CHIM YẾN ĐỎ
Sóng nổi như nấm mồ
Biển hát hay lời ru
Trời in chi giọt lệ
Trên từng nhánh san hô
Mảnh xương mang tình tôi
Nằm đâu trong lòng biển
Những sợi tóc thánh thiện
Trôi dạt cùng rong rêu
Nhớ một thời Trưng Vương 1
Ve sầu, hoa phượng đỏ
Qua trường em bỡ ngỡ
Kín cổng như dòng tu
Năm năm trời mưa ngâu
Anh ngồi bên thềm vắng
Lặng nhìn màu hoa trắng
Em đem áo ra phơi
Các em biết gì đâu
Mối tình thầy và chị
Cứ nhìn nhau lặng lẽ
Cứ nhìn nhau năm năm
Em ra đi mùa xuân
Con chim chưa làm tổ
Trời mang chi nỗi khổ
Đổ tràn biển nhân gian
Từ nay con dã tràng
Chở thêm niềm đau khổ
Và mặt trời đốt lửa
Biển thay áo cho em
Mùa xuân em làm chim
Nhả máu mình làm tổ
Em là chim yến đỏ
Trên vách đá đời anh.
1986
___
1 Tên một Trường trung học ở Sài Gòn
NHỮNG TÀ ÁO BAY QUA
Tặng Dung
Lòng trống trải nghe chừng muôn hướng gió
Lạnh suốt từ dĩ vãng đến mai sau
Áo em dài đắp ấm mảnh trời nào
Bay tha thướt suốt một đời chưa dứt
Những thuở áo học trò hoen vết mực
Sợ ai cười để trễ chuyến đò ngang
Ngày chung trường tôi ngồi cách một bàn
Hay vô ý đạp lên tà áo trắng
Tôi luống cuống em chỉ cười im lặng
Không trách hờn mà đôi má hồng thêm
Những buổi mai ngồi đợi áo qua thềm
Tôi rất sợ những ngày em nghỉ học
Trưa mùa hè gió nam đùa mái tóc
Em thẹn thùng sợ tà áo tung bay
Thương mùa đông một bóng với đường dài
Em khuất áo vào trong màn sương sớm
Tình yêu đó, thoảng qua đời mới chớm
Lưu luyến nhìn trường cũ bỏ ra đi
Người tiễn tôi cũng mặc chiếc áo dài
Tàu cuốn gió sân ga còn lướt thướt
Rồi mấy năm chiến tranh không về được
Áo ngày xưa trôi dạt đến muôn phương
Chiều nay về hiu hắt gió phi trường
Không ngờ lại gặp người như giấc mộng
Áo ngày xưa bây giờ xanh nước sóng
Em mang ngày biển động đến đời tôi
Cánh đồng mây đơm trắng cả lưng trời
Em lướt áo qua đời tôi ở đó
Chuyện ngày xưa chưa một lần dám ngỏ
Em bây giờ ngày tháng giữa trời mây
Tôi ngồi nghe hơi lạnh đổ chùng vai
Ngoài cánh nước mây đông về dưới thấp.
1969
ĐÊM XUÂN
Tặng Thùy Dương Tử
Đêm giao thừa không muốn về gác trọ
Một mình đi dưới phố vắng đường khuya
Khi mỏi chân vào hiên chùa trú gió
Gặp lại anh tay siết chẳng muốn lìa.
Tôi vẫn tưởng không còn ngày gặp lại
Anh đã về lưu vực hoặc rừng sâu
Phút thoáng qua tôi thấy lòng ái ngại
Nếu không nhờ chiếc áo đã quên nhau.
Anh kéo tôi vào quán cà phê nhỏ
Uống ấm lòng mình ôn chuyện ngày qua
Từng con đường, từng ngã tư, góc phố
Còn in đầy những dấu tích xót xa.
Mình cúi đầu gọi tên từng đứa bạn
Đứa đi xa, đứa còn ở trong tù
Đứa còn học đếm từng năm, từng tháng
Đời ngập chìm trong bóng tối âm u.
Anh kể tôi nghe cuộc đời bão tố
Đời làm thơ và mộng ước quê hương
Đời đấu tranh buồn vui là duyên nợ
Như ông cha thuở trước đã lên đường.
