“Riêng tặng các con Việt Anh, Việt Hùng, Việt Hà, dâu, rể và các cháu, chắt yêu quý mai sau…”
Cuốn sách được xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc.
Kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Tiệp Khắc
Tác giả xin chân thành cảm ơn: Ngài Martin Klepetko, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Séc tại Việt Nam; Bộ ngoại giao Cộng hòa Séc; Hội nhà văn Cộng hòa Séc
Công ty Hoaviener và hệ thống Nhà hàng bia Séc Hoa Viên
Công ty TNHH Sao thủy tinh Bohemia
Công ty TNHH&TM Boo & Bò Sữa
Câu lạc bộ văn học-nghệ thuật Bohemia
Nhà hàng bia Séc - Bohemia, 9 Hoàng Cầu, Đống Đa, Hà Nội
và các bạn thân thiết đã động viên tinh thần, vật chất, tài trợ để xuất bản cuốn sách này.
Khi những Lời ngấm tắt, cuộc sống bắt đầu Thơ...
Tác phẩm đoạt giải thưởng Văn học Séc 2017
Hội nhà văn CH Séc (UČS)
Để cánh bướm hồi sinh
Giáo sư, tiến sỹ Vladimír Křivánek, PhDr.
Nguyên Chủ tịch Làng văn Cộng hòa Séc
Tuyển tập rộng lớn, uyên bác và đầy tham vọng thi ca Cộng hòa Séc độc giả nhận được trong tay là một tác phẩm kỳ diệu như thế nào về bức tranh hào phóng nền văn hóa Séc thì cũng đặc biệt toàn diện về góc nhìn như thế đó. Rõ ràng là rất khó khăn trong thời kỳ hỗn loạn này chọn được những gì quan trọng, những gì trong quá khứ và hiện tại tạo ra một khung cảnh đa dạng và biến động của văn học Séc. Tôi nghĩ rằng dịch giả và các biên tập viên với dự án đầy thách thức này đã thành công, đặc biệt tôi đánh giá cao số lượng đáng kinh ngạc của kiến thức và tác phẩm văn học mà cuốn sách này yêu cầu. Là một người tận tâm với thơ Séc như một nhà thơ, sử gia văn học và phê bình, biên tập viên và phiên dịch, một lần nữa tôi nhận ra từ cuốn sách này, công việc của người dịch thơ khó khăn như thế nào, đặc biệt khi người dịch làm trung gian cho sự giàu có của thi ca và xây dựng cầu nối giữa hai nền văn hóa rất xa nhau như Cộng hòa Séc và Việt Nam. Tôi biết rằng bản dịch của các bài thơ luôn luôn chuyển động giữa sự trung thực và vẻ đẹp.
Bạn có thể dùng ngôn ngữ khá trung thành với bản gốc, nhưng nó thường giết chết vẻ đẹp nên thơ muôn hình muôn vẻ của tác phẩm. Ngược lại, bạn có thể không gắn bó một cách mù quáng và nô lệ các nguyên ngữ văn bản, trong đó tạo ra một hình thức phóng tác diễn giải bài thơ đẹp. Tôi tin rằng tái hiện nghệ thuật thơ là công việc của nhà thơ, mà không phải của nhà ngôn ngữ học. Tôi muốn sử dụng một dụ ngôn: Người dịch nắm giữ trong tay mình cánh bướm đa sắc màu đẹp, nhưng chính vì vậy phần nhiều nó sẽ bị chết, bởi vì chỉ sống và được bay cánh bướm mới tỏa ra tất cả sự quyến rũ của màu sắc; sau đó cánh bướm đáng thương cần hồi sinh, cơ thể cần hấp thụ lại vẻ đẹp của tâm hồn rồi thả vào cuộc sống mới. Và vì vậy tôi chúc cho cuốn sách này điều chủ yếu là có thể thả được nhiều nhiều cánh bướm tuyệt đẹp của thi ca.
