Lời nói đầu: Sau khi đọc tập thơ Lữ hành (NXB Văn học, 2014), một số bạn đọc, chẳng hạn, PGS.TS Đinh Thị Minh Hằng (Viện Văn học) đã gặp tôi đề nghị “Anh nên có một tuyên ngôn cho kiểu thơ mới, thơ hình họa”. Tôi cứ suy nghĩ mãi. Nói “tuyên ngôn” thì to tát quá. Nhưng không có lời nào “phi lộ” trước bạn đọc thì sẽ là không phải. Vì vậy, trước khi bạn đọc cầm trên tay cuốn trường ca này, tôi xin có vài lời bộc bạch như sau:
Trong khoảng một hoặc hơn thập niên gần đây, bạn đọc đã bắt đầu xa lánh thơ. Có người chỉ nghe nói đến thơ đã có những phản ứng dè bỉu, thậm chí giễu cợt, châm biếm. Bởi trên thực tế, thơ giai đoạn sau chiến tranh ít có cái mới, đó là chưa nói, phần nhiều thơ có sự lặp lại, nhàm chán hoặc rất non yếu về nội dung. Thơ không còn là tiếng lòng để người đọc tri âm. Nó như là một cái gì quá phù phiếm tồn tại trên cõi đời này.
Để khắc phục tình trạng đó, một số nhà thơ đã thay đổi phương pháp sáng tác, trăn trở tìm con đường đổi mới thơ ca. Một số đã chuyển hướng sáng tác theo hướng Hậu hiện đại. Chủ nghĩa hay khuynh hướng nào cũng đều không quan trọng. Quan trọng là bạn đọc có đồng cảm và chia sẽ với nhà thơ hay không?
Cũng may, trong tập Lữ hành của tôi (Nxb Văn học 2014)có nhiều bài được viết theo kiểu hình họa (hình đồng hồ cát, hình cái ly, hình cái nơ, hình tháp chồng, hình mũi tên…) lại được rất nhiều bạn đọc yêu thích. Có nhà phê bình còn cho rằng “Lữ hành là cuộc cách tân thơ tân hình thức và khai sinh ra dòng thơ hình họa”(*).
Thơ hình họa là loại thơ khác hẳn với thứ thơ mô phỏng/hay thơ hình thức một thời đã xuất hiện ở Việt Nam (với các tác giả như Nguyễn Vĩ, Lê Ta, Trần Huấn Chương). Loại thơ này thường cấu trúc bài thơ phỏng theo một hiện tượng thiên nhiên nào đó. Thơ hình họa (còn gọi là thơ hình vẽ) muốn đạt tới sự truyền cảm bằng cả hai con đường đọc và nhìn. Ở đây những hình họa được “tạo hình” từ những câu thơ không thuần túy chỉ là trò chơi ngôn ngữ mà còn mang một thông báo nghệ thuật ngầm ẩn đằng sau lớp vỏ ngôn từ. Ví dụ, trong trường ca này, tôi sử dụng khá nhiều hình họa khác nhau như: hình mái nhà rông, hình trống đồng, hình cái lư đồng, hình cái bình cổ, hình cái hũ, hình cây rơm… với những biểu tượng và ẩn ý nhằm bộc lộ rằng, cuộc chiến này là cuộc đọ sức của hai nền văn hóa. Trong đó, Việt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời đã chiến thắng nền văn hóa thực dụng với những phương tiện và vũ khí hiện đại kiểu Mỹ. Một số hình vẽ còn bổ sung thêm thông tin hàm ẩn bên cạnh hình tượng thơ. Chẳng hạn, có chỗ tôi dùng hình vẽ là cái hũ nhằm gợi nhớ hình ảnh “hũ gạo nuôi quân” thời kháng Pháp. Có chỗ tôi dùng hình vỏ cát tút đạn để biểu tượng hình ảnh ác