Không có mấy nhân vật lịch sử sau cả một thế kỷ trôi qua mà con người và sự nghiệp vẫn còn rõ ràng và hiển hiện như cụ Đặng Xuân Bảng. Bên cạnh những tác phẩm để lại cho đời đã in dậm dấu chân cụ ở Huế, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Quảng Yên, Hải Dương, Hà Nội và khắp mọi miền đất nước, đã đột khởi thăng hoa ở Đồn Vàng nơi cụ biến những năm tháng bị đày ải thành cơ hội chuyên tâm khảo cứu sách vở, đã lắng kết lại ở quê hương với cả một biển sách trong thư viện Hy Long, với lớp lớp học trò rợp bóng sân trường và những tháng ngày mải mê trước tác… còn có không ít các nguồn tài liệu khác.
Châu bản triều Tự Đức lưu trữ được ít nhất cũng với tới 36 văn bản gồm các loại dụ, tấu, tư, phúc của Nội các và các bộ Lại, Lễ, Hộ, Binh do cụ soạn thảo hay nói về cụ hoặc có liên quan đến cụ.
Vì công lao trời biển của cụ đối với địa phương mà cụ đã được dân làng Tả Hành (thuộc Vũ Thư, Thái Bình) thờ làm Thành hoàng. Ngã ba Xuân Bảng ở địa đầu của thị trấn Xuân Trường chính là được đặt theo tên cụ. Hình ảnh cụ Bảng đã khắc đậm vào ký ức dân gian, thành huyền thoại, thành thơ ca, thành niềm tự hào của mỗi người dân dịa phương.
Cụ Đặng Xuân Bảng có lẽ cũng là trường hợp hiếm hoi ở Việt Nam được khảo cứu và đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp dưới góc độ học thuật từ rất sớm. Năm 1897, khi cụ bắt đầu bước sang tuổi cổ lai hy thì con rể của cụ là Nguyễn Xuân Chức biên soạn cuốn sách Hành Thiện Đặng công hành trạng nói về công danh, sự nghiệp và các tác phẩm của cụ. Năm 1925, sau khi cụ qua đời 15 năm, con trai cụ là Đặng Xuân Viện (lấy bút danh Đặng Nguyên Khu) đã hoàn thành cuốn sách Hy Long di thặng gồm 23 hồi, bắt đầu, “từ thuở nhỏ hàn vi” và kết thúc khi “lâm chung di chúc”, đã kể lại đầy đủ và khá chi tiết lịch sử một con người trải qua 8 triều vua nhà Nguyễn, cả thọ, cả danh, cả phúc đều trọn vẹn và đã để lại một tấm gương đạo đức cao thượng cho thiên hạ cùng soi.
Kính thưa toàn thể quý vị,
Năm 2008, kỷ niệm trọn 180 năm năm sinh của cụ, cũng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, thành phố Hà Nội đã quyết định đặt tên đường phố Đặng Xuân Bảng tại khu đô thị mới Linh Đàm, quận Hoàng Mai, vinh danh cụ, một danh nhân Văn hóa lớn Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Ngày hôm nay, kỷ niệm tròn 100 năm ngày mất của cụ, tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, nơi hội tụ nguyên khí quốc gia gần một thiên niên kỷ, Hội Sử học Hà Nội, Trung tâm Văn hóa khoa học Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa – thành cổ Hà Nội và Ban Đại diện dòng họ Đặng Xuân phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Đặng Xuân Bảng (1828- 1910): Con người và sự nghiệp” bước đầu tập hợp giới thiệu những tư liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu mới. Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian chuẩn bị quá gấp gáp và do chưa có điều kiện đầu tư nghiên cứu cơ bản, nên một số báo cáo mới còn đang ở dạng phác thảo, một số lĩnh vực hoạt động và đóng góp của cụ chưa được đề cập đến. Chúng tôi trông đợi các ý kiến bổ sung để hoàn chỉnh các báo cáo trước khi xuất bản chính thức tập Kỷ yếu và hoàn chỉnh quá trình chuẩn bị cho một kế hoạch xuất bản Toàn tập Đặng Xuân Bảng trong tương lai.
Trên tinh thấn “uống nước nhớ nguồn”,“ôn cố tri tân”, thay mặt cho Ban Tổ chức, tôi xin được tuyên bố khai mạc Hội thảo khoa học “Đặng Xuân Bảng (1828- 1910): Con người và sự nghiệp”.
Chúc Hội thảo khoa học của chúng ta thành công tốt đẹp.
Kính chúc các vị khách quý, các nhà khoa học và các vị đại biểu tham dự Hội thảo cùng toàn thể gia đình một năm mới an khang và hạnh phúc.
Chúng tôi xin trân trọng cám ơn!
II. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ CỤ ĐẶNG XUÂN BẢNG TRONG CUỘC HỘI THẢO CỦA CHÚNG TA HÔM NAY
GS.AHLĐ Vũ Khiêu
Hôm nay, Hội Sử học Hà Nội phối hợp với các cơ quan văn hóa, khoa học và gia đình tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày mất của cụ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng.
Một trăm năm đã qua từ ngày cụ qua đời. Một trăm năm đã phủ những bụi mờ trên cuộc đời và sự nghiệp của cụ. Cũng gần 100 năm, ông Đặng Nguyên Khu đã viết về cụ qua nhiều bài trên báo Nam Phong. Những bài nghiên cứu công phu ấy dù là in thành sách vẫn chưa đủ để nói về cụ một cách toàn diện và sâu sắc.