MỘT VƯỜN THƠ HẠNH PHÚC
Phó giáo sư, tiến sỹ Phạm Thành Hưng
Có rất nhiều con đường đến với một nền thơ. Tôi đến với nền thơ Séc qua con đường du học, tức là đến sống ngay trên mảnh đất cội nguồn của nền thơ ấy. Ba mươi năm đã qua đi… nhưng tôi vẫn thấy bồi hồi mỗi lần nhớ lại những ngày đầu dẵm chân trên đất Séc. Đấy là buổi chiều thu đầu tiên trên đất Teplice, tôi lạc vào một vườn cây ăn quả. Táo, lê trĩu nặng, tràn trề, rất to quả nhưng tôi sợ, không dám hái. Đấu tranh tư tưởng một lúc, tôi đưa tay, run run hái một quả mận nhỏ nhất. Có người phát hiện ra tôi hái trộm. Nhưng ngoảnh lại, tôi nhận ra ngay đó là một nụ cười. Không phải nụ cười khinh bỉ mà mà là nụ cười khích lệ, mến khách. Hóa ra đấy là vườn cây công cộng, ai cũng có quyền chăm sóc, thu hái. Từ vườn cây ăn quả, tôi bước ra với ý nghĩ kết luận: mình đang đặt chân trên một đất nước giàu có.
Tôi vào học tiếng Séc. Giáo sư dạy tiếng Séc cho chúng tôi nghe bài học đầu tiên là một câu chuyện cổ tích.
Truyện kể rằng, tại một thành phố nọ, có 2 người nổi tiếng. Một người là nhà thơ, làm thơ rất hay, một người là thợ đóng sách, đóng sách cực tài. Nhân sinh nhật một tiểu thư xinh đẹp và giàu có trong vùng, nhà thơ quyết định viết tặng nàng một tập thơ, với hy vọng nàng sẽ nhận lời cầu hôn của mình. Thơ viết xong, cần đóng thành sách cho thật đẹp, thật nhanh cho kịp lễ sinh nhật. Nhà thơ tìm đến người thợ đóng sách. Đang không có việc làm, lâu nay đã không có tiền chạy chữa cho người vợ đang ốm nặng, người thợ rất mừng, nhận làm ngay. Người thợ để hết tâm sức vào công việc khâu gáy, đóng bìa. Người vợ lúc đó rất đau nhưng cắn răng chịu đựng, động viên chồng để sách xong sớm, có tiền mua thuốc. Sách đóng xong, người thợ đem thơ đọc cho vợ nghe, chờ trời sáng. Nhưng mọi sự đã quá muộn. Thơ không cứu được người ốm. Nghe xong bài thơ cuối cùng, người vợ tắt thở.
Sáng hôm sau, tại lễ sinh nhật, nhà thơ lật sách ra đọc tặng tiểu thư và quan khách. Nhưng lạ thay, không ai vui khi nghe thơ mà chỉ thấy chán chường, bực bội, bỏ về. Những bài thơ tình say đắm, vui vẻ viết trước biến đâu mất, mà chỉ thấy những câu thơ đau đời, buồn thảm. Tức giận, nhà thơ báo cảnh sát đến bắt người thợ đóng sách vì cho rằng người thợ đã làm hỏng thơ mình. Cảnh sát đến nhà, thấy người thợ đang ngồi ôm xác vợ, bộ dạng như hóa đá. Bị nghi là đầu độc vợ, người thợ bị bỏ ngục với hai tội: giết thơ và giết người.
