tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Thơ
02.02.2015
Nguyễn Kim Ngân
Thơ của Nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Kim Ngân (2)

 CHIM YẾN ĐỎ


Sóng nổi như nấm mồ


Biển hát hay lời ru


Trời in chi giọt lệ


Trên từng nhánh san hô


 


Mảnh xương mang tình tôi


Nằm đâu trong lòng biển


Những sợi tóc thánh thiện


Trôi dạt cùng rong rêu


 


Nhớ một thời Trưng Vương 1


Ve sầu, hoa phượng đỏ


Qua trường em bỡ ngỡ


Kín cổng như dòng tu


 


Năm năm trời mưa ngâu


Anh ngồi bên thềm vắng


Lặng nhìn màu hoa trắng


Em đem áo ra phơi


 


Các em biết gì đâu


Mối tình thầy và chị


Cứ nhìn nhau lặng lẽ


Cứ nhìn nhau năm năm


 


Em ra đi mùa xuân


Con chim chưa làm tổ


Trời mang chi nỗi khổ


Đổ tràn biển nhân gian


 


Từ nay con dã tràng


Chở thêm niềm đau khổ


Và mặt trời đốt lửa


Biển thay áo cho em


 


Mùa xuân em làm chim


Nhả máu mình làm tổ


Em là chim yến đỏ


Trên vách đá đời anh.


1986


___


1 Tên một Trường trung học ở Sài Gòn


 


NHỮNG TÀ ÁO BAY QUA


                               Tặng Dung


Lòng trống trải nghe chừng muôn hướng gió


Lạnh suốt từ dĩ vãng đến mai sau


Áo em dài đắp ấm mảnh trời nào


Bay tha thướt suốt một đời chưa dứt


Những thuở áo học trò hoen vết mực


Sợ ai cười để trễ chuyến đò ngang


Ngày chung trường tôi ngồi cách một bàn


Hay vô ý đạp lên tà áo trắng


Tôi luống cuống em chỉ cười im lặng


Không trách hờn mà đôi má hồng thêm


Những buổi mai ngồi đợi áo qua thềm


Tôi rất sợ những ngày em nghỉ học


Trưa mùa hè gió nam đùa mái tóc


Em thẹn thùng sợ tà áo tung bay


Thương mùa đông một bóng với đường dài


Em khuất áo vào trong màn sương sớm


Tình yêu đó, thoảng qua đời mới chớm


Lưu luyến nhìn trường cũ bỏ ra đi


Người tiễn tôi cũng mặc chiếc áo dài


Tàu cuốn gió sân ga còn lướt thướt


Rồi mấy năm chiến tranh không về được


Áo ngày xưa trôi dạt đến muôn phương


Chiều nay về hiu hắt gió phi trường


Không ngờ lại gặp người như giấc mộng


Áo ngày xưa bây giờ xanh nước sóng


Em mang ngày biển động đến đời tôi


Cánh đồng mây đơm trắng cả lưng trời


Em lướt áo qua đời tôi ở đó


Chuyện ngày xưa chưa một lần dám ngỏ


Em bây giờ ngày tháng giữa trời mây


Tôi ngồi nghe hơi lạnh đổ chùng vai


Ngoài cánh nước mây đông về dưới thấp.


1969


ĐÊM XUÂN                 


                Tặng Thùy Dương Tử


Đêm giao thừa không muốn về gác trọ


Một mình đi dưới phố vắng đường khuya


Khi mỏi chân vào hiên chùa trú gió


Gặp lại anh tay siết chẳng muốn lìa.


Tôi vẫn tưởng không còn ngày gặp lại


Anh đã về lưu vực hoặc rừng sâu


Phút thoáng qua tôi thấy lòng ái ngại


Nếu không nhờ chiếc áo đã quên nhau.


 


Anh kéo tôi vào quán cà phê nhỏ


Uống ấm lòng mình ôn chuyện ngày qua


Từng con đường, từng ngã tư, góc phố


Còn in đầy những dấu tích xót xa.


 


Mình cúi đầu gọi tên từng đứa bạn


Đứa đi xa, đứa còn ở trong tù


Đứa còn học đếm từng năm, từng tháng


Đời ngập chìm trong bóng tối âm u.


 


Anh kể tôi nghe cuộc đời bão tố


Đời làm thơ và mộng ước quê hương


Đời đấu tranh buồn vui là duyên nợ


Như ông cha thuở trước đã lên đường.


 


Tôi kể anh nghe những năm không trở lại


Đường không xa sao không thể trở về


Tết bụng đói dù nghe lòng tê tái


Vẫn còn hơn nhìn thấy cảnh trời quê.


 


Trên dòng thư nét chữ ngày một lạc


Chắc mẹ tôi mái tóc đã sương nhiều


Nhớ bà con, nhớ xóm làng phiêu bạt


Biết tuổi già còn sống được bao nhiêu.