Cuộc hội thảo hôm nay sẽ bước đầu trả lại cho cụ Đặng Xuân Bảng một phần nào những giá trị đích thực của cụ, đồng thời nêu lên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Tôi nghĩ rằng sau đây cần có một công trình khoa học cấp Nhà nước được giao cho một tập thể, sẵn sàng dành công phu và tâm huyết, có đủ thời gian và kinh phí để nghiên cứu về cụ.
Hôm nay, các nhà khoa học từ nhiều góc nhìn khác nhau bước đầu đi sâu vào nhiều khía cạnh phong phú trong cuộc đời và sự nghiệp của cụ. Các tác giả đã dày công khai thác từ sách báo và tư liệu trong các thư viện, từ những di tích của cụ còn lại trên quê hương cụ, từ những hồi ký, hồi ức, những mẩu chuyện về cụ do con cháu và đồng hương cụ cung cấp.
Một bức tranh phác thảo gồm những nét lớn về thân thế và sự nghiệp của cụ Đặng Xuân Bảng có thể được hình thành từ trong cuộc hội thảo hôm nay. Việc phân tích về hoàn cảnh lịch sử, xã hội đương thời của cụ Đặng Xuân Bảng sẽ làm rõ thêm những thành tích và cả những hạn chế của cụ trong cuộc đời.
Hội thảo sẽ phân tích về tác động của truyền thống quê hương, dòng họ và gia đình đã ảnh hưởng như thế nào đến mọi suy tư và hành vi của cụ. Các bài tham luận sẽ từ nhiều góc độ khác nhau: sử học, xã hội học, triết học, văn học đi sâu vào từng khía cạnh khác nhau trong cuộc đời và cống hiến của cụ. Cụ là một nhà trí thức uyên bác. Cụ là một ông quan thanh liêm và cần mẫn. Cụ là một nhà chính trị mà những tư tưởng sáng tạo trùm lên cả mọi lĩnh vực kinh tế và quân sự, tư tưởng và văn hóa.
Tôi tin rằng với sự phối hợp hài hòa giữa cá nhân và tập thể trong cuộc hội thảo này sẽ đạt được mục đích khiêm tốn mà nó tự đặt ra cho mình: hội thảo là sự mở đầu cho một đợt nghiên cứu mới về một nhân vật lịch sử chưa được đánh giá đầy đủ. Đó là cụ Đặng Xuân Bảng, một trí thức lỗi lạc trong một thời kỳ khó khăn và đen tối của đất nước.
III. NHỮNG BÀI THAM LUẬN TRONG HỘI THẢO KHOA HỌC – 243 TRANG
1 Vấn đề nghiên cứu về cụ Đặng Xuân Bảng trong cuộc hội thảo của chúng ta hôm nay
GS.AHLĐ. Vũ Khiêu
2 Khai mạc và đề dẫn hội thảo khoa học Đặng Xuân Bảng (1828- 1910): con người và sự nghiệp
GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc
3 Cuộc đời và sự nghiệp nhà nho Đặng Xuân Bảng (1828- 1910)
NGND. Đặng Xuân Đĩnh
4 Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng – vị học giả uyên bác, nhà sử học xuất sắc của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
PGS.TS Nguyễn Minh Tường
5 Đặng Xuân Bảng (1828- 1910) nhà sử học lớn thời cận đại
PGS.TS. Chương Thâu
6 Đặng Xuân Bảng- nhà sử học lớn cuối thế kỷ XIX
PGS.TS. Tạ Ngọc Liễu
7 Sử quan và phương pháp làm sử của Đặng Xuân Bảng- tiếp cận từ các lời bình trong Việt sử cương mục tiết yếu
ThS. Vũ Đường Luân
PGS.TS. Vũ Văn Quân
8 Quan điểm sử học tiến bộ của Đặng Xuân Bảng qua bộ Việt sử cương mục tiết yếu
TS. Nguyễn Hữu Tâm
9 Những đóng góp của Đặng Xuân Bảng về quan chế qua sách Sử học bị khảo
TS. Đặng Kim Ngọc
10 Đặng Xuân Bảng: cuộc đời và sự nghiệp qua thơ văn
GS.AHLĐ. Vũ Khiêu
11 Về những bài ký của Đặng Xuân Bảng trong tác phẩm Thiện đình văn chương
PGS.TS. Phạm Thị Thùy Vinh
12 Danh nhân Đặng Xuân Bảng từ mẫu người cận đại đến mẫu người hiện đại
PGS.TS. Đặng Việt Bích
13 Vài nét về quan điểm giáo dục của Đặng Xuân Bảng
ThS. Đỗ Danh Huấn
14 Đặng Xuân Bảng với giáo dục gia đình
TS. Đặng Thị Vân Chi
15 Đôi điều thu hoạch từ Cổ nhân hạnh lục của Đặng Xuân Bảng về giáo dục gia đình
PGS.TSKH. Nguyễn Hải Kế
CN. Vũ Thị Minh Nguyệt
16 Tác phẩm chữ Hán chữ Nôm của Đặng Xuân Bảng: Văn bản và dịch thuật
PGS.TS. Đinh Khắc Thuân
17 Tuyên Quang tỉnh phú –một chuẩn mực về nghiên cứu địa phương của Đặng Xuân Bảng
TS. Nguyễn Đức Nhuệ
18 Tìm hiểu giá trị khoa học trong tác phẩn Nam phương danh vật bị khảo của Đặng Xuân Bảng
PGS.TS. Nguyễn Tá Nhí
19 Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1828- 1910) và vùng đất Nam Hành Thiện
TS. Nguyễn Xuân Năm
20 Về một chi họ Đặng ở xã Yên Mỹ (Hà Nội)
PGS.TS Trần Thị Vinh
21 Thư mục Đặng Xuân Bảng
Đặng Xuân Phi
CN Nguyễn Quang Hà
Chương III NHÀ NHO NGUYỄN ĐỨC BAN- ÔNG NGOẠI TÔI (1845 - 1915)
Ông là con trai cụ Nguyễn Văn Hiệu cũng là nhà nho rất hiếu học, đi thi một lần không đậu, từ đó không dự thi nữa, mở trường dạy học, có nhiều trò hiển đạt.
