truân. Thế mà ba lần ông là quan văn phải cầm quân đánh giặc. Trong những ngày tháng ở Huế, ông say mê đọc sách, biến thời gian nghĩ lan man sang nghiên cứu và suy ngẫm các vấn đề mà có thể viết thành tác phẩm.


Những lúc chỉ có một thầy một tớ, ở đất cố đô phồn hoa, ông cũng không mơ tưởng đến sắc tài.


C. Những năm khai hoang và nghỉ hưu


Năm 1876, ông Bảng 48 tuổi, có sắc ra Đồn Vàng (tức đồn Thục Luyện, tỉnh Hưng Hóa) theo quan đại thần Hoàng Kế Viêm khai hoang. Sở dĩ nhà vua không thể kết tội nặng hơn được là vì cùng lúc ấy các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình đều rơi vào tay quân Pháp. Nếu kết tội nặng các vị quan đầu tỉnh này thì sợ động đến các sĩ phu Bắc Kỳ. Ông tâu vua: “Kẻ hạ thần xin thề trước hoàng thượng rằng: “Hạ thần và con cháu không bao giờ chịu đầu hàng giặc Tây. Muốn đánh Tây và chống ngoại xâm thì củng cố quân ngũ, luyện tập thường xuyên, chuẩn bị lực lượng vũ khí cho tốt, dựa vào thế dân. Có thế thì mới mong đánh thắng giặc được”.


Ông thường trao đổi với ông Viêm về thời sự và công việc. Ông nói: “Ta nên khai hoang, mở mang thực nghiệp để mưu công ích sau này. Rừng vàng bể bạc ta có mà không biết cách dùng hay bỏ hoang, phó mặc cho người Mường, người Mán tự sinh tự dục với nhau, mà triều đình không khai hóa đến, để dân kém hèn, uổng phí biết bao! Vậy nay ta đã chiêu dân lên đây thời phải cấp lương, úy lạo họ, dạy họ vệ sinh, chữa thuốc cho dân yên lòng”.


Ông khai hoang ở Đồn Vàng xong thì mộ dân lên đồn Yến Mao khai phá.


Ngoài công việc khai hoang, ông Bảng chăm lo đọc sách nghiên cứu và bắt đầu viết theo những vấn đề đã nung nấu từ trước. Khi đi khai hoang ông đem theo hai bồ sách để đọc. Cũng như ở nơi khác, ông quan sát cách làm ăn, cách cấy lúa nếp, lúa lốc, lúa ngần, phong tục tập quán, chiêu mộ người dưới xuôi lên đó khai hoang cùng với dân tộc thiểu số làm ăn sinh sống, truyền đạt cho người dân tộc nếp sống, cách sinh nhai mới, thay đổi dần phong tục tập quán lạc hậu đi. Nếu tích cực làm thì có thể chừng ba bốn chục năm nữa họ có thể theo kịp phần nào miền xuôi.


Ở nơi đồn điền được hơn hai năm thì có chiếu đòi ông vào kinh.


Năm 1879, ông Bảng 51 tuổi xin cáo về hưu (lần thứ nhất) nuôi mẹ già, cùng với em trai là Đặng Ngọc Toản sớm khuya phụng dưỡng. Đương lúc ấy triều đình có lệnh giảng hòa với Pháp, có nhiều nhân sĩ không đồng tình, có người hỏi ông, ông trả lời:


 “Không phải mình chịu bó tay, giang sơn nước ta đành để cho người ngoài chiếm mất đâu! Thử hỏi binh khí của mình có mạnh không? Pháo đạn của mình có mạnh không? Tinh thần thể phách quân mình có đối địch với người ta được không? Dân tình thế nào? Nếu chuẩn bị mọi mặt được tốt thì mới có thể dấy binh được”.


Năm 1883, vua Tự Đức mất, có di chiếu dựng con nuôi là Dục Đức làm kế tự. Đại thần có ý phế lập, dựng Văn Lãng làm vua Kiến Nguyên Hiệp Hòa. Vua Hiệp Hòa bị phế, dựng vua Kiến Phúc. Không bao lâu vua Kiến Phúc mất.


