Một lần giao nhiệm vụ cho cô Oanh đem tài liệu quan trọng đến một điạ điểm. Anh dặn rất kỹ cách đi đường, qua đò, qua chợ, nếu bị địch bắt thì đối phó như thế nào. Trước khi lên đường, anh hỏi:
- Thử xem trong túi còn có thứ gì có thể bị lộ nếu bị chúng khám xét?
Sờ vào túi, cô phát hiện ra còn quyển sổ nhỏ bằng nửa bàn tay, cô liền ngượng ngùng đưa quyển số đó cho anh giữ hộ. Về tới cơ quan, mở ra xem, thấy trong đó cô ghi tắt chi tiêu trong khi đi đường công tác, đi đò, uống nước, ăn cơm mấy xu, mấy hào. Kẹp trong sổ còn có lá thư gửi cho anh xin tiền mua len đan áo mặc trong những ngày đông giá lạnh nay đây mai đó. Trong hoàn cảnh ấy, anh viết bài thơ “Đan áo” gửi cho cô. Sau đó, nhờ một chị sắm cho cô một áo cánh bông thay cho áo len.
ĐAN ÁO
Gửi cô Oanh
Tiền không có, lấy gì mua len sợi
Tặng cho Oanh đan áo mặc mùa đông?
Gió bấc về mây sắt cuốn trên không
Da lạnh lắm nhưng lòng đâu có lạnh!
Bầu nhiệt huyết nổi sôi trào nhựa mạnh
Muốn tràn ra tưới ấm khắp nhân quần
Để rồi mai căng nở những mầm xuân
Vườn nhân loại hoa cười trong nắng mới.
Chim oanh hót, gió tương lai rời rợi
Khắp nhân gian vang dậy nhạc hòa bình
Và còn đâu rách rưới với mong manh
Với hiu quạnh, thê lương ngày tháng đọng.
Oanh có rét thì đây niềm hi vọng
Khoác thử coi, nồng ấm biết bao nhiêu!
Và nếu còn rét nữa ít hay nhiều
Hãy nghĩ đến Hồng quân đang kháng chiến
Trong bão tuyết lăn mình hăng máu tiến
Cứu nhân quần, mang ấm lại cho ta
Và giục Oanh say chiến đấu xông pha
Đan áo ấm cho ngày mai nữa nhé.
Phúc Yên, tháng 10 - 1942
D. Qua bước hiểm nghèo
Cuối năm 1946, cơ quan đầu não của ta rút ra khỏi Hà Nội di chuyển toàn bộ lên Việt Bắc, chuẩn bị kháng chiến lâu dài với Pháp. Chúng đánh hơi biết một số bộ phận lãnh đạo của ta lên Bắc Cạn. Hồi đó tôi công tác ở Cục Quân giới cũng chuyển lên gần thị xã. Anh bị mắc kẹt, chỉ kịp nhảy xuống hào. Dưới hào có một chị bế con nhỏ, may mà cháu không khóc. Anh thuyết phục chị không lên, mặc cho chúng nói bừa rằng chúng đã trông thấy người dưới hào. Trời tối hẳn. Chúng dùng đèn pin quét sáng, nhờ đêm tối anh theo ánh đèn mà tránh, nấp vào gốc cây, chuyển từ cây này sang cây khác, nhằm hướng sang Tuyên Quang. Qua gần một ngày đêm nhờ dân chỉ đường và giúp đỡ, anh về tới Định Hóa, bắt được liên lạc với cơ quan Trung ương Đảng.
Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo mừng cho anh thoát bước hiểm nghèo trở về công tác.
E. Phá kho thóc của Nhật
Cuối năm 1944 sang đầu năm 1945, do phát xít Nhật kết hợp với thực dân Pháp vét thóc gạo của ta để duy trì chiến tranh. Nhân dân ta lâm vào cảnh đói khổ vô cùng. Tệ hại hơn nữa là chúng bắt ép nhiều nơi nhổ lúa ngô để trồng đay cho chúng. Nạn đói xảy ra. Buổi sáng ở các thành phố và thành thị như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Hải Dương... có những xe bò đi nhặt xác chết ở hai bên hè phố chở ra ngoại ô, hất xuống các hố dài đã đào sẵn từng lớp xác người như thế, lại rắc vôi bột lên trên, đến khi gần đầy thì mới lấp hẳn. Có những người còn sống ngắc ngoải cũng bị đem chôn như vậy.