liệt của chiến tranh. Có chỗ dùng hình con quay để biểu tượng thái độ tráo trở của Ngô Đình Diệm. Có chỗ dùng hình giọt lệ để nói về sự mất mát, đau thương. Có chỗ dùng hình cây Thánh giá để biểu tượng cho niềm tin và sự thiêng liêng giống như các con chiên hướng về Thiên Chúa. Cuối chương “Trận đánh cuối cùng”, tôi dùng hình bản đồ Việt Nam để biểu tượng cho sự chiến thắng toàn vẹn, sự thống nhất vững bền của giang sơn đất Việt…
Viết một bản trường ca về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã khó, mà thể hiện nó qua hình thức của cấu trúc hình họa lại càng khó hơn. Điều đó đòi hỏi người viết phải có tinh thần làm việc tỉ mỉ, nghiêm túc và phải có sự am hiểu khá tường tận về đặc điểm loại hình của ngôn ngữ dân tộc để phát huy hết tiềm năng của tiếng – một đơn vị độc đáo của tiếng Việt. Đây là đơn vị có khả năng biến hóa linh hoạt trong kết hợp tuyến tính và có khả năng đánh thức trường liên tưởng của người đọc về các nghĩa tiềm tàng của từ. Nếu biết phát huy thế mạnh của nó, chúng ta có thể tạo ra những câu thơ có nhiều tầng bậc ngữ nghĩa, giàu âm hưởng về mặt ngữ âm. Ngược lại, nếu ta tùy tiện áp đặt ý chí chủ quan lên nó thì có thể ta sẽ tạo ra những câu thơ vô nghĩa, đôi khi ngớ ngẩn. Đó là một thách thức không nhỏ đối với chúng tôi, cũng như với những người làm thơ nói chung.
Thơ hình họa thực chất đã phá bỏ một nguyên tắc phổ biến là tính hình tuyến của ngôn ngữ trong quá trình tạo lập văn bản. Đọc thơ hình họa, cùng lúc ta có thể nhận ra nhiều biến thể về cách ngắt nhịp, hòa âm của ngôn ngữ thơ, tùy theo cảm hứng của độc giả. Vừa đọc, vừa xem đó chính là cách tiếp cận thơ hình họa. Hy vọng, trường phái thơ này sẽ tiếp tục nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của độc giả.
____
(*) Nguyễn Trị Trà My “Lữ hành là cuộc cách tân thơ tân hình thức và khai sinh dòng thơ hình họa”, Tạp chí Văn nghệ Thủ đô, số 11 năm 2014.
Hữu Đạt
CUỘC CHIẾN MƯỜI NGÀN NGÀY
Trường ca
NXB Công an Nhân dân, 2015.
(Trích đoạn)
Chương ba: Mãi mãi Điện Biên
Từ thuở ấy anh đi hình cái bình cổ
Đã bao mùa lúa trổ
Áo chiến binh sờn bạc mấy lần
Mép ba lô bao lần thay chỉ cũ
Bao con đường
không nhớ hết
chặng dừng chân
Bao làng xóm anh qua
vẫn một màu lam lũ
Nhưng tình yêu trong sáng đến vô ngần
Không gì đẹp hơn anh được nữa
Hình ảnh người chiến sĩ Vệ quốc quân
Đôi dép cao su đi qua hai thế kỷ
Dân tộc từ đây ngẩng mặt trước toàn cầu
Lịch sử lật thêm trang hùng vĩ
Nguời lính chân trần, vai bạc áo nâu
Từ thuở ấy anh đi hình lọ hoa
Bên cánh rừng
Trần Hưng đạo
vẫn âm vang tiếng hát
Ba mươi tư người lính đầu tiên
Lớn lên từ núi rừng Việt Bắc
Sức vươn vai như Phù Đổng thần kỳ
Chân đạp núi rừng Gươm mài đá sắc