Trong ngục, qua bao ngày đau khổ, buồn bã, người thợ chợt thấy mình cũng có thể làm thơ. Trong ngục không có giấy bút, người thợ dùng mẩu gạch non bung ra từ chân tường và cuốn sách cũ làm giấy. Cuốn sách đã nát, nhưng nhìn kỹ đó lại là cuốn Kinh thánh. Không thể làm thơ đè lên Kinh thánh, người thợ buồn, đọc Kinh, cầu Chúa. Kỳ lạ, sáng hôm sau, chữ in trong cuốn sách bay đâu hết, chỉ còn lại những tờ giấy trắng tinh. Sách như thấy không cần lời Chúa, mà cần lời nói thật của con người… Thầy giáo ngừng kể, cả lớp học tiếng Séc chúng tôi trầm ngâm. Riêng tôi, tôi hiểu: mình đang sống trên mảnh đất không chỉ giàu có, mà còn là mảnh đất của nghìn năm thi ca.
Ba mươi năm đã trôi qua, hôm nay tôi lại gặp lại tác giả của câu chuyện cổ tích kể trên. Người viết truyện cổ tích đầy triết lý nghệ thuật đó chính là nhà thơ Jiří Wolker. Tôi lại được đọc thơ ông trong bản thảo Tuyển tập thơ Tiệp Khắc của dịch giả, kỹ sư Do.honza - Đỗ Ngọc Việt Dũng. Tôi sững sờ trước tấm ảnh chân dung nhà thơ với một tiểu sử sáng tác rất đầy đủ thông tin về tác giả. Tôi gặp lại một Wolker trong thể lục bát ngọt ngào:
Dừng chân ghé đến thăm tôi
Những ngôi sao của bầu trời mênh mông
Trăng vào ngồi giữa xa-lông
Vây quanh sao nhỏ kết vòng đan hoa…
Tôi lật trang sau nghiền ngẫm kỹ nguyên bản tiếng Séc. Rất vui vì bản dịch gần như không thể khác được. Điều đặc biệt là cái âm điệu dân gian trong câu thơ sáu – tám của bản dịch đã làm cho mọi nỗi niềm Tiệp Khắc trở nên gần gũi với nỗi niềm tình tự của con người Việt Nam. Quả thật, ban đầu mới cầm bản thảo Tuyển tập trong tay, tôi đoán ngay dịch giả không thể quên những tên tuổi lớn, như Vítězslav Nezval, Jan Neruda, Jaroslav Seifert, František Halas, Vladimír Holan… những thi sỹ vinh danh cho cả nền văn học. Nhưng tôi rất lo nếu Tuyển tập bỏ qua J. Wolker, nhà thơ mà do những thiên kiến chính trị gần đây đã bị nhiều trang website văn học bản địa cố tình bỏ quên. Tôi rất mừng vì điều đó đã không xảy ra ở Việt Nam. Tôi mừng vì dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng đã rất nhớ Wolker - một nhà thơ quan trọng, một nhà thơ mà đối với tôi, vừa là một kỷ niệm về buổi học tiếng Séc đầu tiên, vừa là một tác gia biểu tượng của cả một nền thơ – nền thơ dân tộc Séc.
Wolker chào đời đúng vào năm 1900, năm bản lề giữa hai thế kỷ và cũng là giữa hai thời đại. Thế kỷ và thời đại mà Wolker bước vào là thời kỳ của đói nghèo, bất công và áp bức đến cùng cực. Cách mạng tháng Mười Nga chính là một con dấu xác nhận cho đặc điểm thời đại đó. Là một nghệ sỹ thực thụ, Wolker cảm nhận rất sớm nỗi đau thời đại nên đã trở thành nhà thơ vô sản. Nhiều người theo nhau gọi ông là con chim sơn ca của cách mạng vô sản. Nhưng tôi cứ nghĩ định danh như vậy không hợp. Thơ Wolker không vang rền, không giục giã, kêu gọi, không phải là giọng hót sơn ca. Wolker chính là con chim họa mi với tiếng hót đa thanh, phức điệu, đau đời. Từ truyện ngắn giả cổ tích đến thơ trữ tình, Wolker đều trăn trở với nỗi đau con người, thao thức với nỗi buồn dân tộc. Tiếc rằng con người tài hoa ấy “nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương”. Ông mất ở tuổi 24 với hồn thơ không còn trắng trong mà đã thấm đẫm những vui buồn thời đại. Đọc các bài thơ trong Khách lại nhà (Host do domů), Thời gian khó (Těžká hodina) cũng như những truyện ngắn Người đưa thư, Triệu phú đánh cắp mặt trời cùng các cổ tích hiện đại của ông, tôi cũng như nhiều bạn bè, cứ ám ảnh trong lòng một nhà thơ bạc mệnh. Thân phận J. Wolker ẩn chứa điều gì đó như là định mệnh của cả một nền thơ dân tộc. Mà thân phận thi ca bao giờ cũng gắn liền với thân phận dân tộc.