Đình thần dựng vua Hàm Nghi lên thay. Lúc này quan thượng thư Tôn Thất Thuyết giữ binh quyền, sung chức thủ tướng, tâu vua xin dùng cựu thần, chiếu đòi ông lập tức vào kinh. Ông bèn cáo lão, vua không cho. Ông cố ý xin cáo và có sớ tâu.


Trong lần nghỉ hưu này ông để tâm nghiên cứu và tiếp tục viết sách. Trong nước thì rối ren. Tuy triều đình đã nhận nước Pháp là nước bảo hộ, nhưng nhiều nơi vẫn nổi lên chống lại Pháp.


Năm 1886, ông Bảng 58 tuổi, dưới thời vua Đồng Khánh, triều đình có ý phục chức cho ông. Quan phụ trách Phan Đình Phùng tâu vua cử ông ra nhận Đốc học Nam Định. Thân bằng cũng đều khuyên ông, thấy ông không ra không ổn, lại được gần nhà. Hồi đó triều đình còn trọng thi cử, học trò tới học ông cũng đông. Qua giảng kinh sách, ông kết hợp giảng giải cho họ những điều về trí dục, đức dục, luyện tập thân thể. Gặp khoa thi, đến kỳ sát hạch, ông bỏ cái lệ học trò nộp quyển phải mất tiền. Các quyển hạch giao cho các ông huấn đạo chấm sơ, sau quan đốc học chấm phúc. Có ông huấn khi chấm bài, quyển xấu cũng phê cho đỗ và đề nghị ông:


- Những tên học trò này vẫn học tôi, xin quan lớn rộng bút cho.


- Nếu cho học trò ông thi đỗ thì không hợp lệ lẽ công bằng.


Cũng có ông huấn chấm quyển không đáng ưu bình mà cho là ưu bình, hỏi ra thì ông ta muốn vòi chè lá học trò này. Ông Bảng nói:


- Bài nào không thông, cứ đánh hỏng, việc gì lại phê cho ưu bình. Thế thì nó làm văn dốt đã đành, người chấm văn lại dốt nữa sao?


Ông Bảng làm đốc học được hai năm, đại thần Nguyễn Hữu Độ tâu vua chiếu đòi ông vào kinh. Ông lại cáo lão không đi. Ông nói:


Cái vòng danh lợi cong cong


Kẻ mong ra khỏi, người mong bước vào,


Thôi thời cáo bộ làm cao.


Vinh bao nhiêu nhục bấy nhiêu đó mà.


Năm 1888, cụ Đặng Xuân Bảng vừa tròn 60 tuổi về nghỉ hưu lần thứ hai. Đây là thời gian thuận lợi để cụ nghiền ngẫm thêm và nghiên cứu hoàn thành nốt những tác phẩm mà cụ đã suy tư.


Cụ đọc các tác phẩm cổ kim đông tây qua sách dịch sang chữ Hán về nhiều lĩnh vực khác nhau, nhất là về lịch sử, nhưng không bao giờ quên đọc những tác phẩm của các bậc tiền bối để lại. Tất cả đều có sự nhận định và phê phán. Cụ nêu lên những khiếm khuyết của các sử gia (từ thời Hùng Vương trở lại đây). Do nước ta bị Bắc thuộc nhiều lần và nhiều năm nên khi nghiên cứu, có so sánh với các triều đại Trung Quốc. Cụ phân tích nguồn gốc dân tộc Việt Nam, đề cập đến cuộc sống của dân, lên án những hành vi đẩy dân vào cảnh khốn cùng “làm cho dân mệt mỏi”.


Trong khi sử nhà Nguyễn không công nhận Tây Sơn là một triều đại đã trị vì nước ta khoảng 15 năm (1788- 1802) thì cụ ghi nhận Tây Sơn là một triều đại (xem Việt sử cương mục tiết yếu).


Cụ phê phán phương hướng đào tạo thời đó chỉ chú trọng đến cử nghiệp, không chú trọng đến thực nghiệp, học Bắc sử mà không học Nam sử (tức là lịch sử Việt Nam).


Người Pháp sang xâm chiếm nước ta là kẻ thù của ta, nhưng ta nên tìm sách của họ mà đọc để học lấy điều hay của họ. Không những thế, cũng cần tìm đọc những sách của các nước Thái Tây khác.