Họ Nguyễn ông tôi là họ đông dân nhất làng đã hơn 400 năm nay. Nhiều người đậu cử nhân tú tài, là tấm gương sáng cho hậu thế. Xin kể ra đây mấy vị nổi danh: cụ Nguyễn Như Bổng trong suốt 40 năm dự tới 15 khoa thi Hương, hai lần đậu tú tài, đến năm 60 tuổi mới đậu cử nhân. Cụ Nguyễn Đăng Thiện 17 tuổi đậu tú tài, những khoa sau đậu thêm 6 lần nữa, năm 60 tuổi mới đậu cử nhân. Trong họ còn nổi danh những thần đồng như Nguyễn Đình Tông 15 tuổi, Nguyễn Đăng Quy 16 tuổi đậu tú tài, Nguyễn Bá Thống 17 tuổi đậu cử nhân. Truyền thống được duy trì sang thời Tây học cho tới ngày nay. Mấy gia đình khá giả cho con sang Pháp du học đậu cử nhân, kỹ sư, bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ (có đến 6 người). Sau cách mạng tháng 8- 1945 tinh thần hiếu học vẫn được duy trì, cha mẹ nghèo tình nguyện lên thành phố lao động đơn giản, buôn bán vặt, thu gom kim loại... nuôi con ăn học, anh em dìu dắt nhau học. Nhiều người tham gia công tác trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nghệ thuật, báo chí, sử học, triết học, giáo dục đào tạo, chính trị, quân sự, kinh tế, thương mại.
Cũng theo truyền thống đó, ông ngoại tôi và người em là Nguyễn Ngọc Liên không có điều kiện tìm thầy học ở xa mà ở nhà tự học cha. Dù nghèo thiếu ăn thiếu mặc, chưa từng lấy cảnh ngộ gian truân mà chán nản việc học. Năm 29 tuổi, ông ngoại tôi đậu tú tài, khoa sau lại đậu tú tài. Năm 1886 hai anh em ông đậu cử nhân, tiếp khoa sau 1889 ông em đậu tiến sĩ.
Sau khi đậu cử nhân, ông tôi nhậm chức Huấn đạo huyện Văn Giang (Bắc Ninh). Hồi đó huyện này xảy ra trộm cướp, viên bang tá đi tiễu phỉ có ý nhân đó mưu cầu công danh, ông ngậm ngùi: “Giết người để tâng bốc quan trên cầu lợi lộc thì ta xin chịu”. Ông nhận thấy trong ngạch quan trường đầy rẫy những sự việc kèn cựa chèn ép xu nịnh, không thấy có gì là hứng thú. Được vài năm, ông xin từ chức về mở trường dạy học. Năm 51 tuổi, ông dạy học ở Trực Ninh (Nam Định) và các nơi khác, nhiều người đậu tú tài. Nghe tin ông qua đời (1915) môn sinh về chịu tang thầy, đóng góp tiền hoàn thành ngôi nhà gạch, sau trở thành ngôi nhà thờ họ ngành cụ Nguyễn Văn Hiệu. Ông để tâm nghiên cứu y học ngay khi còn làm huấn đạo và bắt đầu chữa bệnh từ đó. Trước khi kê đơn ông lưu tâm quan sát bệnh nhân. Ông sưu tầm các bài thuốc trong dân gian, chữa bệnh bằng chất liệu thực vật, động vật, nếu cần mới sử dụng các vị thuốc bắc. Con trai cả ông là Nguyễn Tất Tái, tức Cử Kép không ra làm quan mà theo hướng của cha làm nghề y chữa bệnh cứu người, trở thành danh y đầu thế kỷ 20. Ông Cử Kép truyền nghề cho con trai thứ ba là Nguyễn Tư Phấn (tức Chu Sĩ) cũng trở thành danh y chữa bệnh cho đến cuối đời (1982). Thế là ba đời con cháu ông tôi làm nghề y.
Ông ngoại tôi là người thuần hậu, phong cách ung dung, tiếp khách chân thành, đối xử với người trong họ ngoài làng bao giờ cũng khiêm nhường. Tuy ông qua đời trước khi tôi chào đời, nhưng qua những mẩu chuyện mẹ tôi kể về ông, qua sự quan sát lối sống phong cách của con cháu ông, dường như có chịu ảnh hưởng từ ông tôi.