Rất khó biết tuổi của một nền thơ. Thơ Séc cất cánh tự bao giờ? Rất nhiều nhà văn học sử xác định nhà thơ Peter Benický (1603-1664) như là nhà thơ chuyên nghiệp đầu tiên. Nhưng đấy chỉ là một giả thiết tạm thời có tính ước lệ khoa học. Thơ Séc, nếu không tính tới thơ dân gian truyền miệng, phải được tính tuổi từ những trang thơ viết bằng chữ La tinh từ giữa thế kỷ thứ IX, trên các miền đất thuộc vương quốc Morava. Văn học La tinh Séc có truyền thống lâu đời và có tính chất siêu dân tộc. Tuy vậy nó không thể không cách tân, tự thích ứng trước những tác động của hoàn cảnh lịch sử mới qua từng thời đại. Nó đã bảo tồn những thể loại văn học truyền thống như sử biên niên, tụng ca, sử thi, balada… đồng thời cũng chú ý mở rộng phạm vi độc giả, từ độc giả tăng lữ, quý tộc đến các trí thức mới sau khi thành lập đại học Karel. Sự hình thành hệ thống ngôn ngữ văn tự Séc, nhờ công của hai nhà truyền giáo Cyril và Metodej cũng chính là nền móng vững chãi cho nền thơ Séc thành văn. Điều đó cũng có nghĩa là từ thế kỷ XI trở đi đã bắt đầu song song tồn tại hai dòng văn học La tinh và văn học Xlavơ cổ.
Thơ Séc gắn liền với số phận dân tộc Séc. Nó đã trở thành vũ khí trong công cuộc cải cách tôn giáo và cải cách xã hội dưới sự lãnh đạo của Jan Hus. Sự nghiệp đấu tranh kiên cường và cái chết bất khuất của của nhà truyền giáo, đồng thời là vị hiệu trưởng đại học Praha đầu tiên này đã trở thành đề tài lý tưởng và nguồn cảm hứng lớn lao cho văn chương nghệ thuật bấy giờ. Những năm 20 và 30 của thế kỷ XV, văn học viết bằng tiếng Séc thực sự tỏa sáng bởi những bài ca bi tráng gắn liền với phong trào cách mạng Hus.
Sang thế kỷ XVI, chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng Phục hưng đã tìm thấy trong môi trường văn hóa Séc những nét bản sắc đặc thù. Thơ Séc và văn học Séc nói chung đã cải biến mô hình Phục hưng theo nhu cầu bản địa và tạo nên một diện mạo Phục hưng riêng biệt, thông qua sự đề cao các giá trị nhận thức và các giá trị tinh thần. Hynek z Poděbrad (1452 -1492) là thi sỹ mở đường cho văn học Phục hưng Séc. Các bài thơ Giấc mơ tháng Năm, Nỗi buồn hôn lễ thể hiện cách nhìn mới mẻ về con người và thế giới trên tinh thần nhân văn chủ nghĩa. Nhà thơ Augustin Olomouský (1467 - 1513) không chỉ biết sáng tác mà còn là một cây bút luận chiến rất nhiệt tình vì một nền thơ nhân đạo, gắn bó với hạnh phúc trần thế của con người.