Tổ quốc cùng theo bước anh đi
Cùng với nước Cộng hòa non trẻ
Ngày hôm nay anh trở lại với rừng
Đêm Việt Bắc bập bùng ánh lửa
Một đoạn suối bên đường
bao khuôn mặt soi chung
Thương đất nước
bao đau thương
tang tóc
Khắp bốn phương giặc đói vẫn hoành hành
Kháng chiến gian lao, đành thắt lưng buộc bụng
Muốn thắng giặc thù, ta không thể đánh nhanh
Lời Bác dặn phải trường kỳ kháng chiến
Hũ gạo nuôi quân chiu chắt từng ngày
Mẹ nhịn đói dành cho người ra trận
Lời ru buồn theo đôi cánh hạc bay
Ru rằng: Ham đánh giặc Tây
Cha đi từ thuở nhừng ngày tóc xanh
Vườn chiều nở trắng hoa chanh
Nhà ai đêm lạnh mong manh gió lùa
Não lòng tiếng khóc con thơ
Võng đưa kẽo kẹt, ầu ơ tiếng bà
Mẹ đi tiếp vận đường xa
Mong sao có dịp gặp cha một ngày…
Đường kháng chiến dài theo năm tháng
Anh không ngừng nhịp bước hành quân
Hết chiến thắng Sông Lô, Biên giới
Lại chuyển sangchiến dịch Hòa Bình
Anh lại thắng như bao lần đã thắng
Ba mươi tư chiến sĩ năm xưa
nay thành những trung đoàn
Từ rút lui chuyển sang cầm cự
Đợi một ngày sẽ Tổng phản công
Lịch sử chọn nơi đây làm điểm nút
Ai thắng Điện Biên sẽ làm chủ cuộc cờ
Cuộc chiến ba ngàn ngày chưa nói được
Ai là người chiến bại giữa cuộc đua?
Lời thách đố vang lên như tiếng sấm
Tướng Pháp huyênh hoang tuyên bố trước toàn cầu
Vùng Tây Bắc nay đã thành cứ điểm
“Việt Minh có can trường hãy đến thử thách nhau”
Bộ Chính trị họp bàn trong lán trúc
Bàn gỗ thênh thang chỉ có những tách trà
Không bơ sữa, rượu bia và thịt hộp
Những mái đầu chụm lại dưới người Cha
Trên vách nứa treo lá cờ Tổ quốc
Thế trận bày ra trong từng góc bản đồ
Bác đứng dậy với cây chì đỏ
Bước bồi hồi như thể trong mơ
Đêm trăng sáng rạng ngời như cổ tích
Người đứng trầm tư bên góc lán lặng nhìn
Thương chiến sĩ đang giữa mùa chiến dịch
Vó ngựa lưng đèo luôn rộn rã báo tin
Tứ thơ mới hiện về Bác chưa kịp viết
Công điện đường xa tới tấp đưa về
Bộ Chính trị thêm một lần nhóm họp
Sớm mai rày Bác tiễn Anh đi (*)
Thầy giáo sử tuổi thanh xuân đứng lớp(**)
Nay là Anh - Tư lệnh những binh đoàn
Bác tin tưởng giao cho Anh trọng trách
Quyết lần này phải thắng trận Điện Biên
Phút bịn rịn Anh ôm hôn má Bác
Nẻo đường xa yên ngựa đã sắn sàng
Khắp trận tuyến nghe tiếng gầm đại bác
Chợt bên đường nở mấy nhánh phong lan
Đường hỏa tuyến dân công đi tải đạn
Vui như đi mở hội lúc xuân về
Xe đạp cũ cũng hóa thành người lĩnh
Cùng đồng hành theo mỗi bước quân đi
Pháo đã kéo, chốt trên đồi chiến dịch
Chì chờ nghe lệnh phát hỏa diệt thù
Nhưng mười một đêm Anh Văn không ngủ
Sương trắng giăng đầy quanh lán chiến khu
Một quyết định khó khăn đầy nước mắt
Kéo pháo vào rồi, nay lại kéo pháo ra
Chuyển kế hoạch đánh nhanh thành tiến chắc
Mấy ai tin vì chuyện quá bất ngờ?
