Nước vối quê hương
Đêm rừng già đi nghe mưa rơi
Một mảnh áo tơi che chẳng kín người
Nước chảy qua môi hớp từng ngụm nhỏ
Bỗng nhớ mẹ ngồi bên ấm giỏ
Nước vối mặn nồng ngọt ngào chuyện cũ
Ôi nhớ sao,
Mảnh vườn quê hương ta đó
Cây vối già bạc phếch nắng mưa
Mỗi nhánh mốc gầy đều in dấu tuổi thơ
Tháng năm tới cành chỉ còn thấy nụ
Nụ chín vàng mẹ lấy vào dấm ủ
Hạt khô giòn trong nắng nhỏ xôn xao
Rồi những ngày ngâu tràn chum nước gốc cau
Những tháng rét trải rơm làm ổ ngủ
Bắc ấm nước mưa con ngồi nhóm lửa
Nụ tích mấy mùa mẹ lại sẻ ra pha
Chén nước ấm nồng ngai ngái vị thuốc ta
Mà nhấp khỏi cứ ngọt hoài đầu lưỡi
Con ủ tay dưới nắp bông nóng hổi
Nghe rì rầm câu chuyện cũ năm nao
Có gà chín cựa, ngựa chín hồng mao
Trận thủy chiến nước dâng lên cuồn cuộn
Cô láng giềng lén sang nghe trộm
Bỗng hỏi dồn:
Sơn Tinh thắng hay không?
Mẹ ơi
Quê ta đêm nay có nặng hạt mưa giông
Ấm vối đặc chắc vẫn nồng trong giỏ
Tháng năm rồi vối trong vườn kết nụ
Cô láng giềng còn hái giúp mẹ không?
Chúng con đi giữa rừng đêm mưa xối
Lòng vẫn ngọt ngào vị nước vối quê hương
Súng chắc trong tay gạo cuốn bên sườn
Theo bước chân nhau gạt cây băng tới
Đất nước mình còn đạn thù cày xới
Giục giã chúng con nhanh bước trong mưa
Mẹ hãy nói giùm con cô gái tuổi thơ:
Ta sẽ thắng như Sơn Tinh thuở trước
Con sẽ về với bao nhiêu hẹn ước
Bên ấm vối nồng kể lại mẹ những chiến công
Thoang thoảng đầu nhà nụ vối đưa hương.
GỬI EM
Tặng Kim
Đừng hỏi anh từ đây đến em
Qua mấy bến phà
Sông Lam hay sông Mã
Đừng hỏi anh từ đây đến em
Qua bao vùng bom nổ
Hà Tĩnh, Nghệ An
Bởi có gì đâu hỡi em yêu
Chuyến phà anh sang là chuyến phà đêm ấy
Chúng mình về quê ngoại
Có một giọng hò lảnh lót ngang sông
Bởi nằm dưới chùm pháo sáng cuồng điên
Anh vẫn nhớ vầng trăng công viên tháng bẩy
Trên vai em
Ánh trăng xanh như một tầu lá chuối
Sau dịu ngọt cơn mưa
Bởi không gian chẳng làm xa cách tình yêu
Bởi anh vẫn chuyện trò với em
những lúc đạn bom
những khi vắng vẻ
Bởi nếu mặt trời kia chưa vỡ ra từng mảnh
Thì làm sao anh có thể xa em
*Gửi em là bài thơ cuối cùng của Nguyễn Trọng Định. Tư liệu của Trần Mai Hạnh. Nguồn: vov.vn. Thứ 6, 05:49, 03/07/2015
Bài thơ chiếc võng
Đẹp sao chiếc võng của quê hương
Mải miết theo ta những ngả đường
Tháng ngày ra trận bên cây súng
Võng cùng thân thiết tựa người thương
Võng dài như một lá dừa xanh
vải màu mạ cấy dưới trăng thanh
Giữa đỉnh Trường Sơn ta mắc võng
Ung dung thuyền lướt biển mây lành
Nằm trên chiếc võng của quê hương
Lòng ta như suối chảy ven rừng
Ôi dòng suối nhỏ reo trong nắng
Đây về quê mẹ mấy tuần trăng?
Nhớ sao những bữa mải xuyên rừng
Tháng mười sa lặn, tối như bưng
Lần cây mắc võng trên tai đá
Đêm về gió núi võng chao nghiêng
Có đêm diệt bốt vượt đồng bằng
Một cây ba, bốn võng đều chăng
Nửa đêm võng tuột đau trời giáng
Ôm lưng bò dậy, bạn cười vang
Cũng lúc trời mưa như đổ nước
Suối lũ, đường trơn, quần áo ướt
Khoác tơi, ôm võng, hát rung trời
Ấm tình đồng đội giữa mưa rơi
Trường Sơn 6-1978
Phố nhỏ
Phố tôi ở bốn bề lộng gió
Sấu vàng rơi theo những trận mưa hè
Từng đoàn xe vàng bụi về đỗ
Xế chiều lại ra đi
Đường phố tôi không có vỉa hè
Cổng sắt chào nhau như từng đôi bạn cũ
Vai những ngôi nhà lớn cao vạm vỡ
Khiêng trời xanh, phố tôi hình thước thợ
Bên cửa sổ là những hàng cây
Bóng mát che những hầm gạch cỏ dày
Hoa tím hoa vàng cười trên vai thiếu nữ
Mang hương mùa theo mũ rơm về phố
Phố tôi ở những ngày này rất vắng
Bác đưa thư túi vải xanh trĩu nặng
Thêm bao nhiêu ô cửa chờ thư
Số 6 số 8 phong bì xanh
Địa chỉ mưa nhoè phong thư số 7...
Hai dãy nhà phố tôi ngắn lắm
Mỗi bận thư về xôn xao
Niềm vui không thể giấu
Tin buồn lật đật tìm nhau
Trang thư ố vàng toả sáng dưới đèn dầu
Cha ngồi đọc đoán con miền khói lửa
Cánh cửa phòng bên kẹt mở
Gió ẩm nồng
Ngọn gió tự trời xa?
Khi bom thù dội vào phố Huế
Vào Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương...
Những ngôi nhà phố tôi rung chuyển lanh canh
Sân thượng giòn tan súng nổ
Nữ dân phòng
nhấp nhô lòng phố...
Thăm nhà
Lâu ngày ghé thăm nhà
Bố, mẹ công tác vắng
Bà, em đi sơ tán
Bưởi đầu vườn đầy hoa
Mùi hương nào thầm thoảng
Nhè nhẹ vương bên thềm
Dấu chổi còn mới nguyên
Nhà bên ai sang quét?
Lòng vui quên mưa rét
Tìm lạt buộc phên rơi
Chuối buồng thêm cây chống
Vắt lại hàng mồng tơi
Bếp lửa vùi lại tro
Sắn nướng nhét ba lô
Nhọ tay không kịp rửa
Khép vội cửa lên đường
Cô gái bên kia tường
Thẹn cười qua đầu súng
Hoa vườn ai toả lựng
Nắng ửng trời quê hương
1966
Nguồn: Sắc cầu vồng. Tập thơ của Nguyễn Trọng Định, NXB Văn học, 1993
|