CÁI NGANG NỐI THÂN YÊU
Tặng Nguyễn Văn Long
Sao anh vội ra đi
Cho bạn bè trống trải
Bước chân anh sững lại
Cánh rừng này mênh mông.
Mây và núi Trường Sơn
Làm thành cây ngang nối
Gắn hai miền vời vợi
Gắn bạn bè gần xa.
Những gian khổ ta qua
Núi cao và đèo dốc
Những trưa hè chống giặc
Lại nhớ về bạn xưa.
Tôi đi trong vần thơ
Ngọt ngào hương đồng nội
Tâm hồn anh hiền dịu
Hoa nhài thoang thoảng bay.
Dù thiếu nắng, thiếu mây
Cây vẫn đơm tròn nụ
Gian lao đang ấp ủ
Hạnh phúc xòe cánh ô.
Đất nước là bài ca
Trường Sơn là khuông nhạc
Cái ngang nối thân yêu
Kết liền bao khúc hát.
Ôi Trường Sơn bát ngát
Gửi lại bao con người
Những con tim trăn trở
Không một ngày buông xuôi.
Bây giờ tháng năm rồi
Tháng của mùa gặt hái
Cái ngang nối thân yêu
Trong lòng tôi sáng mãi !
CÂY TÍN HIỆU
Cây bù cua trước làng
Có từ thuở nội anh còn nhỏ
Tán lá rộng xòe che vạt cỏ
Làm vui nhiều lớp trẻ chăn trâu.
Những người già truyền lại đời sau
Con chim thần mang hạt từ phương Bắc
Nên cây chịu bao nhiêu mùa gió rét
Lá cây bù cua chẳng rụng bao giờ.
Những đứa trẻ của làng khi hết tuổi thơ
Ngợi ca mãi cây mang nhiều kỷ niệm
Cho rằng cây bám vào lòng đất
Nên chẳng bao giờ tắt được mầu xanh.
Những cánh đồng thay đổi cùng tháng năm
Riêng cây bù cua vẫn một mầu chung thuỷ
Không đếm hết những tâm tình thủ thỉ
Trai gái yêu nhau
Và mùa khô đất trắng xác một màu
Cây là tàn xanh mát mắt
Ở những năm mõ dồn, trống thúc
Cây cũng reo lên cơn bão đầu mùa.
Mùa mưa
Mùa khô
Theo dấu giầy đinh xâm lược
Xe tăng rú và pháo bầy “dạo nhạc”
Bụi tầm vông bao quanh làng xơ xác
Ở đô thành khúc hát xưa cũng lạc điệu đi
Cây bù cua vẫn là nơi hẹn điểm trở về
Hàng năm, hàng năm vẫn búp non đỏ ối
Báo hiệu mùa cấy cày, mùa vui…
Chúng nó đem dây xích xe tăng
Chúng nó giật, nhưng cây chẳng đổ
Pháo chụp chém, lá rơi đầy mặt cỏ
Và bom xăng thiêu cây đen thui
Cây vẫn trơ đứng trụ giữa trời.
Bây giờ cây chết rồi
Vẫn cây bù cua hai người ôm không xuể
Những cánh tay đen đúa giơ lên
Như muốn nói tội ác của kẻ thù man rợ
Những năm “chiến tranh cục bộ”
Những năm “Việt Nam hóa chiến tranh”
Chứng tích đau thương
Chất chồng từ Phú Lợi, Duy Xuyên, Hướng Điền, Sơn Mỹ
Vẫn chẳng bắt được ta làm nô lệ
Cả cây cối chết rồi vẫn là hướng chỉ
Cho những ai tìm lại xóm làng
Cây bù cua là tín hiệu tìm đường.
Tháng 7-1974.
THƠ TÌNH VIẾT Ở VÙNG TRẢNG NẮNG
Anh không viết được thơ tình cho em
Như cánh đồng khô cần dòng nước mát
Mà anh viết hoài về đớn đau, ác liệt
Điều thừa trong mọi tình yêu.
Có gì đâu, khi ở đây bom sớm pháo chiều
Xe bọc thép ủi tróc hầm bí mật
Thuốc độc cháy những cánh đồng bát ngát
Trẻ thơ ngây vắng mẹ khóc hoài.
Anh lại đành hẹn với em ngày mai
Khi tiếng súng im và trẻ thơ no sữa
Anh được hôn em cái hôn đoàn tụ
Anh lại nói cùng em về tình yêu cái thuở ban đầu.
LẰN CỜ
Lằn cờ phân ranh giới
Chạy ngoằn theo đường mương.
Bên kia là đồn giặc
Bên này là bình minh.
Vạt cỏ bấc nằm chung
Rách tươm vào tận nõn.
Dè dặt con cá quẫy
Nhoáng nước hố bom sâu.
Một vầng sáng trên đầu
Mà xanh hai vạt cỏ.
Lòng ta như nghẹt thở
Về lằn cờ phân chia.
Suối Cụt, 1974.
BÔNG CỎ MAY
Gặp lại bông cỏ may
Giữa một vùng hố pháo hố bom loang lổ
Bông cỏ may bạc phơ
Như cọng rơm nắng nỏ
Thanh khiết quá ôi hương cây hương cỏ
Hương vị đồng quê.