Nhưng không thể chù chừ được nữa
Tổng hành dinh đã phát lệnh xuống rồi
Cuộc vận động đã xuống từng đại đội
Thời gian gấp rồi phải hành động ngay thôi
Lại kéo phéo ra để họp bàn chấn chỉnh hình chiếc đôn
Suy tính từng ly những mất những còn
Vì thương tiếc máu xương
của từng người linh
Đại tướng đành lùi
cho đánh chậm hơn
Từ thuở ấy anh đi
Cuộc kháng chiến
mấy ngàn ngày không nghỉ
Sáng sớm mai là trận đánh cuối cùng
Thư viết vội trên tay người chiến sĩ
Nhắn gửi về người sống ở hậu phương
__
(*),(**) Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp
Bạn ở Quảng Bình, tôi thị xã Sơn Tây…
Đêm chiến dịch vây quanh lửa trại
Những ngày xuân hoa trắng rụng đầy
Tốp lính trẻ vỗ tay líu ríu
Súng dựa hờ trên mỗi bờ vai
Câu Quan họ cô dân công vừa hát
Át cả tiếng gầm của những tốp máy bay
Buổi sáng ấy như rất nhiều buổi sáng
Nai vẫn kêu bên suối gọi bạn tình
Quân với dân vừa qua đêm hò hẹn
Lệnh nổ súng đã bắt đầu từ Tổng hành dinh
Pháo trút lửa ngay trên đồi A1 hình chiếc ly lớn
Nóc Him Lam khói đã bốc mịt mù
Những người lính ào lên như thác lũ
Bọn địch co về quyết cố thủ từng khu
Đường quyết chiến mở thêm nhiều lối mới
Những rãnh hào đi chằng chịt áp đồn thù
Mồ hôi sũng lưng, thấm trên từng xẻng đất
Những vòng vây cứ ép chặt từng khu
Địch rối loạn điên cuồng chống trả
Pháo kích liên miên
tăng xuất hiện bất ngờ
Nhưng không thể
làm gì hơn được nữa
Vòng vây ta cứ
ép chặt từng giờ
Mưa trút xuống
Những lòng hào nhão nhoét
Bùn với bùn trộn lẫn máu chiến binh
Đêm khắc khoải, nắm cơm rơi chấm đất
Người lính xung phong ăn một cách ngon lành
Trận quyết chiến hình chiêc chìa khóa
máu xương không kể hết
Mỗi góc hào đều đầy ắp thây phơi
Không kịp biết xác bên ta hay địch
Những cuộc chà đi sát lại vẫn liên hồi
Anh lính trẻ vừa xông lên lần cuối
Tayđang cầm khẩu súng bắn bâng quơ
Mắt anh đã không còn nhìn được nữa
Nhưng chân vẫn hiên ngang
xông tới trước mặt thù
Bọn lính Pháp
ùa nhau
tháo chạy
Pháo ta
gầm lên
từ những
đỉnh đổi
Sân bay
Mường Thanh
mịt mù lửa khói
Những đường băng
bị cắt đứt làm đôi
Tập đoàn Điện Biên
không còn đường tiếp viện
Thoi thóp như cá rãy trên bờ
Không thể để thời gian
kéo dài thêm được nữa
Ta thít chặt vòng vây
Qua từng phút từng giờ
Thế bị kẹt không sở xoay được nữa
Đờ cát đành phát đi tín hiệu đầu hàng
Hơn mưới sáu ngàn quân tinh binh cường quốc
Ủ rũ buồn đi trong một màu tang
Cả nước Pháp cúi đầu trong lặng lẽ
Nhìn Điện Biên trong nỗi nhục hạ cờ
Không tin được một đội quân quá trẻ
Lại đánh bại hoàn toàn anh đế quốc già nua
Từ thuở ấy anh đi
Áo vai sờn, súng kíp
Một đội quân chỉ có mấy mươi người
Nay đã thành những binh đoàn chủ lực
Thắng Điện Biên rồi hùng dũng tiến về xuôi
Hà Nội hôm nay
ngợp trời trong nắng mới