Ông ngoại tôi có hai bà, tổng số 10 con. Bà cả là Đặng Thị Nga (1850- 1924). Mẹ tôi là con thứ tư. Bà ngoại tôi hiền hậu, ăn ở mẫu mực, có khả năng đoàn kết con cháu. Những kỷ niệm về bà, tôi vẫn còn nhớ cho dù chỉ được tiếp cận đôi lần đang tuổi nhi đồng. Nhà nghèo đông anh em, nhưng trên dưới hoà thuận là nhờ tấm gương sáng của bà, một phần do cách xử thế của các anh các chị con bà cả. Trong 6 con trai ông tôi thì 3 người theo nghề y, những người khác làm nông nghiệp, buôn bán vặt hay làm nghề xay xát gạo ở Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá), Đại Từ (Thái Nguyên). Do hoàn cảnh kinh tế ở quê eo hẹp, ông ngoại tôi cùng người làng xuống Hải Hậu (Nam Định) tổ chức khai hoang bãi bồi trồng lúa lập thành ấp Trùng Quang. Để ghi nhớ công ơn ông, dân ấp quyết định lập bàn thờ ông ở miếu làng. Do sức người có hạn, lại đông con nên số ruộng ông tôi khai phá không được nhiều để chia cho các con. Đến khi tôi trưởng thành, chỉ thấy có một người cậu trụ ở ấp sinh sống, còn các anh chị em mẹ tôi đều bán hết ruộng. Từ đó tôi không được xuống Trùng Quang để thấy cánh đồng dạt dào lúa vàng, được phóng tầm mắt ra tận biển khơi, được ăn ngao sò ốc hến vừa ngon vừa rẻ.
Cha tôi đến tuổi trưởng thành, ông nội tôi quyết định hỏi mẹ tôi cho cha tôi.
Ông nội thuyết phục:
- Con bằng lòng hỏi con gái ông Huấn đi. Thầy tìm hiểu kỹ rồi, nó nết na giỏi giang lắm. Cái nết đánh chết cái đẹp. Gia đình dòng dõi nề nếp, ông bà ấy hiền lành phúc hậu, đông con nhưng trên thuận dưới hòa, chọn người có đức chứ chọn chi người có của.
Nhân ông ngoại tôi 60 tuổi, ông nội tôi mừng thọ câu đối có ý nghĩa sau:
Về quan em đủ vui lòng mẹ
Lĩnh giải con hay nối nghiệp nhà.
***
Ông bà yêu quý của cháu ơi!
Trong hoàn cảnh công tác cách mạng và cuộc sống mỗi người mỗi ngả, chúng cháu nhớ đến quê nhà là nhớ đến xóm 10 Hành Thiện nơi có nhà thờ họ mà xưa kia ông bà đã từng sinh sống. Yên giấc ngủ ngàn thu trong một trăm năm nay, ông bà đã để lại cho đời, cho chúng cháu gương sáng về đạo đức nhân cách làm người. Cho dù vật đổi sao dời điều đó cũng không đổi.
Tài liệu tham khảo:
Tiểu sử các bậc tiền bối Hành Thiện, tác giả Đặng Xuân Viện, 1933.
Ghi chú:
Tôi muốn viết về ông bà ngoại tôi nhiều hơn nữa, tiếc vì không có tư liệu, nhiều anh chị lớn tuổi hơn tôi không còn nữa.
Tháng 01- 2008
CHƯƠNG IV NHỚ VỀ CHA MẸ TÔI
Năm 1948, tôi đang ngồi làm việc tại nhà sản xuất Cục Quân giới thì thủ trưởng gọi lên, cử đi công tác Khu IV. Mừng vì hai lẽ: có dịp được ăn tươi trên đường đi, cho bõ những ngày ăn độc món sắn khoai cõng cơm và canh khoai sắn nấu mắm tôm, và may ra có dịp về thăm cha mẹ, vợ con!
Cơ quan tôi đóng quân bên trên Chợ Mới (Bắc Cạn) bên kia sông Cầu trong rừng heo hút những cây sấu thân to một người ôm không xuể, xa xa mới có thôn bản nên ít khi gặp được bà con có già có trẻ nhưng phù hợp với ý đồ của thủ trưởng có tiếng cẩn thận trong hoàn cảnh chiến tranh, máy bay “bà già” của thực dân Pháp luôn luôn quần đảo trên đầu để phát hiện ra cơ quan của ta rồi gọi cho máy bay khác đến ném bom. Ông lại có tiếng lo xa cho mấy cậu thanh niên chưa vợ ưng hát hỏng nhảy múa “sòn lá son”, qua đó làm quen với mấy cô gái địa phương rồi sinh chuyện. Vì thế ông được mệnh danh là “kiến gió”.
Sáng hôm đó, tôi dậy sớm qua đò sang sông chẳng thèm xuống bếp xin suất sắn ăn sáng. Ước mơ to lớn may ra gặp dịp được về quê coi như cán bộ “quất ngựa tiên phong nước mã hồi”. Đúng thế, đôi chân tôi dẻo dai lắm, cũng may mới chỉnh huấn xong, nếu không thì chuyện hí hửng nhớ nhà này sẽ bị kiểm điểm “tư tưởng cá nhân còn nặng, chỉ nghĩ đến cha mẹ, vợ con mà không nghĩ đến công tác cách mạng dưới xuôi đang chờ”. Tôi rảo bước về Đại Từ, qua Đèo Khế đến bến Bình Ca. Bình thường chỉ đi được 30 km/ngày thế mà mấy ngày đó tôi đi được 40km/ngày.