Những đội chôn người chuyên nghiệp không những được tổ chức ở các thành thị, mà ngay các thôn xã cũng có, chính những người này cũng đang bị đói. Họ than thở: “Đến lúc nào đó, chúng tôi lại đi chôn chúng tôi!”.
Một hôm, anh Trường Chinh đi trên đê thấy có một đàn quạ sà xuống chân một đống rạ gần đó. Xuống xem thì đúng là một xác người chết đã bắt đầu thối rữa. Trước tình cảnh bi thảm đó mà dân ta đang phải gánh chịu, anh nhớ lại trong sử ta chép: “Cao Bá Quát đã hô hào dân ta phá kho thóc của triều đình nhà Nguyễn để cứu đói và để động viên nhân dân tham gia phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình ươn hèn trước họa xâm lăng của thực dân Pháp”.
Trở về cơ quan anh đề nghị với Thường vụ Trung ương Đảng đem vấn đề vận động nhân dân phá kho thóc của Nhật ra bàn. Hội nghị hoàn toàn nhất trí, trở thành chỉ thị phổ biến đến tận các cơ sở tổ chức cứu quốc của Đảng. Rất nhiều nơi hưởng ứng. Nhiều kho thóc của Nhật bị phá và thu hồi về chia cho dân. Việc làm ấy không những đáp ứng yêu cầu cứu đói mà còn động viên đông đảo nhân dân hăng hái tham gia các phong trào cứu quốc của Việt Minh, thấy không còn cách nào khác là phải đứng lên để tự cứu lấy mình.
Thì ra kinh nghiệm xa xưa của ông cha ta dưới thời phong kiến cũng cho chúng ta những bài học rất bổ ích trong vấn đề vận động nhân dân đi theo cách mạng.
F. Con người anh và xã hội
Dù bận công tác, suốt đời hoạt động cách mạng, nhưng anh để tâm nghiên cứu những tác phẩm văn học sử học Việt Nam và thế giới. Đọc thuộc lòng thơ Victor Hugo, say sưa đọc tác phẩm “Người mẹ” của M. Gorki, so sánh thơ văn Nguyễn Du với thơ văn Gớt (văn hào Đức), thường nhắc lại những mẩu chuyện xưa, nhắc lại các lời nói của các bậc tiền bối vận dụng vào đời sống xã hội và đấu tranh cách mạng trên tinh thần trân trọng. Sau cách mạng tháng 8- 1945, về thăm quê, các bạn nhà nho của cha tôi đến chơi, anh ngồi tiếp chuyện thưa gởi đàng hoàng. Khách ra về anh tiễn chân ra ngõ. Tại trường thành chung Nam Định, anh học nhà giáo kiêm nhà văn Hoàng Ngọc Phách. Sau này thỉnh thoảng vẫn đến thăm thầy và đàm luận văn chương. Đối với bố vợ tôi, cử nhân Hán học Nguyễn Văn Tú làm chuyên viên dịch thuật cho Viện Triết, anh tỏ ra quý trọng. Về già, ông bị bệnh đau tim, đột ngột qua đời, anh ra thăm và trách:
- Sao không chăm sóc cho cụ sống lâu hơn nữa. Cụ mất đi tiếc lắm đấy!
Một nhà văn họ Ngô đến thăm, nói chuyện văn chương, chừng như có phần không được khiêm tốn. Anh nói:
- Đúng là hậu sinh khả úy. Có thế xã hội mới tiến lên được, nhưng chớ quên học tập người xưa. Có nhiều điều hay lắm. Đối với đồng chí trước hết không cần học đâu xa, học ngay các bậc tiền bối họ Ngô của mình.