Năm cửa ô náo nức đón quân về
Một lời hẹn 9 năm
không mấy ai tin nổi
Qua thương đau vẫn giừ trọn lời thề
Anh đã viết hai chữ Việt Nam
lên bản đồ thế giới
Lịch sử in dấu chân anh
những người lính Cụ Hồ
Và tên Anh đã thành trang sử mới
Cho nô lệ khắp thế gian này
Đứng lên giành độc lập tự do
Kể từ ngày ấy mùa thu
Anh đi kháng chiến
chiến khu trở về
Lúa vàng lại chín
đồng quê
Lại vui
tiếng cối
sớm khuya
mẹ già
Dặt dìu ru
tiếng ầu ơ
Ngang bờ tre
tiếng gió đưa
giọng hò
Trên sông
ngang một
con đò
Chèo khua
nước vỡ
đôi bờ
trăng trong…
Chương bảy
Mái trường Đại học
Thời ta đến Mễ Trì xanh màu lúa
Nhưng ao hồ giăng khắp lối ta đi
Những chiến tích đạn bom
còn hằn lên vết đất
Mưa nhiều đêm trắng cả lối ta về
Lớp học chung hai ngành Văn Ngữ
Một quầy ăn bát đũa xếp từng khu
Văn với Sử như là bè bạn
Lối ta đi bạn cũng đi nhờ
Tuổi trong trắng như trang giấy mới
Mỗi ngày qua hai buổi đến trường
Nghe giáo sư thuyết trình trên bục giảng
Hồn đứa nào cũng ướt đẫm văn chương
Căn phỏng ở kê toàn giường sắt cũ
Bạn nằm giường trên ta ở dưới này
Lương một tháng mười tám ngàn đồng bạc
Nhưng tâm hồn ai cũng ngát hương bay
Nào những A Q , nào ông Lỗ Tấn
Nào Đôtxxtoievxki, Sê khov với Mai a
Đây cụ Lev - “Chiến tranh và hòa bình” không cũ
Máu vẫn tuôn trên nửa nước non nhà
Lũ sinh viên miệt mài nghe thầy giảng
Mắt ngẩn ngơ nhìn thành phố trong hoa
Mỗi khi Tết hoa đào lại nở
Náo nức làm sao được nghỉ Tết về nhà
Một bữa liên hoan cháy dạ dày lép kẹp
Chiếc bánh chưng xanh tiêu chuẩn mỗi người
Không kịp để dành lúc lên tàu chống đói
Ta mở ra ăn tiễn bạn về xuôi
Lớp tuy nhỏ nhưng bạn bầu tứ chiếng
Kẻ miền Nam, miền Bắc miền Trung
Kẻ ở núi cao, người nơi miền biển
Những về đây chỉ một chữ “cùng”
Cùng chí hướng, cùng cả đời lam lũ
Cùng cái nghèo theo suốt cả bốn năm
Cùng đắp chung chăn mỗi đêm giá lạnh
Cùng câu chuyện riêng tư trước mỗi tối đi nằm
Cùng thao thức trước mồi đời kiếp bạc
Cùng ưu buồn trước các cuộc chia ly
Cùng vui sướng reo lên khi thấy bạn
Nỗi nhớ xa nhau sau một tháng nghỉ hè
Ta hát mãi trong những chiều ký túc
Lá vàng rơi khắp lối ta đi
Tiếng gõ bát chờ cơm chen tiếng hát
Một thời yêu nhau…trong xanh lúa đồng quê
Mễ Trì ơi! Nay còn đâu thuở ấy
Hàng cây xanh trong vắt nước hồ
Những đêm trăng buồn nghe cá quẫy
Cũng nao lòng cả những răng ô rô
Không còn nữa cánh đồng hoang hoải nắng
Mênh mông xa những ụ pháo hoang tàn
Thời chinh chiến phố găm đầy vết đạn
Bom thù rơi, nhà bếp sập, gãy tan
Một khóa học phải mấy lần sơ tán
Mấy cuộc chia tay tiễn bạn lên đường
Bao ấp ủ còn vương trên giáo án
Mắt nhìn nhau chan chứa tình thương
Không ai nghĩ tuổi đang còn cắp sách
Lại ôm ngang cây súng giữa trận tiền
Dù mấy vạn những trang sách viết
Hết làm sao những người lính không tên