Cha mẹ có biết con đang nghĩ gì trên đường dài về xuôi này không? Con nghĩ về quê nhà, sẽ được qua bến đò Ba Bò hay đò Xa Cao đi một quãng lên đê Cái Quan nhìn thấy chùa Keo làng, rồi đến hai cây gạo đầu làng cao vút, cao bằng nhà 5- 6 tầng. Xóm 7 đây rồi, nhà ta đây rồi. Từ ngày kháng chiến toàn quốc tôi vào Quân giới ngay rồi đi luôn lên Việt Bắc cho đến lúc đó đã gần 4 năm không được gặp cha mẹ.
Đến Phú Thọ tôi theo đường dây vượt qua đường số 6 gần bốt địch được an toàn, cả đoàn lên mừng. Thế là về đến miền xuôi, đang đi trên đất Hà Nam mà lòng bồi hồi nghĩ đến quê hương Hành Thiện. Tôi hỏi dò đường về quê, bà con cho tôi biết phải vượt qua sông Hồng sang đất Thái Bình. Nghe nói bên đó có chỗ bị địch chiếm đóng rồi. Thế thì diệu vợi quá chừng mà không an toàn. Nếu mạo hiểm bị lọt vào tay địch, rầy rà to. Tôi bỏ ý định về quê, tìm đường qua Gián Khẩu về đất Ninh Bình tới Bỉm Sơn để vào Thanh Hóa đi Nghệ An nơi có các xưởng quân giới. Giữa đường gặp anh Đương, cách đây ít tháng anh làm tại Văn phòng Quân giới, nay xin thôi việc vào khu IV học tiếp Trung học kháng chiến. Anh ta báo tin nghe nói cha mẹ tôi đã tản cư vào Thanh rồi. Muốn biết cụ thể, đến hỏi bà Thọ ở Hậu Lộc. Tôi rảo bước về Bỉm Sơn nơi có suối nước trong với một đàn cá chép to bằng cổ tay đang lững lờ bơi, có thể dễ dàng thò tay xuống tóm lấy nó, nhưng dân bảo nhà chùa nuôi thả coi như “cá thần”. Ngôi chùa bám vào sườn núi bên bờ suối. Phía trong là rừng, thấp thoáng có bóng hươu nai. Vào lúc xế chiều phong cảnh thật tuyệt. Nếu thường ngày tôi sẽ dừng chân ở đấy để chiêm ngưỡng cái cảnh pha trộn giữa miền xuôi và miền ngược ngay tại vùng đồng bằng này. Xin hẹn dịp khác.
Gắng đi thêm mươi cây số nữa, hướng về Thạch Thành một địa danh làm tôi nhớ đến mấy câu thơ mới đăng tải cách đó không lâu:
Hôm qua mưa gió Thạch Thành
Dừng chân đứng lại tiễn anh qua đời
Tình trai chỉ có thế thôi
Sống thời giết giặc chết thời chôn nhau.
Trên đường đi mấy câu thơ này có tác dụng kéo tôi về thực tại của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ trên khắp đất nước ta, chỗ nào địch cũng có thể trút bom xuống được. Hôm sau tôi đến Rừng Thông, một thị trấn vùng tự do buôn bán sầm uất. Có đủ mặt hàng từ vùng tạm chiếm đem ra: cao cấp là máy nổ chạy xăng, chạy điện vài ba kw, cái xe đạp Peugeot, len vải, quần áo may sẵn, cây bút máy Oerêvơ, bút bi “nguyên tử”. Chả lẽ tay không về thăm nhà, nhân có bọc chè Phú Thọ, tôi mua thêm chai rượu “quốc lủi” ngon về làm quà, mua cho con vài chục chiếc kẹo bột. Thế là tươm tất rồi.
Còn chừng 30 km theo đường sông Máng về chợ Xim (huyện Nông Cống), hỏi vào nhà cố Đủ (theo đúng chỉ dẫn của bà Thọ), là nơi cha mẹ tôi tản cư đến ở nhờ. Chiều về tới nhà, cả nhà mừng khôn xiết, không ngờ có cuộc hội ngộ này, bởi lẽ tôi được về thăm nhà là điều ngoài ước mong. Bước chân tới cổng, vợ con tôi trông thấy reo hò, ùa ra đỡ lấy balô. Vào nhà tôi chào mọi người, chào cố Đủ.
Nghỉ ở nhà một tuần, tôi được tận hưởng sự săn sóc của cha mẹ, vợ con. Bị cảm sốt cha tôi sang hàng xóm xin lá tía tô, kinh giới đun được nồi nước xông và uống một bát. Thế là khỏi. Chiều đến mẹ tôi nhờ bà hàng xóm nói với cố Đủ cho vợ chồng tôi được cố coi như con trong nhà. Tưởng cố giữ kẽ kiêng khem, cố nói:
- Tôi dành riêng cho anh chị ấy cái chái phía đông đó, vợ chồng họ khác chi vợ chồng thằng Cả nhà tôi.