Thuở chăn trâu cắt cỏ ven đê
Bông cỏ may chen chúc bên lề đường chuột chạy
Điều thân thiết năm xưa giờ gặp lại
Báo hiệu cho ta những cánh đồng làng.
Trên kia ruộng cao đã trắng lốp hoa vừng
Đậu phộng vàng đang trầm mình xuống đất
Chỗ đất gầy xơ xác nhất
Cỏ may lên.
Mẹ kể ngày xưa cái năm đói bốn lăm (1945)
Giặc bất nhân chạy tàu đốt thóc
Bông cỏ đồng ta mang hơi ngũ cốc
Ấm lòng người những bữa cháo củ môn.
Bây giờ kẻ thù lại quăng xuống đồng hàng triệu tấn bom
Rải xuống bạt ngàn cỏ Mỹ
Nhưng những mái nhà tranh giản dị
Vẫn cứ còn với mầu xanh mầu bạc cỏ may
Ôi yêu thương cây cỏ đất này
Một bông hoa vàng cô đơn nở ngoài bìa xóm
Một bông cỏ may mọc lên giữa gò đất khô giòn
Một tiếng thá ví giục trâu đi
Và tiếng trẻ học bài nghe như nghẹn lại.
Hai mươi năm rồi ta mới có hôm nay
Bao máu đổ rồi ta mới có cánh đồng có cây có cỏ
Đường ta đi nghe hương đồng nội tỏa
Thấy vững lòng khi tiếp bước đi lên.
Bữa cơm vắt ăn trên đường hành quân
Bông cỏ may nói hộ lòng ta với mẹ.
Trảng Bàng, 7-1974.
ĐẾN LÀNG HUỶ DIỆT
Lếch thếch mang đồ đội nắng đi
Tôi đến với những làng huỷ diệt
Nghe vần thơ vang trong nắng khét
Ngọt ngào như một đám mây che.
Lộc Hưng, 1974.
MỘT KHÚC DÂN CA
Cứ ngỡ em là người đồng hương
Khi em hát bài dân ca quan họ
Những cái tên Cầu Lim, Nội Duệ
Trong lời em sao rộn rã tâm tình.
Câu hát đố, ai buông trên đồng
Để lòng ai bâng khuâng, lưu luyến
Cha mẹ ngày xưa nói với nhau như thế
Cho hôm nay ta thấy yêu hơn.
Nước sông Cầu ai mang lên Trường Sơn
Tắm mát những tâm hồn chiến sĩ
Đi với chúng mình những ngày đánh Mỹ
Có bao tâm tình trai gái yêu nhau.
Bãi bồi xanh từ phù sa sông sâu
Điệu dân ca gợi lên hồn dân tộc
Đất nước trải mấy ngàn năm đánh giặc
Vẫn ngọt ngào những khúc ca tình yêu.
Đường ta đi có nắng sớm mưa chiều
Những cánh đồng đã hoang mấy vụ
Câu căn dặn người ơi, người ở
Tâm tình xưa hôm nay lại vang lên.
Những câu hát đi từ bình yên
Âm vang suốt chiến trường khói lửa
Đất nước thân yêu có nhiều máu đổ
Và ngọt ngào bao làn điệu dân ca.
Người về làng hát khúc hát ngày xưa
Tiếng hát hôm nay rộng dài vô tận
Tiếng hát vui say chan hòa sắc nắng
Làm phù sa cho sông lại chở đi…
1974.
NGƯỜI NỮ CÁN BỘ TRẺ Ở VÙNG VEN
Tặng Nguyễn Thị Hồng
Mùa lũ về con nước lên to
Em vượt sông ướt đầm mái tóc
Nhưng tiếng gọi của khoảng trời phía trước
Thiết tha, da diết gọi em về.
Bám dài những bước em đi
Ngày hành quân có khi đói lả
Đêm đột ấp bao điều mới lạ
Nút mìn chờ và con mắt săm soi.
Khi em là cô giáo giảng bài
Khi thợ cấy ngày mùa bận rộn
Bữa cơm chiều hôm nào cũng vội
Đội khăn theo du kích lên đường.
Em xôn xao với hơi thở chiến trường
Trăn trở tìm hồi sinh cho đất
Em bé nhỏ trong cái nhìn cô bác
Đột lớn lên sau trận san đồn.
Đôi mắt quầng thâm những đêm thức tròn
Bàn tay mảnh thêm vết sần chai sạn
Nơi bom thả ban ngày, ban đêm pháo sáng
Em nói với mọi người về lòng tin.
Những mái tranh gầy nhỏ mọc lên
Đám khói lam nhắc tên làng ngỡ mất
Trong âm thanh đất nước mình đánh giặc
Có tiếng vùng ven của em.
Như đống than âm ỉ trong đêm
Nhen lửa cho ngày mai đồng khởi!
12-1974.
Nguồn: Gió vẫn thổi về từ biển. Thơ chọn lọc của Lê Quang Trang. NXB Văn học, 2009.
|