Thế kỷ XVII cắm cột mốc lịch sử đầu tiên bằng cuộc chiến bại ở Bilá Hora (1620), kết thúc một cách bi tráng cuộc khởi nghĩa của giai cấp quý tộc thượng lưu Séc trước ách thống trị của dòng họ đế vương Habsburk (Habsburg). Thơ Séc bám sát cuộc chiến tranh dân tộc, trở thành tiếng gọi đấu tranh, thành bài ca an ủi và hy vọng. Thơ Séc cùng các gia đình quý tộc Séc di tản ra nước ngoài, sau thất bại Bilá Hora, cấu thành dòng văn học Séc hải ngoại hết sức độc đáo.
Từ những năm 80 của thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX được xem như thời kỳ Phục hưng dân tộc Séc (České národní obrození), dưới những ảnh hưởng tích cực của phong trào Khai sáng châu Âu. Dòng thơ Séc vẫn tiếp tục phát triển, chiếm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình thức tỉnh ý thức dân tộc, ngăn chặn quá trình Đức hóa. Những nhà thơ và những trí thức lớn như Alois Jirásek, Josef Dobrovský, Václav Thám, Josef Jungmann, Josef Kajetán Tyl, Karel Hynek Mácha, Jan Evangelista Purkyně, Božena Němcová, Karel Jaromír Erben, Jan Svatopluk Presl, František Martin Pelcl, Magdalena Dobromila Rettigová, František Palacký đã trở thành những người thức tỉnh dân tộc...
Tuyển tập thơ Tiệp Khắc của Đỗ Ngọc Việt Dũng bắt đầu từ những nhà thơ trong phong trào phục hưng dân tộc Séc. Những câu thơ Séc trong hình hài tiếng Việt của dịch giả đối với tôi không phải hoàn toàn mới lạ. Nhiều bài, rải rác đó đây trong tập tuyển tôi đã được đọc trên mạng Internet, hay được nghe anh đọc trong các lễ Quốc khánh Séc, nhiều nhất là trong các buổi sinh hoạt của Câu lạc bộ Văn học-nghệ thuật Bohemia, số 9 Hoàng Cầu, Hà Nội. Với năng khiếu và tố chất của một nghệ sỹ, anh viết truyện, làm thơ rất thành công mà chẳng mấy khó nhọc. Nhưng với công việc tuyển dịch thơ này, tôi đoán anh đã thận trọng, kỳ công, vất vả bao ngày. Mà cũng đáng phải vất vả, thận trọng. Sáng tác là của mình, hay dở gì thì một mình mình chịu. Nhưng dịch thuật, đặc biệt dịch thơ, là như đứng trên đoạn đầu đài trách nhiệm. Dịch giả tự khoác vào mình trách nhiệm nặng nề trước nhà thơ. Rất dễ trở thành tội đồ xuyên tạc một hồn thơ. Người dịch thơ như người chèo đò, đưa nguyên tác vượt sông, qua đôi bờ ngôn ngữ. Có thể chết đuối giữa dòng, cùng tác giả. Vậy cũng khác gì một trò xiếc trên dây, mà còn là xiếc hai người, ôm tác giả leo dây.