Tôi kể anh nghe những năm không trở lại
Đường không xa sao không thể trở về
Tết bụng đói dù nghe lòng tê tái
Vẫn còn hơn nhìn thấy cảnh trời quê.
Trên dòng thư nét chữ ngày một lạc
Chắc mẹ tôi mái tóc đã sương nhiều
Nhớ bà con, nhớ xóm làng phiêu bạt
Biết tuổi già còn sống được bao nhiêu.
Tôi vẫn đắp mùa xuân trong mộng tưởng
Thành phố kia dẫm nát bước chân người
Tôi đón đợi anh về từ khắp hướng
Phút huy hoàng thao thức mãi không nguôi.
1965
QUÊ HƯƠNG CHÌM ĐẮM
Cha tôi chết một mùa chinh chiến cũ
Mười lăm năm hồn lạc lõng Tây Nguyên
Những chiều mưa như thác đổ triền miên
Người có biết quê hương giờ tan nát
Mẹ ở miền Trung, con về thành phố
Thân bơ vơ con hẻm cũ không đèn
Mưa Tháng năm buồn dâng lên tắt nghẹn
Ngại nhà xưa trong một phút mưa bom
Không biết mẹ tôi nay còn sống?
Và thằng em chạy trốn cuộc hành quân
Nửa làng tôi, nửa người thân khuất bóng
Chiều ra đi xóm vắng ngủ ven rừng
Tôi sợ ngày về không còn gì nữa
Con đường xưa đón nhận kẻ không hồn
Trong đêm nay nhìn trăng như lệ ứa
Tôi nguyện cầu đất nước bớt đau hơn.
1965
*Bài thơ này được đăng trên báo Ngày Nay - số 35, ngày 28-5-1965, nhưng bị chế độ Sài Gòn kiểm duyệt, bỏ trống chỉ còn cái tựa và lời bình.
CHIẾC CÒNG SẮT
Tặng Trần Văn Long, Nguyễn Thanh Tòng và Nguyễn Tuấn Kiệt.
Chiếc xe cuối qua Pháp đình 1 nhục nhã
Tôi vẫy tay vùng tối chập chờn buông
Đêm tối rồi và họng súng cũng đen
Chiếc còng sắt hai khoen ngời ánh bạc
Một khoen của quân ngoại bang gian ác
Còn một khoen "chính nghĩa" đã tặng anh
Ánh đèn đường rũ úa lá me xanh
Anh đưa cánh tay lên cười ngạo nghễ
Nhưng bọn tôi có nhiều người rớm lệ
Mím chặt môi: "Quân tàn bạo vô nhân".
Anh nhờ người nhắn lại với tôi rằng:
"Đừng cho biết, mẹ già anh sẽ khóc
Nếu có hỏi bảo anh còn đi học
Vẫn bình yên và đỗ đạt như xưa
Thôi giã từ các bạn giữa đêm mưa
Tôi đã nếm đủ mùi trong ngục thất..."
... Tôi tiếc nhớ những ngày xưa đã mất
Những bữa ăn đếm từng bát cơm vơi
Những đêm nằm cùng hướng mắt xa vời
Gợi chuyện cũ hai thằng đều nhớ mẹ
Mình tưởng tượng một ngày vui vô kể
Ngày hòa bình đi bộ về quê hương
Hay cùng đi con tàu suốt đêm trường
Vui ca hát qua từng miền đất nhỏ
Mình xây lại quê nghèo bao đổ vỡ
Thôi tủi hờn cho vùng đất bỏ quên
Uống thời gian và mộng ước say mềm
Giờ bó gối nghe sóng dồi Côn Đảo 2
Tôi ở đây với lũ người trơ tráo
Không còn mơ, còn ước chuyện thanh bình
Thôi chỉ còn một giải pháp đao binh
Lấy xương máu nói với loài theo giặc.
1969
__
1 Pháp đình: tòa án Sài Gòn
2 Ba anh: Trần Văn Long (Năm Hiền), Nguyễn Thanh Tòng và Nguyễn Tuấn Kiệt trong phong trào HSSV bị kết án 3 năm tù Côn Đảo ở Chuồng Cọp.
Nguồn: Sông chảy bên Trời. Tập thơ của Nguyễn Kim Ngân. NXB Văn học, 2007.Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân
www.trieuxuan.info
|