Thỉnh thoảng anh đi thăm danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử. Có lẽ để chắt lọc lấy những bài học từ truyền thống của dân tộc, của đất nước tiềm ẩn từ xa xưa đã để lại.
Trong hoàn cảnh công tác, vợ chồng cán bộ, Đảng viên thường xa nhau, nếu có điều kiện anh tạo cho gặp nhau. Nếu là đôi trai gái tìm hiểu nhau đã chín muồi, anh giúp đỡ cho họ lấy nhau. Chính anh là người xây dựng nên vợ nên chồng cho đồng chí cán bộ bảo vệ với cô nhân viên phục vụ.
Đối với thanh niên trong cơ quan thì cho đi học văn hóa các cấp I - II- III chính quy hay bổ túc, chọn một số cho đi học đại học trong hay ngoài nước. Ngay những ngày đầu kháng chiến chống Pháp anh lưu ý sử dụng tốt những trí thức của ta. Cử người về xuôi triệu tập một số anh em tú tài lên Việt Bắc, mở lớp chính trị ngắn hạn ở Cù Vân (Thái Nguyên). Học xong, phân phối về các cơ quan của Trung ương Đảng, về các bộ hay về các báo. Chẳng may lớp học bị lộ, địch cho máy bay ném bom, học viên nằm đè lên che chở cho anh. Lớp học được an toàn.
Trong công tác anh rất nguyên tắc, tin vào tổ chức và bộ máy. Có lần anh phát biểu: “Trước đây tôi đã nghe nhiều báo cáo sai lầm, không đúng thực tế...”. Từ đó, nhận định về chủ trương khoán sản phẩm nông nghiệp đến hộ và người nông dân dẫn đến thi hành kỷ luật lãnh đạo địa phương.
Những năm 50, trong số anh em lưu học sinh ở Liên Xô có người xin chuyển ngành học cho hợp với khả năng, giữa khoá học sinh về thăm nhà bằng tiền của mình nhờ đi lao động trong dịp hè hay đi thực tập. Nghe báo cáo của Sứ quán thế nào đó, anh đồng tình với họ mà không giải quyết. Có một số sự việc tương tự như trên đã xảy ra, nghe góp ý, anh thấy ra được, và nói: “Ai mà chả có sai lầm”. Anh chú ý lắng nghe những uẩn khúc của mọi người dù thân sơ, ai mắc mớ gì thì phân giải, có thể giúp đỡ được thì gắng làm. Có trường hợp tỏ ra cả tin, có thể họ đã lợi dụng tính chân thật và lòng tốt của anh.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, con trai anh học vật lý tại Trường Đại học Tổng Hợp Moskva đang học năm cuối cùng, mắc chút ít khuyết điểm gì đó, nghe Sứ quán báo cáo, anh cho gọi về. Tôi đề nghị:
- Anh cho cháu học tiếp ngành vật lý tại Đại học Tổng hợp Hà Nội xong rồi hãy đi bộ đội.
- Thế thì tôi động viên thanh niên nhập ngũ làm sao được!
Mẹ tôi rất thương anh. Thời gian hoạt động bí mật trước cách mạng tháng 8-1945, bà lo bị địch bỏ tù và nguy hiểm đến tính mạng, thường tụng kinh niệm Phật từ ba giờ sáng. Tôi hỏi:
- Mẹ tụng kinh làm gì mà siêng thế?
- Để Trời Phật phù hộ độ trì cho anh con tai qua nạn khỏi, trở về yên lành, mẹ con được gần nhau.
Năm 1958 cha tôi mất, mẹ tôi vào sống với anh. Tiếc rằng anh rất bận công việc, mẹ tôi lại già quá rồi! Anh nhắc người phục vụ:
- Tôi ăn như nào thì cho mẹ tôi ăn như thế.
Nào mẹ tôi có ăn được bao nhiêu!
Riêng đối với tôi, trong đời sống riêng tư và công tác gặp khó khăn, không bao giờ nghĩ tới nhờ anh giúp đỡ. Ai nhờ vả việc này việc nọ có lợi cho họ, đó là việc của người ta, còn tôi không thể làm như họ được. Bạn bè tôi nhận xét:
- Anh có cái ô to đùng mà không sử dụng.
Cảm ơn các bạn đã động viên tôi và thông cảm. Hình như đó là truyền thống trong cha con tôi.
Có lẽ anh Trường Chinh cũng hiểu tâm lý tự lực cánh sinh của tôi. Đến khi tôi chuẩn bị nghỉ hưu, anh còn hỏi:
- Chú làm việc gì ở Bộ Đại học nhỉ?
- Em vừa giảng dạy vừa làm quản lý.
Thế là rõ ràng. Anh em tôi, cha con tôi đã ý hợp tâm đầu trong vấn đề này.
Giữa anh em tôi tuy có khoảng giữ gìn như vậy, nhưng thâm tâm vẫn thể hiện tình anh em thân thiết. Hồi tôi còn nghiện thuốc lá, anh cho tôi cái gạt tàn và cái hộp đựng thuốc bằng đồi mồi rất đẹp, thỉnh thoảng có bao thuốc thơm, anh cử người đem ra cho. Anh định cho tôi bức tranh gò đồng tàu Grama (Cuba). Tôi đề nghị:
- Anh đưa em cầm về.
- Để tôi cho người cầm ra.
Nhưng rồi anh quên mất.
Mỗi khi gặp anh, đầu tiên tôi nghĩ là gặp anh tôi, có điều gì không rõ, tôi mạnh dạn hỏi và phát biểu:
- Sao ta lại đặt vấn đề thay đổi Quốc ca.
- Anh em đề nghị: Cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới thì phải đổi mới Quốc ca.
Phần nào có lý. Nhưng bài Quốc ca đã đi vào máu thịt của nhân dân, làm sao mà nhân dân chấp nhận được!
Sau sửa sai cải cách ruộng đất, anh xin rút lui chức Tổng Bí thư, nhận các chức Phó thủ tướng, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học kỹ thuật. Còn nhận chức Trưởng ban Nông nghiệp thì tôi cho là không thuận chiều, bởi lẽ dù anh là tác giả cuốn “Vấn đề dân cày”, nhưng suốt đời không phải là dân cày. Tôi hỏi thì được trả lời: Đây là Đảng phân công cho tôi.
Tác phong anh lúc nào cũng kết hợp nhuần nhuyễn giữa cẩn trọng và thận trọng. Vào phòng họp mà anh chủ trì, thường chắp tay chào hay vỗ tay. Tặng người thân quen một vật gì đó hay một quyển sách thường đưa hai tay dù họ là cấp dưới.
Anh lắng nghe người đối thoại không bao giờ nói át. Hồi sửa sai cải cách ruộng đất, tôi đang ở Liên Xô, anh viết thư sang hỏi xem lưu học sinh bên đó suy nghĩ như thế nào? Được dịp tôi viết thư dài nói hết suy nghĩ của mình.
Anh hỏi một số cán bộ về thuyết: “Làm chủ tập thể”. Có người trả lời:
- Thưa đồng chí, trên báo chí và tập san đã bình luận nhiều rồi.
- Tôi biết, nhưng tôi muốn hỏi ý anh như thế nào?
Tôi đoán anh có ý kiến riêng của mình, nhưng chưa tiện nói ra. Rất mừng là sau một thời gian, tự nhiên vấn đề “Làm chủ tập thể” bị xẹp, không ai nhắc đến.
Thường anh khuyên cán bộ:
- Có thể có sự việc như thế đấy, nhưng nói ra trong lúc này có lợi cho cách mạng hay không?
Có lần tôi đã nghe anh lập luận:
- Không thể làm cách mạng một mình. Nếu đồng chí mình chưa thông thì phải thuyết phục và chờ đợi.
- Nhưng thưa anh. Sự việc đã chín muồi. Đảng nắm chính quyền rồi, nếu chờ đợi mãi thì dân khổ có nên không?
Anh lắng nghe, không nói gì.
Một thời gian xã tôi đã mang tên Xuân Khu. Nhiều lần anh đề nghị nên đưa trở về như cũ Hành Thiện, hay đặt cho xã một tên khác, gắn liền với lịch sử địa phương. Huyện Vũ Tiên (Thái Bình) là nơi anh bị bao vây mấy tháng, nhân anh cho huyện một số sách, họ đề nghị nhiều lần đặt tên là “Thư viện Trường Chinh”. Cuối cùng anh trả lời:
- Tôi đã nói rồi không cần thiết lấy tên tôi.
Anh không giải thích vì sao.
Trong thời gian làm cố vấn Trung ương Đảng, có nhà báo đề nghị cho viết bài. Anh nói:
- Bây giờ chỉ nên viết bài về Bác. Bao giờ tôi chết, hãy viết bài về tôi, nhưng viết thế nào cho đúng mức và có lợi cho cách mạng.
Có lần tôi nhắc anh viết hồi ký:
- Nếu anh không viết thì có những sự việc thực chất nó như thế nào, khi anh qua đời rồi là nó qua theo. Sau này lịch sử không biết thực hư.
Anh không phản đối nhưng không thấy viết.
Cuối đời, anh để thời giờ đi thăm quê hương Hành Thiện - Xuân Trường, thăm Từ Sơn - Bắc Ninh, chùa Đồng Kỵ, Hiệp Hoà - Bắc Giang, Xuân Đỉnh - Từ Liêm, Tiên Thù - Phổ Yên (Thái Nguyên), các cơ sở cách mạng ở Hà Nội, các nhà tư sản Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện... nơi nào anh cũng có quà tặng, chụp ảnh, có nơi làm thơ tặng. Anh lập luận:
- Nếu không có họ thì mình chết từ lâu rồi.
Đến khi qua đời, tất cả những nơi đó đều cử người về dự lễ tang. Cho đến nay, ngày giỗ anh, thường có người về dự. Đám tang anh sao mà đông thế! Trên đường từ Ba Đình đến nghĩa trang Mai Dịch, nhân dân đứng đầy hai bên hè. Có người trèo lên cây, bám vào giậu sắt, trèo lên nóc nhà mà tiễn đưa.
Sang cõi vĩnh hằng, anh đã để lại cho đời, cho đất nước, cho dân tộc những tình cảm sâu đậm qua những cống hiến to lớn trong sự nghiệp độc lập dân tộc thống nhất đất nước. Trong tập hồi ký “Trường Chinh, một nhân cách, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam”, nhiều tác giả có bề dày hoạt động cách mạng đã từng cộng sự với anh hay quen biết đã viết khá đầy đủ về anh trên mặt hoạt động cách mạng. Các tác giả đã đánh giá rất cao công lao của anh, nổi bật nhất là đưa đất nước vượt qua hai cửa ải: Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 giành chính quyền về tay nhân dân và “Đổi mới” để tiến kịp thời đại, vì đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với đất nước và dân tộc ta.
Nói đến công lao đối với cách mạng, cũng cần nói đến các tác phẩm của anh để lại cho đời. Tôi nhớ những tác phẩm sau đây:
- Vấn đề dân cày (đồng tác giả, 2 tập, trước năm 1945)
- Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi (tập hợp từ những bài báo viết từ 1947),
- Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam, 1948,
- Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc phong phú dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và CNXH.
- Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam (2 tập – 1975),
- Chủ tịch Hồ Chí Minh và thời đại, 1980,
- Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, 1980,
- Thơ Sóng Hồng, 1983,
- Về văn hoá và nghệ thuật (Tập I – II NXB Văn học 1985- 1986)
Ngoài ra phải kể đến những bài báo anh đã viết dựa theo những Nghị quyết của Bộ Chính trị có tính chỉ đạo đường lối cách mạng giải phóng dân tộc mà anh là người đề xướng:
- Chiến tranh Thái Bình Dương, 1940,
- Đề cương văn hoá VN, 1943,
- Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, tháng 3-1945,
- Những bài báo và bài nói chuyện về “Đổi mới” chuẩn bị cho Đại hội VI (tháng 12-1986) thông qua cương lĩnh Đổi mới… (trong đó anh nhấn mạnh phải giải phóng tư tưởng để đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế, mở cửa và hội nhập, nhằm sửa chữa khuyết điểm sai lầm vì bảo thủ duy ý chí đã mắc phải trước đây, trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, lấy dân làm gốc).
Anh là con người hoạt động cách mạng kết hợp khá rõ nét giữa hai dòng văn hóa Đông Tây, xuất thân từ tinh thần nồng nàn yêu nước của dân tộc Việt Nam kết hợp với Chủ nghĩa Mác- Lênin. Chấp nhận mọi sự hy sinh gian khổ, có lúc tính mạng như “trứng để đầu đẳng”. Trước quân thù, anh vẫn trên tư thế tiến công. Trước khi qua đời, anh đã thấy được ước mơ số một là sạch bóng quân thù, nước nhà được hoàn toàn độc lập thống nhất. Còn cái ước mơ số hai là xây dựng thành công XHCN thì anh chưa được thấy. Nhưng thưa anh! Ước mơ ấy còn ở phía trước, chỉ khi nào dân giàu nước mạnh, mọi tầng lớp nhân dân đều bình đẳng thực sự, đời sống được vui tươi hạnh phúc về mọi mặt thì lúc đó mới tiếp cận đến CNXH.
Phong cách, lối sống, phương pháp làm việc, cách ứng xử như thế nào đều được thể hiện qua những bí danh của anh. Trước cách mạng tháng 8-1945, có bí danh là Toàn, Thận, Nghiêm, Lương; còn có tên là Nhân- người phát ngôn của Đảng Cộng sản, anh em gần gũi còn gọi là anh cả trẻ (vì anh ít tuổi hơn ông Nguyễn Lương Bằng là anh cả già). Trong kháng chiến còn tên là Năm, bút danh văn thơ là Qua Ninh, Sóng Hồng, tên phổ biến nhất là Trường Chinh. Nếu gọi tắt là Chinh thì anh cải chính: - Gọi tôi là Trường Chinh mới đúng, nhưng không giải thích tại sao. Ta thông cảm cho tính chính xác của anh.
Anh qua đời ở tuổi 81. Như vậy là không non yếu gì nhưng gia đình và người đời vẫn nuối tiếc, vì anh còn minh mẫn, còn có thể đóng góp cho đời từ khối óc và trái tim. Hơn nữa, anh lại qua đời đột ngột do bị trượt cầu thang. Điều đó xảy ra bất ngờ, trái với bản chất thận trọng của anh.
Dưới đây là 2 bài thơ của 2 nhà thơ, nhà văn tiễn đưa khi anh qua đời.
TÂM TƯỞNG
Sống cũng vinh mà thác cũng vinh
Con đường vạn lý bước Trường Chinh
Tháp đài thắp sáng người thi sĩ
Dấu ấn giao hồng nét sử xanh
Mấy độ gian nan vì nỗi nước
Một đời chiến đấu vốn quên mình
Cỏ cây dân tộc bao thương nhớ
Sáng mảnh gương trong sáng nghĩa tình.
Nữ sĩ Ngân Giang
Báo Nhân dân, 6-10-1988
TIỄN ĐƯA ANH
Một vùng hoa cỏ trĩu đau thương
Than ôi! Người cộng sản kiên cường!
Đâu phải tuổi già khô nước mắt
Khóc tiễn đưa anh một đoạn đường
Còn gian nan anh còn dạn bước
Tiếng anh sang sảng giữa đời thường
Mây ruổi mây bay trời đã hé
Có chi đảo ngược được “ngày mai”
Nhà thơ Lưu Trọng Lư. Báo Nhân dân, 6-10-1988
(còn tiếp)
Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|