Bữa cơm chiều cả nhà được ăn tươi, suất ăn mỗi người có thêm một quả trứng tráng. Cha tôi vui, rót rượu mời cả nhà, vừa uống vừa ngâm thơ và phán:
- Cả nhà này vợ chồng thằng Hai vất vả nhất. Vợ nó nghĩ đến thầy mẹ tản cư vào đây chứ không theo chồng lên Việt Bắc, chúng nó cứ xa nhau mãi.
Phỏng theo ca dao, cha tôi liền đọc hai câu:
Anh về thăm xóm thăm quê
Thăm cha thăm mẹ cùng là thăm em.
Ông viết vào mảnh giấy đưa cho vợ tôi:
- Thầy cho con hai câu thơ này, đời con vất vả quá.
Hai giọt nước mắt từ từ chảy xuống gò má vợ tôi. Mẹ tôi tâm sự với bà con hàng xóm:
- Mẹ con cu Chiêu tản cư đi đâu tôi đi theo đấy, quen ở với mẹ nó rồi.
Những tình cảm của cha mẹ dành cho chúng tôi làm tôi mủi lòng.
A - NHỚ VỀ CHA TÔI
NHÀ NHO ĐẶNG XUÂN VIỆN (1880 – 1958)
Cha tôi Đặng Xuân Viện (tức Bốn Đễ, 1880 – 1958 là con thứ tư của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, vì tránh tên huý nên gọi là Bốn). Theo gót ông tôi, cha tôi chăm lo học từ tuổi thiếu thời, không những thông thạo “ngũ kinh tứ thư” mà còn biết chữ quốc ngữ. Ngoài 20 tuổi có đi thi một lần nhưng không đỗ do phạm quy chữ xấu. Sau đó còn khoa thi nhưng cha tôi biết rằng có thi cũng không đậu nên ngừng. Ông ra làm thừa phái (thư ký văn phòng) ở Hưng Yên, vì một lý do phạm thượng nên bị đổi lên Chợ Bờ (Hoà Bình), tổng cộng được 4 năm thì xin nghỉ; cha tôi xoay sang nghiên cứu văn học, sử học, ngôn ngữ học, viết bài cho các báo.
Tính ông cương trực, khẳng khái. Có người bảo ông gàn. Ông không chịu bỏ búi tóc. Những năm cuối đời tóc rụng gần hết mới thôi. Ông sưu tầm phương ngôn tục ngữ có tính giáo dục và răn đời, sắp xếp có hệ thống và viết thành sách có lời bình, lấy tên là “Nói có sách” và bỏ tiền ra in. Tôi gợi ý:
- Thầy in ra thì bán cho ai?
- Biết vậy, thầy in cho đời sau.
Ông là cây bút chính trong nhóm “Nam Việt đồng thiện hội” biên soạn bộ Minh Đô sử gồm 100 quyển. Ông có 22 bài và tác phẩm đăng tải trên các báo Nam phong, Ngọ báo, Trung Bắc tân văn. Ông đề cao văn học dân gian qua ca dao, phong dao, hò vè. Về loại này ông xuất bản tập “Nói có sách” và tập “Tổ quốc phong thi” .
Năm 1928, ông thi thơ do báo Đông Pháp tổ chức được giải nhất một bức hoành phi có ba chữ “Ngọc kỳ âm” (tiếng nói trong như ngọc) và giải nhì một đôi câu đối, cả hai đều sơn son thiếp vàng. Cha tôi để lại cho đời 12 tác phẩm, chủ yếu về sử học và một số bài thơ. Thơ ông theo dòng đề cao tinh thần dân tộc và khí phách, một số bài có tính châm biếm. Nhân thấy có tuyển lính ở Phủ đường thời Pháp thuộc, thanh niên phải cởi hết quần áo để khám sức khoẻ, cha tôi có bài thơ châm biếm như sau:
TUYỂN LÍNH
Văn minh tranh cạnh có ngày nay
Cung kiếm ra tuồng dễ mấy tay
Cân nhắc thử xem ai sức mạnh
Bóc trần mới biết kẻ tài hay
Đầu quân giấy mực vừa ghi chép
Ái quốc lòng son dễ tỏ bầy
Có lúc dựng lên cờ độc lập
Ai ơi giương mắt thử xem này.
Cha tôi tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục bị thực dân Pháp ghi vào sổ đen, suốt đời bị theo dõi. Ông là nhà yêu nước, gia đình có công với cách mạng, các con không có ai phản động. Sau cách mạng tháng 8-1945 ông tiếp tục làm thơ, có một số bài thơ chữ Hán và quốc văn trên tinh thần động viên kháng chiến chống Pháp và ca ngợi Hồ Chủ tịch.
Cha tôi sống một cuộc đời thanh bạch. Cũng như Tú Xương làm thơ viết văn viết báo nhưng không có lương tháng, nếu có bài nào được đăng báo có chút tiền nhuận bút, ăn tiêu hết lại nhịn. Có lúc hết giấy viết, ông ngồi rọc những chỗ giấy trắng của tờ báo thu lượm lại để viết. Tính ông phóng khoáng, ưng ngao du đây đó, vào Thanh thăm di tích nhà Lê, lên Phú Thọ thăm đền Hùng. Trước khi có đường xe lửa Bắc Nam ông đã vào thăm cố đô Huế, đọc sách ở Cổ học viện. Thường xuyên ông lên Hà Nội liên hệ với các toà báo, kết bạn thơ văn. Cha tôi quen ông Tiên Duệ có cửa hàng viết và bán câu đối, bức trướng, quen nhà giáo Hoàng Đạo Thúy, cụ tú Ngô Văn cha nhà thơ Ngô Linh Ngọc... Tôi đến chơi, ai cũng nhắc lại chuyện cũ và nói “Chúng tôi lạ gì cụ ấm Hành Thiện”.