Nhờ bạn bè và môn sinh giúp đỡ, cụ sưu tầm và mua sắm rất nhiều sách, thành lập tủ sách Hy Long mà người đời cho là tủ sách lớn nhất Bắc Kỳ.


Tiếc rằng gần 5 gian nhà sách, qua nhiều biến đổi, đã mai một gần hết.


Từ chỗ đọc sách có tính nghiên cứu, suy luận, kết hợp với quan sát thực tại, có ghi chép, cụ đã sáng tác ra nhiều tác phẩm về nhiều lĩnh vực khác nhau. Sau đó cho khắc bản in gỗ để in ra thành sách phổ biến.


Tại cuối giong số 7 Hành Thiện, hai anh em cụ đứng ra xây dựng một tòa nhà gọi là đền Văn Xương, làm nơi bình văn dạy học và kín đáo tuyên truyền tinh thần yêu nước chống ngoại xâm. Có nhiều môn sinh đến học. Nhiều người thi đậu tú tài, có người đậu cử nhân.


Cụ có những buổi thuyết trình về các vấn đề sau đây:


- Về giá thú, không nên tảo hôn, nên học các nước văn minh, nam nữ thanh niên 19- 20 tuổi mới lấy vợ lấy chồng để xây dựng nòi giống cho được mạnh khỏe, không nên thách cưới, cưới xin tốn kém.


- Về việc tế tự, thần không phải như người đời “tốt lễ dễ kêu”, “không nên đốt giấy vàng, giấy bạc, không nên cúng lễ rượu thịt. Nếu thần hưởng hết chắc không ai dám cúng lễ rượu thịt nữa”.


- Về việc đương cai, tức là lễ tế thần trong một năm trên dưới chiếu lượt, cụ đề xuất nên đơn giản đi, không nên bày ra xa xỉ như trước, mà đàn anh cũng không nên vin lệ cũ để bó buộc nhau, bày ra xôi thịt lễ tế thần.


- Về việc yến lão, việc mừng thọ là hay, nhưng không nên chè chén, không nên xa phí, tùy giàu nghèo mà làm.


- Về khao vọng, nên học các nước văn minh, ai được chức tước gì thì chỉ mời bạn hữu đến ăn mừng, làm tùy khả năng, chứ không làm lễ khao vọng gì trong xóm làng.


- Về thương mại, nên học các nước Âu châu thành lập hội buôn cho hàng hóa được thông thương tốt, có điều lệ hẳn hoi và nghiêm minh, không cho việc buôn bán là hèn, các bậc trí thức cần tham gia.


- Về công nghệ, nên học các nước Âu châu chế tạo ra máy móc, khai thác các mỏ khoáng sản, các mỏ than, đừng để lọt vào tay người nước ngoài. Cần phát triển thủ công mỹ nghệ cho tinh xảo, không những dùng trong nước mà còn để xuất cảng.


- Về hương ước, hợp nhiều thành nước, làng có hay thì nước mới hay. Hương ước đã qui định thì mọi người phải noi theo, đàn anh phải theo để làm gương cho dân theo.


Cụ động viên người thân quen và dân làng đi khai hoang bãi bồi Tiền Hải (Thái Bình) và Giao Thủy (Nam Định). Nhờ đó mà có hàng trăm mẫu, lập thành làng ấp mới cho dân di cư tới đó sinh sống.


Riêng cụ, xin khẩn hoang bãi bồi ven sông Hồng thuộc xã Văn Lâm (Vũ Tiên, Thái Bình). Nhờ vốn hiểu biết về địa lý, quy luật bồi đắp ven sông, thấy rằng bãi bồi đó còn có thể bồi đắp rộng thêm. Quả nhiên sau dăm chục năm, bãi bồi đã rộng thêm gần gấp đôi, lên tới gần 200 mẫu. Bãi bồi đó có tên là thôn Tả Hành (nay thuộc xã Duy Nhất, Vũ Thư, Thái Bình). Cụ lập luận: “Ta làm quan nên nghèo. Bãi này để cho con cháu làm nơi sinh sống và lao động”. Khi phân chia đất đai thì mỗi hộ có thổ cư bằng nhau, còn số ruộng thì ai có công nhiều được hưởng nhiều.