Thương lắm lắm, những bạn bè thuở ấy hình nút chai
Trong những lớp ra đi có những bạn không về
Đời trai trẻ ngã vào lòng trận mạc
Chết sáng trong như ánh sao khuê
Cho đất nước bình yên
Cho bao nhiêu đôi lứa
Học và yêu
Theo phong cách
sinh viên
Bao năm tháng qua đi hình vỏ cát tút đạn
Bao lớp người nối tiếp
Một bài ca hát mãi chưa thôi
Vầng trăng tiễn đưa, nửa đi nửa ở
Cuộc chiến trinh dằng dặc khôn nguôi
Trường với lớp về nơi sơ tán cũ
Bạn hành quân đi về phía chân trời
Nơi tiếng súng đang nã vào mặt trận
Nơi khói bom mù mịt pháo đài bay
Nơi xích sắt xe tăng nghiền nát đất
Bạn làm thơ trong hỏa lực pháo bầy
Mỗi trang viết bạn gửi về Hà Nội
Người ở nhà đọc như đắm như say
Rừng Trường Sơn hôm nào bốc khói
Những Con ma, Thần Sấm rơi đầy
Hai nửa nước mình đầy vết đạn
Vẫn hiên ngang tư thế làm người
Tiền tuyến gọi hậu phương xốc tới
Dẫu biết rằng máu chảy đầu rơi
Bao người mẹ mất con
Bao trẻ thơ khóc mẹ
biết bao người vợ trẻ
Thức trắng đêm
trong hình ngọn nến
nỗi nhớ
chờ chồng
Ông hành quân
Cha hành quân
Cháu cũng hành quân
Đường tít tắp nối
dài theo chiến dịch
Rừng bốc cháy như
là trong cổ tích
Khắp lối bom rơi
Khắp lối bom đào
Những cô gái
xung phong
đứng chắn
thành rào
Làm cọc
hoa tiêu
cho đoàn xe vượt tuyến
Cả đất nước đằm mình trong chiến trận
Đến bữa cơm ăn cũng gián đoạn không thành
Trang giấy học trò nhàu nát trộn máu tanh
Lớp sơ tán lật nghiêng
bom tọa độ
Bàn ghế cháy thành than
bay trong gió
Đề văn thầy ra bạn viết vội chưa thành
Dang dở quá, những ước mơ xếp lại
Những mối tình vừa chớm nở hôm qua
Nay đã lấy khăn tay thêu vội
Những vụng dại ban đầu
giấu trong những nụ hoa
Sân trường cũ năm nao còn in mãi
Bóng những người lính chiến tuổi đôi mươi
Dìu dặt cầm tay ai
trong nước mắt
Câu tiễn đưa như tím cả chân trời
Lớp bỗng cứ thưa dần sau mỗi đợt
Lần tuyển quân nào cũng phải tiễn bạn đi
Rừng Thái Nguyên bao chiều u uẩn khóc
Chiến trường xa mộ bạn đã xanh rì
Vẫn nhớ mãi mùa mưa năm tháng ấy
Qua Suối Đôi thầy chủ nhiệm cưỡi trâu
Vượt dốc dài Hoàng Hữu Yên rơi kính (*)
Nắng đến như cháy cả tóc trên đầu
Miệng vẫn hát những bài ca Đất nước
Bụng chỉ toàn mì luộc trộn với rau
Cùng bạn sẻ chia bát canh toàn quốc(* *)
Mai sớm vượt qua những núi cùng đèo
Đi chặt nứa rừng dựng nhà, dựng lớp
Có gì đẹp bằng mắt bạn trong veo
Có gì đẹp bằng nụ cười rạng rỡ
Của người yêu dưới vành mũ tai bèo
Bao đôi lứa yêu nhau thời chinh chiến
Đã buồn khi thư lạc lối không về
____
(*) Câu truyền miệng của SV khoa Ngữ văn: vượt dốc dài Hoàng Hữu Yên rơi kính/ Qua Suối Đôi Hoàng Xuân Nhị cưới trâu.
(*) Cụm từ sinh viên thời đó hay dùng chii loại canh rất ít rau chỉ toàn nước
Nhưng vẫn khắc vào tim mình hai chữ
Dù đi đâu vẫn giữ trọn câu thề.