Cha tôi trung thành với đạo Khổng nhưng không đến nỗi xơ cứng. Chuyện trên đời thường ông đem lời Khổng Mạnh ra chứng minh đúng sai. Điều này đôi lúc làm tôi bực mình bởi lẽ tôi không thể theo được như cha tôi mong muốn.
Hồi tôi còn ở tuổi nhi đồng, cha mẹ tôi có chừng hơn chục mẫu ruộng do ông bà nội ngoại chia cho ở Tả Hành và ở Hải Hậu. Cha tôi ưng nếp sống thoải mái nên bán dần đi tiêu dùng đến độ chỉ còn 5 mẫu không thể bán được nữa mới thôi. Người làng kháo nhau:
- Nếu gia cảnh giàu có “nứt đố đổ vách” thì ông ấy cũng làm cho nghèo chỉ đủ ăn là may.
Tuy nhà ngói sân gạch, nhưng thường túng thiếu, tháng ba ngày tám ăn đói. Tôi thường nhắc chị tôi cho ăn ngô hơn ăn cháo. Chị chuyên dệt vải, phải vay lãi làm vốn cửi; ăn thiếu, làm nhiều, người gầy gò; có ai hỏi thì nói là ốm. Con nợ đến quanh năm. Một lần bà Như (người làng) đến đòi nợ. Món nợ này lưu cữu nhiều năm, hàng năm phải trả lãi, gộp lại có lẽ còn lớn hơn nhiều so với số tiền gốc. Mẹ tôi đi vắng, tôi nói cứng, bà ta khó chịu mãi. Hồi tôi 12- 13 tuổi, anh tôi (Trường Chinh) đang bị tù, mẹ tôi bàn hay là bán nhà đi ra tỉnh kiếm sống, bà sẽ bán hàng nước, có lẽ dễ chịu hơn. Tôi tán thành ngay. Sau đó không thấy mẹ tôi nhắc đến nữa.
Những lúc cần tiền để đóng góp giỗ chạp ma chay… thì lại đem mâm nồi đồng đi cầm đồ. Mẹ tôi cũng có đôi hoa tai, cái nhẫn vàng, nhưng bán dần hết. Ông nội tôi được vua ban cho cái khánh vàng rất đẹp, lủng lẳng bên dưới là hai cái vuốt hổ và viên ngọc. Báu vật này ông cho cha tôi. Tôi đã được đeo nó vài lần vào dịp tết nhưng rồi cũng bán đi.
Cha tôi nghiêm khắc với con. Ông bắt học chữ Hán, đến 9 tuổi tôi mới vào học lớp năm tức lớp một bây giờ. Tôi không thích học chữ Hán, đến nay thấy tiếc, mấy năm học uổng công. Thực ra hồi nhỏ tôi không chăm học, phần vì mải chơi, phần vì hoàn cảnh không được như bạn bè. Có lần tôi cạo đầu nhẵn thín cho đỡ tiền cắt tóc. Cái giấy thấm dùng đã sáu tháng, cha tôi còn nhắc tới. Tôi thích lao động chân tay, tự làm lấy đồ chơi như diều, con quay. Ông đạp bẹp cái này, liền có cái khác. Ông cấm chơi diều, tôi dậy thật sớm, trèo lên mái nhà thả diều và cột trên đó. Tôi trồng cây thì ra quả, trồng rau bón lót bùn ao và tưới tắm tốt, cây cải rất to.
Đối với tôi, ông lặng lẽ làm nghĩa vụ người cha. Ông thở dài vì nghèo không có tiền vạn cho tôi lên tỉnh học bậc thành chung để thi vào ngành sư phạm làm thầy giáo. Tôi thi vào trường Kỹ nghệ Hải Phòng ông mừng, được học bổng đủ ăn ở nội trú, được học văn hoá, ra trường có nghề cơ khí, biết chạy chọt hay thân quen thì làm văn phòng kỹ thuật, nếu không thì làm thợ. Năm 1940, tôi làm ở Nhà máy Cơ khí Gia Lâm trọ nhà anh Luyến tại xóm thợ. Anh hơn tôi 12 - 13 tuổi, cũng tốt nghiệp Trường Kỹ nghệ. Anh vào làm thợ nhà máy, từ đó bò dần lên làm trưởng xưởng toa xe. Một buổi chiều chủ nhật, cha tôi đi bộ qua cầu Đume (Long Biên) sang chơi, anh Luyến tiếp cha tôi chu đáo coi như bậc cha chú, tự động bảo người nhà chuẩn bị bữa cơm ăn tươi có rượu. Cha tôi và anh chuyện trò vui vẻ. Anh quê Phú Thọ, ông kể về sự tích quốc hiệu Văn Lang, kinh đô Phong Châu, 18 đời vua Hùng chưa lấy gì là chính xác, cách ta chừng bốn ngàn năm, nhưng có thể chấp nhận được. Cha tôi đọc thơ về đền Hùng, anh nói:
- Thế ra ông đến thăm đền Hùng nhiều lần rồi. Ông nhớ gửi cho con một số bài thơ về vua Hùng. Vì bận làm ăn, quê con trên đó mà chả biết gì.