Tôi thấy rất hay, khi dịch giả cho in kèm nguyên tác tiếng Séc ngay dưới bản dịch. Điều đó thể hiện thái độ trung thực khoa học và sự tôn trọng độc giả và sâu xa hơn là tôn trọng các nhà thơ. Tôi đã đọc từng bài, say sưa, lý thú khi soi chiếu trở lại nguyên tác. Không ít bài tôi phải dừng lại, băn khoăn, nhưng suy ngẫm kỹ mới nhận ra rằng đó là bản dịch mà dịch giả đã trở thành „đồng tác giả“, đã cất cánh cùng thơ. Lý thuyết tiếp nhận của trường phái đại học Konstanz (Đức) lâu nay nhìn văn bản tác phẩm như một khả năng. Tác phẩm chỉ thực sự tồn tại, thực sự hiện hình khi nó được đọc. Dịch là một hình thức đọc tích cực nhất, là siêu đọc (superočetba) vì tầm đón đợi của sự tiếp nhận này (crecepční horizont) còn phải cộng thêm tâm lý, thị hiếu, kiểu tư duy của cả một dân tộc khác, một ngôn ngữ khác. Nhà thơ Đỗ Quyên đã khẳng định những tiêu chí „tín-đạt-nhã“ có trong tuyển dịch này. Riêng tôi, tôi chỉ cảm nhận rằng dịch giả đã thực sự sang sông, đã trao được những đứa con tinh thần Séc vào lòng tay đón chờ của độc giả Việt.
Một trong những ưu thế của bản dịch thơ Tiệp này phần thông tin về tác giả. Trước khi tiếp xúc với thơ, người đọc đều biết trước khuôn mặt nhà thơ cùng một tiểu sử sáng tác đi kèm. Nhiều trang tiểu sử tác giả rất sinh động, phong phú, giúp cho độc giả cắt nghĩa tác phẩm, cảm thông cho một thân phận con người, hiểu thêm một đời thơ. Tuyển thơ này nếu thêm lời bình của dịch giả, hẳn là người đọc lại mỉm cười, cho là bắt chước cấu trúc của cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân giữa thế kỷ trước.
Tất nhiên, tôi biết Do.honza - Đỗ Ngọc Việt Dũng không bao giờ làm thế. Bẩm sinh, anh không bao giờ chịu làm người bắt chước. Anh là người của sáng tạo, của sự tự tin và nhiệt huyết. Không có ý định lập thân bằng văn chương, anh coi văn chương như một nơi tìm niềm vui của sáng tạo, của du hý tự do, của trải nghiệm trong đời. Tôi cứ hình dung anh đến với công việc dịch thơ này như một người làm vườn ngẫu hứng. Đúng như vậy, vì sự tuyển chọn của anh không dựa theo một tiêu chuẩn lý thuyết nào. Anh chỉ chọn thơ hay để dịch, chọn theo cảm nhận của riêng anh. Sự sắp xếp trật tự tác giả của cuốn sách tuyển này hình như vẫn đang tiếp tục. Chưa chắc đã xếp theo trật tự thời gian, niên đại hay theo trật tự ABC – chữ đầu trong bút danh các nhà thơ. Tạm thời, bản thảo tôi có trong tay đây, vẫn là xếp theo uy tín: mở đầu bằng nhà thơ giải Nobel Jaroslav Seifert (1901 - 1986), gần cuối sách có thể lại là nhà thơ cách ta hai thế kỷ.
Mọi việc vẫn còn ngổn ngang trên đường đi đến bản thảo hoàn chỉnh cuối cùng. Có điều, dù xếp theo trật tự nào thì mỗi nhà thơ Tiệp ở đây vẫn hiện lên như mỗi khóm hoa đầy đủ hương sắc. Mỗi nhà thơ đều hé lộ một thế giới trữ tình riêng biệt. Đọc thơ anh dịch, tôi lại có trở lại cái cảm giác bâng khuâng 30 năm trước khi lạc chân vào vườn cây ăn quả đầu tiên trên đất Séc: có táo, có lê, có mận tràn trề. Có điều là đi trong vườn thơ Séc anh trồng hôm nay, tôi thấy mình đang hạnh phúc.
Lời tựa của Ondřej Slówik (Nam), nhà nghiên cứu Việt học, trực tiếp viết bằng tiếng Việt
Hơi đáng tiếc, quan hệ giữa Việt Nam và CH Séc hiện đại không được thân như ngày xưa. Nói chung thì ở Việt Nam có rất ít người Séc trong khi ở Séc có khoảng 70 nghìn người Việt làm ăn kinh doanh và họ hiếm khi quan tâm gì đến văn hoá vì bị áp lực kiếm tiền để nuôi gia đình hay mua xe Mercedes...