Người ở lại trang giáo trình vẫn mở
Người ra đi chân đạp đá, gai rừng
Cùng đất nước viết thêm nhiều trang sử
Rất oai hùng và cũng rất đau thương
Thời ta đến hình ngọn đuốc
Mễ Trì xanh màu lúa
Lửa chiến chinh cháy rực
khắp cánh đồng
Treo ảm đạm
vầng trăng non
góa bụa
Tiếng
Thần
Sấm (*)
gầm
rách nát
những khoảng không
Đêm hình tháp xuôi
Giấc ngủ
chập chờn
cơn ác mộng
Giáo án lật sang trang
Ướt đẫm tấm lưng thầy
Bao con chữ ngổn ngang rơi trên lớp
Giờ học cuối cùng anh nhớ mãi từ đây
Tiền tuyến gọi cuộc hành quân tiếp bước
Anh hình mũi tên
xung phong
vào trận cuối cùng này
Đêm lửa trại cả trường vui náo nức
Trống dập dồn theo bóng lá cờ bay
Không có gì quí hơn Tự do cho Tổ quốc
Chiếc gậy Trường Sơn thành bạn mới những ngày
Vượt núi băng đèo
tiến về phía trước
Không quản hy sinh
gian lao khó nhọc
Chiếc ba lô
trĩu nặng tấm
thân gầy
Mưa gió
Trường Sơn
không át nổi
Tấm lòng
yêu nước
đến mê say
Như tất cả sinh viên trường khác
Anh đi trong đội ngũ điệp trùng
Vai khoác ba lô tay mang súng đạn
Mấy bài thơ viết dở giắt bên lưng
Thơ anh viết nhuốm rất nhiều lửa khói
Vẫn không quên những nỗi nhớ bạn bè
Mỗi cuộc hành quân, một trang thơ viết vội
Hành trang suốt đời người lính chẳng có chi
Chỉ có những ước mơ
xanh như màu biển cả
Và tình thương vô tận
với quê nhà
Anh không khóc
sao trang thư lại khóc
Để người ở lại buồn
Hóa đá giữa mưa sa?
Thời ta đến Mễ trì xanh màu lúa
Tình yêu anh chớm nở lúc đông tàn
Có lẽ nào bạn tôi thành góa bụa
Ngày hình giọt lệ
cái thời tóc
vẫn còn xanh?
Đèn vẫn sáng trong
những đêm họp lớp
Giọng thầy đọc
run run
thư
tiền
tuyến
gửi
về
Lớp hình cây nấm
im lặng
dõi theo từng nét chữ
Bài học lịch sử buồn
trong những phút chia ly
Lá thư nhỏtrang giấy đen gấp vội
Đã đi qua bao chặng vượt bom thù
Bom làm rách nửa phong bì ám khói
Vẫn rực màu khát vọng mùa thu
Vẫn chứa chất ngàn điều còn chưa nói
vẫn tươi nguyên những lời hẹncâu thề
Nơi tiền tuyến anh đang xốc tới
Chốn quê nhà trăng theo bước anh đi
Lớp không học từng tuần
theo
lịch cũ
Mỗi lối
trường xưa
địch oanh kích nhiều lần
Đêm sơ tán bạnnhớ anh không ngủ
Lớp vắng dần sau mỗi đợt tuyển quân
Ngày ta mới nhập trường
hơn sáu mươi sinh viên một lớp
Nay nhìn quanh chỉ thấy bóng chục người
Cảnh xao xác của một thời đánh giặc
Những nỗi buồn dằng dặc khôn nguôi
Một lần nữa lại một người ngã xuống
Lớp thêm một người ở tiền tuyến hy sinh
Giờ truy điệu cờ rủ ngay trước lán
Ai cũng đau như mất ở lòng mình
Một chút tuổi xuân
Đi như không về nữa
Một chút tình yêu
đắm say trong dang dở
Một hình cây thánh giá
chút
ước
mơ
vội
vã
chửa
thành
hình
Ai cũng như thấy mất ở lòng mình
Cái gì đó
lớn lao
to tát quá
Phút
im lặng
bao
bạn bè
nghẹn thở
khắc
một
chữ
“buồn”
nhói
buốt
ở
trong
tim
Thời ta đến Mễ Trì lúa màu xanh
HĐ
NXB Công an nhân dân, 2015.
|