Tôi cảm ơn anh Luyến đã thịnh tình tiếp đón cha tôi. Tiễn bước cha tôi một đoạn đường, tôi định thuê xe tay (tức xe kéo) chở ông về Hà Nội, ông từ chối:
- Không tiện đâu, nếu đằng sau có ô tô bóp còi thúc thì người kéo xe khổ, mình ngồi trên xe cũng khổ. Thầy đi bộ thôi.
Mấy năm sau tôi đi làm ở Hải Phòng. Cha tôi đề cập đến chuyện hỏi vợ. Ông không muốn tôi hỏi vợ xứ người vì không biết gia đình họ như thế nào, lại tốn kém. Qua tìm hiểu tôi ưng hỏi con gái ông Cử người cùng làng. Ông thuận chiều ngay. Hồi đó ông Cử làm viên chức tại dinh tuần phủ Hà Nam. Ông viết thơ cho tôi, hẹn hai cha con gặp nhau ở ga Phủ Lý, tôi từ Hải Phòng đến, ông từ Nam Định lên gặp nhau cùng vào nhà ông Cử. Hai ông trò chuyện thân mật cùng quê hương mà xa nhau gặp nhau như gặp cố tri. Họ trân trọng gọi nhau bằng tiên sinh. Cha tôi đề cập đến chuyện tôi xin làm rể ông:
- Cháu đang làm cho hãng tàu thuỷ Hải Phòng, hôm nay cha con tôi đến thăm tiên sinh xin được tiên sinh chấp thuận cho.
- Tiên sinh là chỗ quen biết, còn anh yên tâm. Câu chuyện đó thế nào cũng xong.
Cha tôi đơn giản quá, coi như đi ăn hỏi mà chẳng có lễ vật gì.
Sắp đến ngày cưới, tôi nhớ hồi tổ chức cưới anh tôi (Xuân Khu), ông làm trịnh trọng lắm. Câu đối bạn bè tặng treo la liệt đến mức dân làng họ trêu “Chữ xuống đến bếp hẳn”. Các lễ nghi đủ cả, lễ tơ hồng, lễ động phòng, lễ tổ tiên nội ngoại tại nhà thờ họ. Ông còn tổ chức lễ tổ tiên ngay tại nhà, anh tôi phải quỳ trước bàn thờ để nghe các cụ bề trên thuyết pháp. Đến lượt tổ chức cưới tôi, nhất định tôi nài bằng được xin bỏ cái lễ rườm rà này lấy lý do các cụ bề trên nay già rồi, có mời chưa chắc các cụ đã đến. Tình thế buộc ông chấp thuận, tuy không vừa lòng nhưng vẫn chu đáo mọi chuyện.
Trong thời gian đi làm thời Pháp thuộc, lần thứ hai tôi được tiếp cha tôi vào năm 1944 tại Đáp Cầu (Bắc Ninh). Ông từ Hà Nội lên thăm cháu mới sinh. Ông bế cháu rất khéo đến mức hàng xóm khen “chắc ông có cháu đề đa”. Tôi chuẩn bị bữa cơm thịnh soạn nhờ có mấy con chim ngói bạn cho, nào là chim hầm, chim rán. Ông vui chuyện, dặn dò con dâu đủ điều về cách nuôi con so, lưu ý kiêng khem gió máy như thế nào để cháu không bị cảm sốt, sài đẹn. Tôi nghĩ “Giữ gìn quá như thế chưa chắc đã tốt mà khó quá”!
Hè năm 1957, đang học tại Moskva, tôi đi lao động ở mỏ được gần 2.000 rúp đủ tiền tàu xe và quà bánh về thăm nhà. Có thể đủ tiền mua cái xe đạp, máy khâu cho vợ con bán đi cho đỡ thiếu thốn bởi lẽ hồi đó lưu học sinh chưa được hưởng chế độ có 70% tiền lương để lại cho gia đình. Nghe tin cha tôi ốm vì bệnh già rất mong được gặp tôi, tính ra có đến 9 năm cha con không được gặp nhau. Ông chép miệng thở dài, không muốn nói với anh tôi can thiệp. Cùng lúc đó cũng có vài lưu học sinh đề nghị xin về tự túc tiền tàu xe, nhưng Sứ quán không giải quyết lấy lý do gây phiền hà cho ta và cho bạn. Có vị ở Sứ quán còn phán: “Được đi học là tốt rồi, lại còn đòi hỏi”. Trước khi nhắm mắt, cha tôi yêu cầu tất cả con cháu đi quanh giường cho được gặp mặt, đến lượt Chiêu - con tôi đến gần, ông thều thào nói: “Ngoan nhé!”.
Người đời gần như thống nhất nhận xét về cha tôi. Chừng như ông có phần khó tính với con cháu, nhưng đối xử với người đời bao giờ cũng có chữ tâm. “Nhân vô thập toàn” ông thường khuyên con cháu: “Nếu hợp với mình thì trở nên thân, nếu không hợp thì sơ”.
(còn tiếp)
Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
Cũng như cha mình, ông (Đặng Xuân Viện) là một người khẳng khái nhân ái, phong độ thư thái ung dung, bạn bè xa gần đều kính phục ca ngợi.
Khảng khái bi ca dòng hào sĩ
Phong lưu văn sắc bậc đại nhân.
|