 


Tôi vẫn đắp mùa xuân trong mộng tưởng


Thành phố kia dẫm nát bước chân người


Tôi đón đợi anh về từ khắp hướng


Phút huy hoàng thao thức mãi không nguôi.


1965


QUÊ HƯƠNG CHÌM ĐẮM


Cha tôi chết một mùa chinh chiến cũ


Mười lăm năm hồn lạc lõng Tây Nguyên


Những chiều mưa như thác đổ triền miên


Người có biết quê hương giờ tan nát


Mẹ ở miền Trung, con về thành phố


Thân bơ vơ con hẻm cũ không đèn


Mưa Tháng năm buồn dâng lên tắt nghẹn


Ngại nhà xưa trong một phút mưa bom


Không biết mẹ tôi nay còn sống?


Và thằng em chạy trốn cuộc hành quân


Nửa làng tôi, nửa người thân khuất bóng


Chiều ra đi xóm vắng ngủ ven rừng


Tôi sợ ngày về không còn gì nữa


Con đường xưa đón nhận kẻ không hồn


Trong đêm nay nhìn trăng như lệ ứa


Tôi nguyện cầu đất nước bớt đau hơn.


1965


*Bài thơ này được đăng trên báo Ngày Nay - số 35, ngày 28-5-1965, nhưng bị chế độ Sài Gòn kiểm duyệt, bỏ trống chỉ còn cái tựa và lời bình.


CHIẾC CÒNG SẮT


Tặng Trần Văn Long, Nguyễn Thanh Tòng và Nguyễn Tuấn Kiệt.


Chiếc xe cuối qua Pháp đình 1 nhục nhã          


Tôi vẫy tay vùng tối chập chờn buông


Đêm tối rồi và họng súng cũng đen


Chiếc còng sắt hai khoen ngời ánh bạc


Một khoen của quân ngoại bang gian ác


Còn một khoen "chính nghĩa" đã tặng anh


Ánh đèn đường rũ úa lá me xanh


Anh đưa cánh tay lên cười ngạo nghễ


Nhưng bọn tôi có nhiều người rớm lệ


Mím chặt môi: "Quân tàn bạo vô nhân".


Anh nhờ người nhắn lại với tôi rằng:


"Đừng cho biết, mẹ già anh sẽ khóc


Nếu có hỏi bảo anh còn đi học


Vẫn bình yên và đỗ đạt như xưa


Thôi giã từ các bạn giữa đêm mưa


Tôi đã nếm đủ mùi trong ngục thất..."


... Tôi tiếc nhớ những ngày xưa đã mất       


Những bữa ăn đếm từng bát cơm vơi


Những đêm nằm cùng hướng mắt xa vời


Gợi chuyện cũ hai thằng đều nhớ mẹ


Mình tưởng tượng một ngày vui vô kể


Ngày hòa bình đi bộ về quê hương


Hay cùng đi con tàu suốt đêm trường


Vui ca hát qua từng miền đất nhỏ


Mình xây lại quê nghèo bao đổ vỡ


Thôi tủi hờn cho vùng đất bỏ quên


Uống thời gian và mộng ước say mềm


Giờ bó gối nghe sóng dồi Côn Đảo 2


Tôi ở đây với lũ người trơ tráo


Không còn mơ, còn ước chuyện thanh bình


Thôi chỉ còn một giải pháp đao binh


Lấy xương máu nói với loài theo giặc.


1969


__


1 Pháp đình: tòa án Sài Gòn


2 Ba anh: Trần Văn Long (Năm Hiền), Nguyễn Thanh Tòng và Nguyễn Tuấn Kiệt trong phong trào HSSV bị kết án 3 năm tù Côn Đảo ở Chuồng Cọp.   


Nguồn: Sông chảy bên Trời. Tập thơ của Nguyễn Kim Ngân. NXB Văn học, 2007.Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hạnh phúc người cầm bút - Hoàng Kim Vũ 27.03.2020
Mặn và ngọt - Trần Mai Hưởng 19.03.2020
Thao thức/ Tôi vẫn nợ em một lời xin lỗi - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Ở một nơi không có mùa Xuân/ Lời quê hương - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Chết như người Vệt Nam/ Con sinh ra trên đất Mỹ - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Vẫn đứng lên cười với thế nhân/ THương Paris như nỗi nhớ Sài Gòn - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Đêm ngồi nghe tiếng chim trên biển/ Em bé Việt Nam & viên sỏi - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười/ Đêm bằng hữu ở Montreal - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Người con gái Việt nam trên đại lộ Sri Ayutthaya - Trần Trung Ðạo 17.03.2020
Hương đêm/ Trốn nắng - Phạm Đức Mạnh 16.03.2020
xem thêm »