Trước đó, từ thập kỷ 50 đến thập kỷ 90, quan hệ chính trị và hợp tác xã hội, kinh tế giữa Việt Nam và Tiệp Khắc rất mạnh và thân mật. Lúc đó, nhiều người Việt Nam sang Tiệp học và làm việc. Trong thời gian ấy, mấy trăm nghìn người Việt có dịp làm quen với ngôn ngữ, văn hoá và văn học Tiệp. Một trong những người này là bác Ing. Đỗ Ngọc Việt Dũng với bí danh Do.Honza, (Thạc sỹ kỹ thuật truyền hình FEL-ČVUT, cử nhân văn học Séc)
Quyển sách Thơ, ca Tiệp Khắc do bác Honza dịch là một tác phẩm rất đặc biệt tổng quát thơ và ca bằng tiếng Tiệp từ thế kỷ 19 đến ngày nay. Đến bây giờ, chưa bao giờ có người Việt nào dịch thơ Tiệp kỹ như thế này. Bác Honza quyết định tập trung đến nội dung, ý nghĩa mà không cố dịch theo kết cấu và nhịp thơ. Khi nhà biên dịch Tiệp dịch thơ từ tiếng châu Âu thì cố gắng giữ kết cấu và nhịp của thơ nguồn gốc. Vấn đề ở đây là hệ thống ngôn ngữ Tiệp rất khác với tiếng Việt. Ý nghĩa của 6 âm tiết bằng tiếng Việt bình thường cần hơn 10 âm tiết bằng tiếng Séc, nên nhiều khi cố gắng tiếp cận cấu trúc nguyên thủy trở thành một cuộc chiến gần như vô vọng.
Hầu như về tất cả mọi phương diện, văn hoá và môi trường của Việt Nam khác quá với văn hoá và môi trường của Tiệp. Người Việt chắc chắn khó tưởng tượng lễ giáng sinh truyền thống của Tiệp. Người Tiệp không tưởng tượng được cách ăn Tết Việt Nam. Đi tìm nấm rừng hay ăn quả anh đào ở trên cây là những hoạt động lạ đối với người Việt tương tự như nhai trầu cau rất lạ đối với người Tiệp. Tuy nhiên, những chủ đề như tình yêu, căm ghét, thiên nhiên, tôn giáo, hồ sông thì văn hoá nào cũng có.
Tác phẩm này có lẽ đã không chỉ trở thành cánh cổng nhập môn tới thi ca Tiệp Khắc cho người nói tiếng Việt (dẫu họ đang sống tại Việt Nam hay bên trong cộng đồng người Việt tại CH Séc) mà còn là nguồn cảm hứng cho những „trẻ chuối“ - thế hệ người Việt Nam sinh ra trên đất nước Séc. Thông qua tuyển tập này họ sẽ có thể bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới việc gắn kết hai nên văn hóa.
Bác ing. Đỗ Ngọc Việt Dũng chính là một minh chứng tích cực rằng người kinh doanh chuyên nghiệp vẫn không mất đi sự quan tâm yêu thích tới thi ca. Một hiện tượng hiện nay hiếm trong xã hội Việt Nam.
Ước gì có một nhà biên dịch Séc dịch nhiều tác phẩm của nhà thơ Việt Nam sang tiếng Tiệp như thế.
Nguồn: Tuyển tập Thơ Sec & Sloviakia. Do.honza Đỗ Ngọc Việt Dũng Tuyển chọn và dịch từ nguyên bản tiếng Séc & Slovakia. NXB Hội Nhà văn, 20914. Hiệu đính và tái bản lần thứ hai, 2018.
www.trieuxuan.info
|