Những đêm nào trời quang, cụ thường trèo lên nóc nhà để ngắm sao, làm nhiệm vụ một nhà thiên văn học ở thời đó.


Trong thời gian nghỉ hưu, có lần làm tiên chỉ xã, làm tư vấn hàng huyện, cụ có những buổi diễn thuyết về cải cách nông thôn. Theo truyền thống lúa nước của dân tộc ta, xây dựng tính cộng đồng của xóm làng, quan hệ huyết thống họ hàng “chim có tổ, người có tông”, cụ nghiên cứu sự hình thành làng Hành Thiện, sưu tầm tài liệu bổ ích cho gia phả Đặng đại tôn ở làng.


Những suy nghĩ và việc làm nói trên chứng tỏ đối với cụ cái gì là truyền thống tốt đẹp thì lưu giữ, những tục lệ xem ra có phần lạc hậu thì phải sửa đổi. Thì ra học trò của cửa Khổng sân Trình cũng có vị không bảo thủ.


Về cuộc sống riêng tư, cụ Bảng ăn mặc giản dị, đúng là một lão nơi thôn dã, áo dài thâm, khăn vành rế. Khi giao thiệp, cụ giữ mực khiêm tốn, không muốn người ta gọi mình là quan nghè.


Những lúc thư nhàn, cụ trồng hoa, cây cảnh, say sưa về thú chơi và thả diều. Có lẽ nghệ thuật chơi diều đã thâm nhập vào cụ từ những năm tháng sống ở Huế.


                       


Bảng biên niên


  Năm        Tuổi


1828                   sinh        Triều vua Minh Mệnh


1910          mất         Triều vua Duy Tân


1840          12           Đã biết văn bài và ứng đối


1846          18           Đỗ tú tài


1848          20           Đỗ tú tài lần thứ 2


1850          22           Đỗ cử nhân


1852          24           Giáo thụ phủ Ninh Giang (Hải Dương)


1856          28           Đỗ tiến sĩ


1857          29           Bí thư văn phòng nội các, hiệu     


                               đính “Nhân sự kim giám” Quyền


                               tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa)


  1860       32           Tri phủ Yên Bình (Tuyên Quang)


  1861       33           Giám sát ngự sử (Huế)


  1863       35           Trưởng ấn lại khoa (Huế)


  1864       36           Án sát Quảng Yên


  1867       39           Bố chính Thanh Hóa


  1868       40           Bố chính Tuyên Quang


  1869       41           Bố chính Thanh Hóa (lần thứ II)


   -             -            Bố chính Hà Nội


   -             -            Bố chính Sơn Tây


  1870       42           Tuần phủ Hưng Yên


  1872       44           Tuần phủ Hải Dương


  1874       46           Vào kinh đái tội (vì để thất thủ Hải Dương)


  1876       48           khẩn hoang ở Đồn Vàng (đồn Thục Luyện,                                       tỉnh Hưng Hóa), đọc và viết sách


  1879       51           Cáo về nghỉ hưu lần thứ I, đọc và viết sách


  1886       58           Đốc học Nam Định – dạy học


  1888       60           Nghỉ hưu lần thứ II- vui thú điền viên,


                               đọc và viết sách


  1890       62           Đọc và viết sách, quan tâm đền


                               thờ cúng thần thánh, tổ tiên


  1892       64           Cải lương hương ước, làm tiên chỉ Xã,


                               làm tư vấn hàng huyện, đọc và viết sách


  1895       67           Mở trường dạy học, in sách


  1908       80           Viết bài ca Huấn tục gửi con cháu


(còn tiếp)


Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info








[1] Năm 1400, nhà Trần bị nhà Hồ phế truất, một số quí tộc nhà Trần mưu chống lại, bị tàn sát phải đổi họ Trần ra họ Đông. Vào cuối thế kỷ 15 sang thế kỷ 16 nhà Hậu Lê suy thoái, có người nhà Trần nổi lên chống lại, người họ Trần lại bị truy nã, phải đổi họ Trần ra họ Đặng.




[2] Xem “Hành Thiện làng văn hóa đồng bằng sông Hồng”, GS Đặng Đức An, Hà Nội, 2007.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »