tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
21.01.2013
Đặng Xuân Đĩnh
Thân thương cuộc đời (9)

CHƯƠNG VI. CON TRAI TÔI: LIỆT SĨ: ĐẶNG XUÂN CHIÊU (1947 – 1971)


Chiêu - con tôi ra đời ngày 18-6-1947 tại quê nhà. Khi đó tôi công tác tại Cục Quân giới trên Việt Bắc nên không được biết những ngày thơ ấu của con như thế nào. Nghe kể cháu bụ bẫm, khỏe mạnh cho dù thiếu sữa me, phải bú nhờ và ăn cháo bột. Gần một năm sau (1948), nhân chuyến đi công tác vào khu IV (Nghệ An), tôi qua nhà được thấy con. Trông cháu khỏe mạnh, thân hình cân đối, nét mặt sáng sủa, chừng như giống tôi, tôi mừng thầm. Mấy ngày ở quê tôi bế cháu đi chơi, sang nhà hàng xóm, ai cũng khen: “Thằng bé nhẵn nhụi, cân đối”. Có người chế: “Miệng rộng, môi dày”. Cũng đúng thôi, vì nó giống tôi.


Sang năm 1949, huyện Xuân Trường và Hành Thiện quê tôi bị quân Pháp chiếm đóng. Tháng 11 năm đó, cha mẹ, vợ con tôi tản cư vào xã Hợp Tiến, gần chợ Xim thuộc huyện Nông Cống (Thanh Hóa). Hành trình khá vất vả, thường đi bộ, có một đoạn được đi thuyền. Chiêu chưa có khả năng đi bộ, chị tôi và vợ tôi thay nhau cõng, đầu đội thúng quần áo vật dụng, lễ mễ tay xách nách mang trong 5- 6 ngày mới đến nơi. Trên đường, Chiêu không quấy khóc, chừng như nó cảm thấy có gì thay đổi khiến không dám vòi vĩnh.


Hợp Tiến là vùng quê bán sơn địa, có đồng ruộng, gò đồi, vào sâu hơn có rừng núi. Chợ là nơi giao lưu buôn bán lâm thổ sản và hàng hoá từ đồng bằng đem tới. Trong hoàn cảnh kháng chiến được sinh sống ở đây, thế là tốt.


Vào đến nơi được bà con giúp đỡ, cuộc sống dần dần ổn định. Vợ tôi vừa làm công tác phụ nữ xã vừa nhận dạy cấp I, được xã chi trả công hàng tháng bằng thóc; ngoài ra nhận phần ruộng trồng khoai sắn đỡ vào, nên cũng tạm đủ. Những buổi vợ tôi đi làm vắng, Chiêu được bà trông nom, tha thẩn chơi suốt ngày với cái vỏ diêm, hòn bi, đồng xu, mười cái que tập đếm. Đến khi lên bốn (1951), tôi có công tác vào Nghệ An, về thăm gia đình được dăm hôm, thấy nó khoẻ mạnh trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, tôi mừng. Nó chạy chơi suốt ngày, khi nào tôi gọi: Chiêu ơi! thì đến. Tôi ôm lấy nó, nghĩ ra những câu hỏi bâng quơ để giữ nó bên mình:


- Lúc nãy con sang nhà ai nhỉ?


- Bạn Nam đánh đáo với con là con ai nhỉ?


Cháu vui vẻ trả lời, đầu ngoẹo vào lòng tôi. Đến khi tôi không gợi chuyện nữa thì cựa quậy trong vòng tay tôi, ý chừng muốn chạy chơi. Tôi thả ra:


- Cho con đi chơi nhưng đừng nghịch đất nhé.


- Vâng ạ!


Mấy ngày gần con được ít phút, không đủ để gây cảm tình với con như mong muốn. Tôi tự an ủi: “Mình xa con, không chăm sóc nó từ khi lọt lòng đến nay, được thế là thuận chiều rồi!”.


Vợ tôi cố gắng cho con ăn mặc quần nâu áo vải nhưng lành lặn; mùa rét không có áo len thì mặc thêm áo, chân đi đất. Chuyện đó là bình thường trong hoàn cảnh kháng chiến.


Chiêu hiếu động nhưng mặt mũi không đến nỗi lem luốc như các trẻ em cùng lứa. Thấy người lớn trồng cây, Chiêu lấy cuốc đào một hố nông choẹt, dựng một cành cây cắm xuống, vun gốc mãi cái cành mới đứng vững, khoái quá reo lên:


- Mẹ ơi! Con trồng cây này.


Người lớn vào bìa rừng kiếm củi, hai chị em theo đi. Không được gánh hai bó củi to bằng chét tay như chị thì kiếm một cành cây vừa tầm, tì vào vai mà kéo về nhà.


Hồi tản cư, trong gia đình Chiêu bé nhất nên được chiều. Bà có phong bánh khảo, chưa kịp bóc, nó ngả vào lòng:


- Bà ơi cho cháu ăn bánh nhé!


Nhà có cam nó gạ:


- Cháu ăn gì cho khỏi ho được?


Ngồi ăn cơm với ông bà, đòi ngồi gần phía mâm có món ăn ngon.


- Bà ơi cho cháu ăn thứ này.


Thực tình trong 4- 5 năm qua, gần như vợ tôi tự túc nuôi con nên thiếu thốn vất vả, tôi gợi ý:


- Hay là đưa các con lên Việt Bắc, xin vào làm cơ quan cho tiện.


Vợ tôi ngần ngại:


- Lên đó thì được gần nhau, nhưng việc học tập, sức khoẻ của các con sẽ không đảm bảo, ta đành chấp nhận xa nhau vậy.


Sau đợt nghỉ phép tôi vào Nghệ An nơi có xưởng quân giới gần chợ Chùa, chợ Vịnh liên hệ công tác. Công việc xong xuôi, trở ra Thanh, tạt về thăm nhà vài hôm trước khi hành quân đi bộ lên Việt Bắc. Từ đó tôi không có dịp về xuôi thăm cha mẹ vợ con nữa. Thỉnh thoảng nhận thư nhà, được biết tin: Con gái bắt đầu đi học, Chiêu vẫn khoẻ và chịu chơi. Khổ nỗi, dành dụm được ít tiền mà không biết nhờ ai đem về xuôi được. Một lần anh bạn cùng công tác ở Cục Quân giới có việc vào Nông Cống, tôi nhờ chuyển giúp cho vợ con mấy chục đồng. Sau hỏi ra mới biết là không nhận được.


Suốt thời thơ ấu trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước, của gia đình tản cư coi như tạm bợ, Chiêu – con tôi như được thả lỏng phần nào. Điều đó có lẽ có tác động đến bé Chiêu một khái niệm về tự do trước khi bước vào giai đoạn khôn lớn của cuộc đời.


B. Thời niên thiếu


Năm 1953, tôi được báo chuẩn bị đi du học, nhưng đắn đo: “Ở nhà thì giúp đỡ được vợ con, nhưng nếu không đi học thì không thể có trình độ làm việc sau này”.


Trước khi sang Liên Xô, tôi vào thăm ông anh. Tiếc rằng chẳng còn tiền để gửi về. Có đồng nào đã dồn gửi qua cái anh bạn “bất hủ” biệt tăm nói trên rồi. Tôi chỉ còn cơ may viết mấy dòng cho vợ và gửi cái đồng hồ đeo tay về: “Còn cái đồng hồ này gửi về em bán đi tiêu tạm. Hoàn cảnh đã đưa chúng ta eo hẹp đến như thế này!”.


Trong sáu năm học ở Moskva, tôi và gia đình vẫn có thư từ, biết được tình hình các con. Năm lên 6, Chiêu học vỡ lòng. Năm lên 9 viết thư cho tôi, chữ viết rõ ràng minh bạch. Sau này về nước, tôi hỏi:


- Ai bày cho con viết thư cho bố, hay con tự viết?


- Bác Thạch (chị tôi) gà cho con.


Anh em lưu học sinh ai mà chả nhớ nhà.


Một số anh em xin về thăm nhà tự túc tiền tàu xe, nhưng Sứ quán không giải quyết, cũng không cho gửi quà về. Không hiểu sao mà khe khắt đến như vậy! Học đến năm thứ ba, tôi lao động ở mỏ được trả công đủ tiền tàu xe đi về và quà cáp, nhưng đành chịu. Tôi bèn mua hai chục mét vải, một áo len, vở học sinh gửi chui về cho con. Vợ tôi viết thư báo: Nhờ có vải mà các con có quần áo mới.


Tháng 6-1959 tôi báo tin sẽ về nước. Trục trặc thế nào đó, người thân ra đón hụt mấy lần. Lần cuối ra đón đầy đủ. Có mẹ tôi, anh tôi, vợ con tôi, còn cha tôi mới mất năm trước. Tôi nhận ra Chiêu – con tôi. Càng lớn nó càng giống bố. Tôi đem về cho nó đồ chơi là một cái cần trục, bày cho lắp ráp, nó vui lắm, gọi bạn đến chơi cùng. Đôi vợt bóng bàn nó chê xấu vì không phải vợt mút. Sở dĩ về tới Hà Nội tôi được gặp vợ con ngay, là sau khi tiếp quản Thủ đô, gia đình tôi đã chuyển từ Thanh Hoá ra Hà Nội rồi. Đầu tiên ở 144 phố Quan Thánh, 38 phố Tăng Bạt Hổ, sau về nhà tập thể Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam- 39 phố Hàng Chuối.


Người thân kể cho nghe vài chuyện vặt về Chiêu: Lấy que diêm phơi nắng sấy khô sau đặt lên đường ray xe điện chờ cho xe đi qua để có tiếng nổ và loé một tia lửa; lấy đồng xu đặt lên đường ray xe điện đi qua, đồng xu bị dát mỏng ra và nóng lên, ra nhặt đem về, lấy làm thích thú lắm. Đi chơi về khuya, cơ quan đóng cổng thì trèo cổng vào; mỗi lần xuống thang gác, bám vào tay vịn mà tuột xuống. Có lần hai bà cháu cùng xuống bậc thang, cháu đi sau lại xuống trước. Mẹ tôi ngạc nhiên. Ai cũng chê là nghịch ngợm.


Một lần nghịch thế nào đó bị bà cùng ở chung nhà nhốt vào buồng tắm, nó chửi om sòm.


Trong hoàn cảnh đi làm vắng nhà cả ngày, vợ tôi lo. Bà con an ủi:


- Thấy nó nghịch ngợm thì chê. Thực tình nó có nhiều điểm tốt. Chị đừng lo, nó sẽ nên người.


Khi còn cha tôi, thỉnh thoảng Chiêu bị ông sai vặt. Có lần phải “đứng hầu” hơi lâu, bèn ứng biến:


- Ông cho cháu đi tiểu ạ.


Thế là chạy biến không về nữa.


Có một sự việc xảy ra chẳng lành. Hai con tôi và một bạn chúng chơi ú tìm. Con gái tôi ngồi trên bậc cửa sổ tầng hai, tuột tay ngã xuống may nhờ có cái ô văng của cửa tầng dưới đỡ cho, coi như ngã rơi hai lần, phải đi viện cấp cứu, không gẫy xương nhưng khá đau. Người lớn thường nói chuyện với nhau, vì Chiêu oà lên một tiếng làm cho chị sợ mà tuột tay ngã xuống. Nó phản ứng với lý lẽ biện minh: “Không phải vì mình mà ngã”.


Tôi nhận công tác ở Trường Đại học Bách khoa. Đi làm suốt ngày, có ngày chiều mới về nhà. Thường bố con gặp nhau qua bữa ăn. Cứ thế kéo dài năm này qua năm khác. Ngày nghỉ cũng như ngày thường, dù đi học một buổi, Chiêu cũng chỉ ngồi học vào buổi tối, xem chừng sáng dạ, chóng thuộc bài nhưng không chăm học.


Những năm gần con tôi thấy rõ nó nghịch ngợm. Thường đánh bi, chơi bóng bàn, chơi cờ tướng, xem đá bóng, không có tiền thì đi xem chui hay đến anh họ làm ở Sở Thể dục Thể thao xin vé. Thấy người lớn làm gì là muốn làm theo. Tôi lấy mấy tấm ván thùng đóng giá sách. Đang mải làm thì Chiêu đục thủng ngay một lỗ vào giữa tấm ván, vừa bực mình vừa thích thú ngẫm: cái lỗ rất vuông vắn. Buổi sáng cho một hào ăn quà, mỗi lần lĩnh lương tôi cho 1,5 đồng tiền quà trong 15 ngày. Theo dõi thấy nó ăn phở 5 ngày là hết tiền, ngày khác nhịn. Chừng như có tiềm lực về sức khoẻ, bị cảm sốt, mẹ cháu hỏi:


- Con muốn ăn gì mẹ mua cho?


- Con ăn phở.


Không ngờ cho ăn xong thì giảm sốt và khỏi. Biết bố mẹ nghèo, nên không bao giờ vòi vĩnh. Vào dịp tết, tôi dẫn đi mua áo bông. Mặc vào khoái lắm, tuy thiếu thốn nhưng không tắt mắt. Cho tiền đi cắt tóc, hay mua sắm thứ gì, còn thừa năm xu một hào đem về trả.


Có lẽ tôi hơi khắt khe với con, chừng như có ấn tượng với nó vì nghịch ngợm, bướng bỉnh. Tôi nói với các con:


- Đối với con gái, bố định cho học hết cấp III thì cố thi vào đại học ngay. Còn con trai học hết cấp III thì ra đời đi làm, rèn luyện vài năm sau đó hãy học tiếp cũng không muộn. Như bố đây 33 tuổi mới được học đại học, dù là muộn, nhưng có chí phấn đấu thì vẫn học được.


Có thể Chiêu cho là tôi có ý phân biệt đối xử giữa hai chị em chăng? Một lần Chiêu trả lời dấm dẳng, bực mình, tôi đánh đòn; từ đó, tỏ ra không vồn vã với tôi và càng bướng bỉnh.


Căn phòng của vợ tôi chật quá, sau đó lại chuyển lên Bắc Ninh phụ trách ký túc xá con em Bộ Ngoại giao, Chiêu vào ở với tôi tại căn phòng khu tập thể Đại học Bách khoa. Tôi lưu ý hàn gắn lại quan hệ giữa bố con, nhưng có vẻ hơi khó. Tôi bận công tác suốt ngày, chiều tối bận họp, ít thời giờ quan tâm đến con. Hai bố con chỉ gặp nhau tại bữa ăn tập thể và tại buổi tối ngồi học. Cả ngày con đi học và đi chơi như thế nào tôi không hay. Thầy giáo phàn nàn: Chiêu nghịch ngợm, sức học trung bình. Tới đây tôi tự kết luận: “Không quan tâm chăm sóc con mình cho đủ bổn phận thì ai quan tâm thay mình được? Tôi đã mắc phải cái bệnh ngây thơ về chính trị đáng chê trách rồi!”.


Đến năm 15- 16 tuổi Chiêu lớn hẳn lên. Tiêu chuẩn ăn sáng và hai bữa cơm chính vẫn là ba hào, nó phàn nàn:


- Ăn 13 kg gạo đói lắm, bố xin suất gạo 15 kg/tháng cho con.


- Đến xin cho bố cũng không được đâu.


Tuy vậy thỉnh thoảng Chiêu vẫn theo thầy giáo Thanh Sơn (ĐHBK) tập quyền Anh trên sân thượng. Mỗi lần đi tập về, nằm thở, bụng thoi thóp.


- Không tập quyền được đâu con ơi! Muốn tập thì mỗi ngày phải có ít nhất nửa lạng thịt, một quả trứng bồi dưỡng mới được, mà bố mẹ lấy đâu ra cho con.


Sang năm học lớp 7 cuối cấp II, tình hình học tập cũng không có gì là sáng sủa. Vào thời gian cuối, sắp sửa thi chuyển cấp, vẫn không chăm hơn. Tôi nhắc:


- Học ôn đi, kẻo không lên lớp được đâu.


Chiêu vâng vâng cho qua chuyện, có nhiều tuần lễ để ôn thi cũng không thấy học, vắng nhà suốt ngày. Trước khi thi ba môn chuyển cấp, ngồi học chừng vài ngày. Sau khi thi, tôi hỏi thì bình thản trả lời:


- Con không làm được bài.


Thế là học bổ túc vào buổi tối. Sau đó nhờ một chị quen thân thầy cô giáo xin chui được học lớp 8 chính quy. Chẳng hay học sinh lớp đó như thế nào, học được vài buổi, lại bỏ học và trở về tiếp tục học lớp bổ túc.


Cả ngày Chiêu được tự do, thuyết phục đi làm, được vào làm tổ mộc Đại học Bách khoa. Bác tổ trưởng khen: chăm chỉ và biết làm. Chừng nửa tháng sau tôi tới thăm thì quả thật nó làm khá. Đang đục lỗ hình chữ nhật 30 x 80 sâu 100 mm, thành hình vuông vắn. Làm được một thời gian, lại chê ít lương, tự ý bỏ việc, nghe bạn bè rủ đi đội than ở bến Phà Đen mặt mũi nhem nhuốc suốt ngày.


Đến đây tôi cảm thấy bất lực, con muốn làm, muốn học, muốn chơi như thế nào, tôi nhắc vài câu cho phải đạo. Có lúc tranh luận, có lúc nó vâng, nhưng nghe theo như thế nào, tôi không có thời gian theo dõi.


Cuối năm 1963, tôi được cử đi Liên Xô nghiên cứu đề tài: Hiện tượng bùng nền lò ở mỏ. Trước khi đi, tôi dặn dò, Chiêu vui vẻ lắng nghe:


- Học bổ túc cũng được, nhưng phải học hết cấp III, lúc đó sẽ hay.


C. Toøng quaân


Lúc này gia đình tôi có nhiều biến đổi. Vợ tôi phụ trách ký túc xá con em cán bộ Hội LHPNVN sơ tán lên Lập Thạch (Vĩnh Phú), thường xuyên ở trên đó. Bố vợ tôi theo Viện Triết lên Hiệp Hoà (Hà Bắc). Con gái tôi học Trường Đại học Sư phạm theo lớp sơ tán ở Hưng Yên, còn tôi ở Liên Xô. Thế là Chiêu ở nhà một mình. Cả nhà lo về nó.


Ngày 15-10-1964, con tôi nhập ngũ, theo giấy khai sinh thì chưa đủ tuổi. Khi gia đình chuyển từ Thanh Hoá ra Hà Nội, không học được ngay nên khai rút xuống một tuổi (sinh năm 1948). Muốn đủ 18 tuổi nhập ngũ, phải làm lại giấy khai sinh tăng lên 2 tuổi. Từ đó Chiêu vĩnh viễn mang theo giấy tờ sinh ngày 18-6- 1946. Trong việc này một anh hỏi đùa:


- Em sinh năm 1946 thì không phải là con bố Đĩnh rồi.


- Con ai mà chả được, hở anh!


Chiêu được cử vào đơn vị cao xạ pháo.


Thời gian đầu được học tập lý thuyết và thực hành. Trong sổ tay ghi những mục lấy phần tử, cự li, hướng bay, tốc độ… Những tiêu đề được viết nắn nót theo kiểu chữ in cho nổi. Sau đợt huấn luyện ngắn hạn, con tôi được cử vào tổ pháo chiến đấu bảo vệ cầu Phủ Lý, cầu Lai Vu. Mỗi lần máy bay địch đến bắn phá chừng 10 – 15 phút căng thẳng vô cùng. Khi chúng bay đi, được xả hơi, các chiến sĩ nằm lăn ra đất như chết và khát nước, nhưng phải nhanh chóng hồi phục để trở về vị trí chiến đấu ngay. Trung khẩu đội có 3 – 4 người, Chiêu nhận nhiệm vụ ngồi trên mâm pháo.


Sang năm 1966, được về học Trường huấn luyện cao xạ, được phong quân hàm chuẩn uý, nhận mức trung đội trưởng tiểu đoàn huấn luyện cao xạ quân khu tả ngạn. Được kết nạp Đảng năm 1968, Chiêu nói với bạn:


- Như vậy là mình được vào Đảng ở tuổi sớm hơn bố mẹ rồi.


Thời gian ở cao xạ chắc có thành tích nên hai lần có giấy khen báo về nhà và công nhận Đảng viên bốn tốt.


Cuối năm 1965, tôi về nước được gần con một ngày, sau đó cha con lại xa nhau thường xuyên. Ít khi chúng tôi được sum họp đầy đủ. Tuy xa nhà, con tôi vẫn dành cho gia đình những tình cảm sâu đậm. Có lần đến thăm tôi tại nơi sơ tán, thường viết thư cho bố mẹ, cho chị, hỏi thăm em, có quà cho em. Tết năm 1966, không được về thăm nhà thì viết thư chúc tết. Cuối thư, dành riêng cho mẹ và mấy em câu thơ:


     Con thảo lời thơ nét đậm đà


     Năm mới xin kính chúc toàn gia


     Chúc mẹ an khang thêm tuổi thọ


     Hồng Liên thêm tuổi đón tinh hoa .


Trong một lá thư viết ngày 11-10-1967 có nói: “Hiện nay con trong trạng thái phải đấu tranh. Trực tiếp hàng ngày có những điều buồn mà hoá ra nực cười. Nếu không đấu tranh thì cấp chỉ huy cứ tiếp tục cái phương pháp công tác tư tưởng ấy, ảnh hưởng đến anh em. Dù khó khăn con cũng xác định cho mình phải vượt qua”. Chắc chắn con tôi có những vấp váp với cấp trên, làm cho họ không vừa lòng. Dù nhiệt tình trong chiến đấu và công tác cũng không gây được cảm tình với lãnh đạo. Có thể cái bản tính đó vĩnh viễn tồn tại với con tôi cho đến cuối đời.


Qua tiếp cận và đọc thư, tôi biết rõ tình hình Chiêu con tôi. Con người sống có tình cảm với người thân và bạn bè, biết giao tiếp thân sơ trên dưới, cương trực, thẳng thắn nhưng nóng nảy, có lúc bột phát mà tức khí.


Một bước ngoặt trong cuộc đời binh nghiệp của con tôi. Cuối năm 1968, có lệnh thành lập Binh chủng Đặc công đầu tiên, cần tuyển những chiến sĩ đã kinh qua chiến đấu. Chiêu xung phong xin sang và nói với cấp trên:


- Đề nghị thủ trưởng cho em sang đặc công. Chúng em tình nguyện thì chẳng có lý do gì giữ chúng em nữa.


Tháng 01-1969 nhận quyết định sang Binh chủng Đặc công (Đoàn 305). Được luyện tập kỹ thuật chiến đấu đặc công, theo mô hình trận địa như thật ngay trên bãi tập nhưng gian khổ hơn nhiều vì binh chủng đặc công so với binh chủng pháo cao xạ khác nhau. Nghe kể thường phải ẩn nấp trong rừng, chui rúc ban ngày chiến đấu ban đêm, xuống khe lấy nước phải lén lút, tránh xa dân. Họ thường bảo nhau: “Mình như biệt  kích ngụy”! Vào chiến dịch mỗi ngày chỉ có ba gói lương khô, không có rau. Nhưng trước khi đi được bồi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ, có cả đường sữa kẹo bánh. Trong huấn luyện cũng như trước khi vào chiến dịch, các chiến sĩ phải qua rèn luyện. Tập võ, tập chiến đấu bằng tay chân, đánh vào chỗ hiểm, sử dụng thành thạo dao găm, học kỹ thuật bộc phá, vượt rào, học giấu mình dưới đất, dưới nước, vùi mình trong bãi cát. Dù đặc công trên cạn cũng phải tập bơi. Cấp chỉ huy ngồi trên thuyền điều khiển, chiến sĩ tập bơi theo bài bản, cho dù có kêu mệt xin lên, cũng bị động viên tập tiếp. Chừng như sắp chết đuối mới quẳng cho cái phao hay cái sào mà bám lấy. Trước khi ra trận các chiến sĩ được trang bị theo yêu cầu của trận đánh như bộc phá, dao găm, súng nổ không phát ra âm thanh, đồng hồ chính xác từng giây dùng để phối hợp các mũi tấn công.


Lãnh đạo cấp trên đặt nhiều hy vọng vào binh chủng này. Bác Hồ đến xem trận địa. Họ dẫn Bác ra quan sát. Chỉ thấy có vài cánh ruộng có vài ba nấm mồ và bụi cây.


- Thưa Bác đã chuẩn bị xong


- Các cháu bắt đầu xem nào.


Một hiệu lệnh phát ra. Trong giây lát xuất hiện gần chỗ Bác đứng một chiến sĩ ở tư thế tiến công.


- Các cháu khá lắm.


Có lần tôi kể ngành Quân giới trong kháng chiến chống Pháp, các ông Trần Đại Nghĩa, Ngô Gia Khảm… Chiêu nghe có vẻ thán phục. Hai bố con tôi đi chơi đến thăm thiếu tướng Nguyễn Duy Thái, thủ trưởng cũ của tôi. Ông hỏi chuyện và nói:


- Cháu ở đơn vị chiến đấu 4- 5 năm, như thế là đủ rồi. Bác cho cháu về đi học, chưa học hết cấp III thì hãy học trung cấp kỹ thuật.


- Thưa bác! Ở đơn vị chiến đấu cũng là học ạ!


- Thôi mà, cháu nên nghe bác.


Tôi không hề xin. Có lẽ ông thông cảm hoàn cảnh của tôi, chỉ có một con trai mà chiến đấu ở binh chủng đặc công thì gay lắm.


Ngày 31-5-1969, Chiêu nhận quyết định về học Trường Trung cấp Kỹ thuật Quân giới. Học sinh của trường phần đông là con em quân đội, mới học hết cấp II hoặc cấp III, họ trẻ hơn con tôi. Học được vài tuần thì Chiêu xin thôi và phàn nàn:


- Học với bọn nhóc, chán lắm!


Nhà trường bố trí cho làm công tác và huấn luyện quân sự, nhưng không yên tâm, một mực xin trở về đơn vị cũ. Tôi gặp các bạn quân giới, các anh cho biết.


- Con anh không muốn học, muốn trở về đặc công, anh nghĩ thế nào?


- Thôi thì tuỳ các anh và con tôi.


Tôi giải thích cho con:


- Nếu con không ưng học trung cấp mà chưa tốt nghiệp cấp III thì vào đại học làm sao được! Đã có trường hợp hai bố con cùng học một lớp, cùng thi một khoá, có sao đâu.


Xem ra tôi giải thích không kết quả, còn phàn nàn về chuyện này, trách tôi dẫn lên chơi nhà ông Thái làm gì để gọi về học trường trung cấp. Trong hoàn cảnh “nước sôi lửa bỏng”, tôi khó nói quá. Chả lẽ tôi đem cái thực tế chiến đấu “vào sinh ra tử” của đặc công mà khuyên con hay sao!


- Bố không cản trở con, nhưng nên suy nghĩ kỹ.


Tháng 9-1969 tôi nhận được thư con.        


“Đến nay đã hơn một tháng mà chưa đả động gì, chưa giải quyết cho con trở về đơn vị cũ. Nếu giải quyết chậm hay không giải quyết thì bước đi của con sẽ ảnh hưởng không tốt, chủ yếu là quyền lợi chính trị. Nếu không thì bắt buộc con phải viết đơn kiện lên Tổng cục Chính trị… Con phải trở về đơn vị cũ vì đấy là nơi con đóng góp cho Đảng được nhiều nhất và tốt nhất. Mong bố mẹ nhiệt tình với việc xin trở về đơn vị cũ của con”.


Tôi không thể hiểu được, hay là có ý thức chính trị, hay là… Có điều chắc chắn, con tôi không sợ chết. Trong lá thư trước khi ra trận lần cuối cùng có viết, “Con đi rồi con sẽ về” có thể nói để yên lòng cha mẹ chăng!


Ngày 21-11-1969, thiếu tướng Lê Quang Đạo - Tổng cục chính trị  ký QĐ số 507/QĐ S9 điều Chiêu về Bộ Tư lệnh Đặc công nhận công tác. Ngày 11-12-1969, Bộ Tư lệnh Đặc công cử Chiêu nhận nhiệm vụ trung đội trưởng - tiểu đoàn 20 Đặc công. Trở về Đặc công được vài tháng luyện tập theo bài bản, sau đó chuẩn bị đi chiến đấu ở Lào. Đây là lần thứ hai sang Lào, đã sang lần trước khi còn ở Binh chủng cao xạ. Sau 4 tháng ở chiến trường Lào thì về nước. Không được về thăm nhà nên có thư viết ngày 1-6-1970:


“Là mũi trưởng nên tất cả mọi việc đều phải lao đi đầu. Mỗi lần đi trinh sát địch là một lần đi vào lòng địch hay hậu phương của địch. Có lần con và hai chiến sĩ tiền nhập vào Taka (khu rađa của địch ở Xam Thông – Nong cheng) để trinh sát… Bốn tháng ở chiến trường đơn vị con đánh ba trận với số người rất ít mà diệt được 360 tên”.


Về nước được nghỉ ít ngày, sau khi bước vào luyện tập để tiếp tục đi chiến dịch mới. Trước khi đi, đơn vị tập kết ở Diễn Châu (Nghệ An). Được tin, con gái tôi vào thăm. Chiêu vui lắm, hơi ngại vì bệnh thấp khớp. Ngỏ ý, sau chiến tranh kết thúc, sẽ xuất ngũ, nên làm gì, học gì. Không ngờ đó là lần cuối cùng con tôi được gặp người chị ruột thịt của mình.


Tôi ghi lại dưới đây lá thư cuối cùng của Chiêu con tôi:




Ngày 2-10-1970


Thưa bố


Hôm 24, 25-9-1970, con về nhà thì bố vừa đi ngày 23. Thời gian ngắn nên con không lên chỗ bố được. Con đang hành quân vào chiến trường, đã tới Quảng Bình. Chỉ vài ngày nữa là tới nơi.


Sức khoẻ con vẫn bình thường, so với thời gian trước thì có giảm sút. Con hành quân bằng nhiều phương tiện, đi ôtô, đi bộ và tàu thuỷ. Gay go nhất là hai ngày đi bộ. Anh em tới nơi tập kết, nấu cơm chín xong thì con mới tới. Sức khoẻ tuy yếu nhưng tại sao con vẫn phải đi. Vì là cán bộ đảng viên thì còn hơi thở, còn phải chiến đấu, không có lý do nào cao hơn. Vả lại, trong cả tiểu đoàn chỉ còn lại con và một đồng chí nữa là cán bộ trung đội cũ đã trải qua chiến đấu, nên buộc cấp trên phải lấy con đi. Sức khoẻ con như vậy, nhưng còn ở chiến trường ngày nào thì bố tin rằng con sẽ cố gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ.


Chiều nay con tiếp tục hành quân. Thời gian gấp, con viết vội mấy dòng.


Mong bố khoẻ.


Con Chiêu


Chiêu ra trận lần này, tôi rất lo, khó mà vượt qua được. Ta đang chuẩn bị mở chiến dịch đường 9- Nam Lào. Chiến trường sẽ ác liệt vô cùng. Nhiệm vụ đặt ra là phải thắng địch ở đây vào năm 1971 để chuẩn bị giải phóng thị xã Quảng Trị và Đông Hà, nơi tiếp giáp với miền Bắc, phá tan âm mưu “Bắc tiến của địch, muốn biến mảnh đất này thành lá vững chắc để bảo vệ biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”[1].


Tôi thương con. Năm 17 tuổi tòng quân, chưa được hưởng vui chơi giải trí một ngày nào của tuổi thanh xuân. Nghe nói chưa có người yêu nhưng có lẽ chắc chắn có lần tiếp cận với một người con gái nào đó trong trạng thái có cảm giác phấn chấn trong lòng, nhưng nhiệm vụ chiến đấu đâu cho phép mơ mộng. Tôi cảm thông với con mà viết:


                 …Đường ra trận bóng trăng theo dõi


                 Xin đừng theo tôi đến tận phút quân hành.


                 Tôi thầm yêu người con gái mới quen


                 Tôi yêu người, Việt Nam ơi!


Trước khi đi B lần này, Chiêu báo cho biết “đi B ngắn” mà sao mấy năm rồi vẫn chưa về. Tôi viết thư yêu cầu binh chủng: “Nếu như có mệnh hệ nào cũng xin cho biết”. Tôi thầm nghĩ, cần biết tin con, chứ không cần hàng tháng nhận được phần lương con để lại.


Chao ơi! Thế là có giấy báo tử về gia đình (ký ngày 01-5- 1974): Hy sinh ngày 08-01- 1971 tại mặt trận phía Nam, thi hài mai táng tại khu vực riêng của đơn vị gần mặt trận, tư trang coi như thất lạc trong chiến đấu.


Tình xót thương tràn ngập gia đình. Vợ tôi nằm lịm đi, không khóc. Bạn bè lo, nếu có biến chứng gì thì gay, thường xuyên có người ngồi bên và động viên. Còn bố con tôi cố nén lòng, nước mắt trào ra, khóc không thành tiếng, chừng như ngầm bảo nhau: Khóc to lên, gào thét lên để làm gì nhỉ?


Đã ba bốn lần đến binh chủng hỏi xem con tôi hy sinh trong trường hợp nào, cho biết đôi điều ngắn gọn những giây phút cuối cùng của con tôi, nếu có thể được, mộ chí để ở đâu? Họ đều lặng lẽ cho qua. Tôi hỏi mãi thì binh chủng trả lời. Theo công văn số 1657/06 ký ngày 12-9- 1997 không quản lý tên liệt sĩ Đặng Văn Chiêu. Lấy làm lạ, tôi bèn lục hết giấy tờ còn lưu giữ, phô tô gửi bản sao cho binh chủng. Tiếp đó nhận được công văn ký ngày 30-9-1997 xác nhận “liệt sĩ Chiêu, quân hàm thiếu uý, hy sinh tại mặt trận Hội Sài (tỉnh Savanakhet, Nam Lào), đã bàn giao danh sách liệt sĩ cho Phòng Chính sách quân khu IV rồi. Từ khi bàn giao tới nay việc tổ chức, tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ do phòng chính sách quân khu đảm nhiệm!”. Thế là chấm hết, không hỏi vào đâu được nữa.


                 …Hỏi Binh chủng Đặc công


                 Hồi âm khất lần


                 Hồi âm cuối cùng: Dứt khoát


                 Khu IV theo dõi kể từ đây


                 Khu IV – xa lắm con ơi!


Đánh giá thành tích của con tôi, Nhà nước truy tặng hai Huân chương Chiến công, một Huân chương Kháng chiến, Bằng Tổ quốc ghi công. Có ông bạn cho là chưa đủ, nên đề nghị trên truy tặng một mức cao hơn, bởi lẽ con tôi đã khai tăng tuổi để nhập ngũ, đã hai lần xung phong vào đặc công đặc biệt gian nguy, sống chết với quân thù mỗi lần xung trận. Khó quá đối với tôi, phải chạy chọt, xin xỏ, điều mà tôi không thể làm được! Có lẽ dưới suối vàng con tôi cũng không ưng.


Nghe tin Sở Lao động Thương binh xã hội Quảng Trị đã quy tập được rất nhiều hài cốt liệt sĩ hy sinh 1971- 1972, con tôi hy sinh vào dịp đó trong chiến dịch đường 9- Nam Lào. Tháng 9-2002, tôi vào Quảng Trị đề nghị cho xem. Họ chiếu lên màn hình danh sách các liệt sĩ tại 72 nghĩa trang trong tỉnh, nhưng không có tên con tôi.


Có bạn nhắc tôi sao không treo huy chương của con lên vì đó là vinh dự! Thiết nghĩ vinh dự nên để trong lòng.


Nhân ghi lại những trang về cuộc đời con, tôi rà soát lại xem kỉ vật của con còn những gì? Chỉ còn mười lá thư với nét chữ mà tôi không thể quên được, một tấm hình với nét mặt bình thản, thiếu nụ cười của tuổi thanh xuân.


Sau khi ở Quảng Trị về, tôi chạnh lòng nhớ đến con, ngậm ngùi vĩnh biệt con lần thứ hai.


Dưới đây là hai bài thơ tôi viết về con tôi: NÓI CHUYỆN VỚI LIỆT SĨ


Giữa rừng xanh bát ngát đất Hội Sài[2]


Con nằm ở đâu? Ở bờ mương, bên gốc cây?


Hỏi sông, hỏi núi, hỏi suối, hỏi đồi


Chúng trả lời:


Qua “thần giao cách cảm”


Giữa vật vô tri và con người.


Khói lửa mịt mù súng nổ rung trời


Con ngã xuống đơn giản thế thôi.


Hun hút rừng Lào những nắng cùng mưa


Hỏi Binh chủng Đặc công


Hỏi đi hỏi lại, hồi âm xa lắc


Hồi âm cuối cùng,


Bộ chỉ huy khu Tư theo dõi kể từ đây.


Thế là hết, khu Tư xa quá!


Vĩnh biệt muôn đời, con ơi!


TÂM SỰ NGƯỜI CHIẾN SĨ ĐẶC CÔNG


Mắt em nhìn êm dịu đến bao quanh


Tóc em bay – mây lướt trên trời xanh


Tôi mơ tưởng người con gái không quen.


Đường ra trận bóng trăng theo dõi


Xin đừng theo tôi đến tận phút quân hành


Tôi thầm yêu người con gái mới quen


Tôi yêu người – Việt Nam ơi!


D. Tư liệu về con trai tôi: Liệt sĩ Đặng Xuân Chiêu


Như trên tôi viết về con trai tôi có ghi “sau khi vào học Trường Trung cấp kỹ thuật Quân giới, một mực xin trở về đơn vị cũ” tất nhiên không phải về đó để làm một công việc gì khác ngoài việc đi chiến đấu. Sau đó được cử ra trận hai lần. Lần thứ hai (ngày 8-01-1971) thì hy sinh. Theo giấy báo tử con tôi hy sinh ở mặt trận phía Nam. Hỏi dò thì được biết con tôi và hai chiến sĩ đồng đội đi đánh sân bay Nam Lào, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, cả ba người đi gần một bản thì không về nữa. Có lẽ vì thế mà nhiều lần hỏi Quân khu Thủ đô và Binh chủng Đặc công để biết xem mộ chí con tôi ở đâu, đều không được hồi âm.


Tháng 4-1997, nhân chuyến vào thăm Buôn Ma Thuột, tôi được giới thiệu đến gặp đồng chí Đặng Xuân Cầu cựu chiến binh nghỉ hưu quê ở Thái Bình vào sinh sống trong đó. Theo anh Cầu kể, năm 1967- 1968 anh là đại đội trưởng đại đội I Trường huấn luyện pháo cao xạ quân khu Hữu ngạn, con tôi dưới quyền chỉ huy của anh. Hồi đó, những đơn vị đặc công đầu tiên mới được thành lập. Con tôi và một số chiến sĩ tốt nghiệp xong khoá huấn luyện nói trên đã tình nguyện chuyển sang bổ sung cho đặc công. Anh Cầu nhắc lại lời Chiêu: “Đề nghị thủ trưởng cho em sang đặc công, chả có lý do gì thủ trưởng giữ em ở pháo binh nữa, nhất là đối với chúng em đã tình nguyện”. Anh theo dõi số anh em đó ai còn ai mất. Năm 1969, được tin Chiêu vẫn còn sống.


Thế là đã rõ, con tôi tình nguyện vào Binh chủng Đặc công - cảm tử. Đến khi được cử vào học Trường Trung cấp kỹ thuật lại xin trở về đơn vị cũ. Như vậy là hai lần tình nguyện.


Sự hy sinh của con tôi là một vinh dự cho gia đình tôi đã đóng góp xương máu vào sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước cùng với hàng triệu người hy sinh không tên tuổi.


Con tôi đã ra đi vĩnh viễn trong hoàn cảnh “tư trang coi như bị thất lạc trong chiến đấu”[3], không có mồ yên mả đẹp, chỉ để lại một tấm hình, trong chiến đấu mất mát cũng là chuyện bình thường. Ước ao rằng hoà bình sẽ vĩnh viễn trên đất nước này.


Để chứng minh cho những điều đã nói trên, tôi ghi lại dưới đây một số tư liệu về con tôi- Đặng Xuân Chiêu:


Theo giấy kết nạp Đảng viên và phiếu khám sức khoẻ tại tiểu đoàn huấn luyện cao xạ thì con tôi sinh ngày 18-6-1946, nhưng thực ra sinh ngày 18-6-1947 tại xã Hành Thiện huyện Xuân Trường, Nam Định. Sở dĩ khai tăng lên một tuổi để đi bộ đội, vì hồi đó phải đủ 18 tuổi mới được nhập ngũ.


- Ngày nhập ngũ: 15-10-1964 tại phường Bách khoa,quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.


- Hòm thư: 63450 – IS – T12


     638026 – 8c – 27G (E)


- Trình độ văn hoá hết lớp 7A trường cấp II Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, niên khoá 1962- 1963, sau đó học bổ túc lớp 8 niên khoá 1963- 1964 tại Hà Nội.


- Nhập ngũ vào Binh chủng Pháo binh, tham gia bảo vệ cầu Phủ Lý (Nam Hà), Lai Vu (Hải Dương) Long Chẹng, Xảm Thông (Lào)…


- Có giấy chứng nhận tốt nghiệp lớp đào tạo cán bộ pháo binh cao xạ 37 ly loại khá ngày 4-9-1966.


- Nhận quân hàm chuẩn uý tại Trường huấn luyện cao xạ ngày 5-9-1966.


- Có giấy chuẩn y kết nạp đảng viên của tiểu đoàn huấn luyện cao xạ J tại Chi bộ 13 ký ngày 1-4-1968.


- Quyết định cử chuẩn uý Đặng Xuân Chiêu trung đội phó đại đội 13 giữ chức trung đội trưởng đại đội 13 thuộc tiểu đoàn cao xạ Quân khu ký ngày 3-4-1968. Sau đó có quyết định bổ nhiệm giữ chức Trung đội trưởng Tiểu đoàn huấn luyện cao xạ thuộc Quân khu Hữu ngạn ký ngày 12-10-1968.


- Có lẽ đầu tháng 1- 1969 chuyển sang Binh chủng Đặc công vì theo Sổ tay học tập đặc công bài đầu ghi ngày 21-01-1969 giảng về “Bộc phá là vũ khí chủ yếu của Binh chủng Đặc công”.


- Có quyết định của Đoàn 305 (Đặc công) điều về Tổng cục Hậu cần nhận công tác mới, quyết định ngày 31-05-1969 tức là vào học Trường Trung cấp kỹ thuật Quân giới.


- Có quyết định của Tổng cục Hậu cần điều trở về Bộ tư lệnh Đặc công nhận công tác (QĐ ngày 21-11-1969).


- Có quyết định của Bộ Tư lệnh đoàn 305 cử giữ chức trung đội trưởng tiểu đoàn 203 (QĐ ngày 11-12-1969).


Ngày 1-9-1969 con trai tôi viết thơ cho tôi phàn nàn chưa nhận được quyết định trở về Binh chủng Đặc công. Trong thơ có viết: “Con sẽ kiên trì tới cuối tháng này, nếu vẫn không thấy đả động gì thì bắt buộc con phải viết đơn kiện lên Tổng cục Chính trị và Cục Cán bộ”.


Thế là đã rõ con tôi quyết tâm chiến đấu cho độc lập thống nhất đất nước, chấp nhận những khó khăn gian khổ của người lính đặc công cho dù có phải hy sinh đến tính mạng.


“Quyết tử cho Tổ quyết sinh”!


Đã bốn lần quân đội cử cán bộ đến thăm gia đình và 3- 4 lần tôi đến thăm đơn vị hỏi về trường hợp con tôi, 26 năm qua không có hồi âm. Đến năm 1997, nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Thương binh liệt sĩ, tôi hỏi một lần nữa thì Binh chủng Đặc công trả lời là con tôi hy sinh tại Hội Sài-Savanakhét- Lào.


Viết tới dòng này tôi càng thương con tôi, 17 tuổi đã vào bộ đội không được hưởng ngày nào của tuổi thanh niên, được vui chơi chạy nhảy, được ăn một bữa cơm đủ chất. Năm 16, tuổi con tôi tập quyền anh dưới sự hướng dẫn của thầy dạy toán Thanh Sơn. Mỗi lần tập xong về nhà nằm thở, bụng thoi thóp. Không những không ăn được no mà còn thiếu chất để mà vận động. Chiêu bảo tôi:


- Bố xin cho con tiêu chuẩn 15 cân gạo, ăn 13 cân đói lắm.


- Đến bố đây cũng không xin được 15 cân đâu con ạ! Nên tập thể thao bình thường thôi, không đủ sức tập quyền được đâu. Mỗi ngày tối thiểu phải ăn ít nhất nửa lạng thịt, một quả trứng thì may ra mới có sức tập quyền.


Đến nay ngày nào gia đình tôi cũng được ăn đầy đủ thịt cá, quả tươi thì không còn con tôi nữa. Không những người được ăn đầy đủ, ngay cả con mèo ngày nào cũng được ăn thịt cá. Tiếc rằng hồi đó con tôi không có cái tiêu chuẩn thịt cá như của mèo!


Về học tập con tôi hoàn toàn tự lực cánh sinh, thỉnh thoảng tôi động viên đôi câu. Mỗi năm chỉ có một quyển vở và được mua một quyển sách tuỳ chọn. Thế mà ngày nay các cháu tôi đầy đủ sách vở đến mức chúng không thể dùng hết được.


Về mặc quần áo chỉ đủ lành. Một lần vào mùa lạnh được mặc cái áo bông mới, con tôi phấn khởi lắm. Sinh ra và lớn lên vào cái thời điểm khó khăn cùng cực của kháng chiến cứu nước, gia đình lại chìm ngập trong hoàn cảnh thiếu thốn, con tôi đã phải kinh qua mọi thiệt thòi.


“Sự đời đã qua, nếu có chỗ nào cha mẹ không hoàn thành được nhiệm vụ đối với con, dưới suối vàng, xin con thứ lỗi”.


“Cha biết lần cuối cùng con ra trận khó mà thoát khỏi nguy hiểm, vì sự việc trên đời, trong hoàn cảnh của con, đặt vào cảnh tình nguyện, nó sẽ thuận chiều là như thế. Không biết trước khi ra trận, đơn vị con có làm lễ truy điệu sống cho con và đồng đội không! Nếu cha được dự lễ truy điệu này thì có lẽ phút đầu tiên là lặng lẽ đứng ngây người ra, tới khi các con lên đường thì chỉ có thể động viên bằng một câu nói xã giao: Chúc các con chiến thắng trở về”.


Bạn tôi gợi ý: “Rõ ràng là con anh tình nguyện nhiều lần đi chiến đấu ở những nơi gian khổ nhất. Khai tăng tuổi đi bộ đội, hai lần xin vào đơn vị đặc công, được đi học thì lại xin trở về đội đặc công và hy sinh, đề nghị binh chủng tự lên trên truy tặng con anh là Liệt sĩ anh hùng Quân đội”. Chuyện đó là tuỳ Binh chủng thôi. Cảm ơn bạn, điều này tôi không thể làm được. Chắc dưới suối vàng, con tôi cũng không ưng.


Nhiều bạn bè hiểu thấu nỗi lòng của cha con tôi nên rất thông cảm.


Dưới đây tôi ghi lại bài thơ của cô giáo Trường Đại học Mỏ địa chất, cô Ý Lan viết tặng cha con tôi nhân ngày nhận báo tử Đặng Xuân Chiêu:


TÂM SỰ NGƯỜI CHA (*)


Sông đào hát ru con trong lòng mẹ.


Quê hương nghèo con vẫn lớn lên


Mười bảy tuổi những ước mơ và dự định


Theo tình yêu Tổ quốc lớn lên


Mẹ cha nuôi dưỡng tâm hồn


Qua mắt con, lòng cảm nhận


Thầm gửi bao nhiêu hi vọng


Đợi chờ, ôi xao xuyến tương lai!


Vươn dần tầm vóc đứa con trai.


Đọc thấy trong con


Lòng mẹ tình cha và đất nước.


Rồi con đi, dõi theo từng bước


Những dòng sông


Những bến phà


Những tên xóm, tên làng có bước chân qua.


Mẹ nhắc con những chiều sương xuống


Chị nhắc con những buổi nắng hồng


Em nhắc con những độ xuân sang


Cha không nhắc mà lòng không nguôi nhớ.


Con ra đi mang nặng trong lòng


Những khát vọng cho một ngày thắng lợi.


Không có tên con trong danh sách anh hùng


Con đã góp cuộc đời cho chiến công chung


Đất nước nhận con


Như cha đã ôm con vào lòng lần thứ nhất.


(còn tiếp)


Nguồn: Thân thương cuộc đời. Tập Ký chọn lọc của Đặng Xuân Đĩnh. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


_________ 




[1] Xem “Thành Cổ Quảng Trị”. Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Quảng Trị, xuất bản năm 2000.




[2] Thuộc tỉnh Savanakhét, Lào. Nhân ngày 27- 7- 2002.




[3] Theo giấy báo tử.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập - Phùng Quán 27.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (14) - Frank Snepp 25.03.2020
Nhà văn Triệu Xuân, tấm gương Sống và Viết - Hoàng Kim Vũ 22.03.2020
Khúc khuỷu đường đời (15) - Nguyễn Tài 20.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (13) - Frank Snepp 20.03.2020
Hoa cúc dại cuối mùa - Nguyễn Trọng Luân 20.03.2020
Trung Quốc: Lừa dối, Man trá, bịp bợm - Nghiêm Ca Linh 19.03.2020
Tình người - Tư liệu sưu tầm 16.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (12) - Frank Snepp 15.03.2020
Cuộc tháo chạy tán loạn [The Decent Interval] (11) - Frank Snepp 12.03.2020
xem thêm »