Nguyễn Công Quân
Sinh năm 1942 (Nhâm Ngọ), tại Đông Anh, Hà Nội. Hiện sống và làm việc tại Hà Nội.
Tác phảm đã in: Sắc đời, 1992; Khát vọng, 2000.
Chùm hoa nắng
Anh hái trộm những chùm hoa nắng
Của thần Mặt Trời
Anh gửi tặng em
Họ bắt anh nhốt vào ngục tối!
Xa cách em càng nhớ thương nhiều.
Họ đâu hiểu khát khao kỳ diệu
Của tình yêu ở dưới trần gian
Tòa xử kín không người biện hộ
Thưa Ngọc Hoàng:
Tôi phạm tội chi?
Hỡi Thượng Đế! Người ban sự sống,
Nếu thiếu tình yêu,
còn ý nghĩa gì!
Chùm hoa nắng của muôn loài trần thế
Sao các người độc chiếm để vui riêng?
Chốn Thiên đình tôi vẫn ngỡ linh thiêng
Nay mới rõ bao phường ô trọc.
Bọn triều thần nổi cơn thinh nộ
Ném tôi vào giữa vạc dầu sôi
Bừng tỉnh dậy biết mình mộng mị
Hoa nắng bên thềm muôn sắc lung linh
Hà Nội, 2006
*
Chuyện có bốn người
Đường thênh thang xóa đi lối cũ
Đúng nhà đây! Sao cổng ở phía này?
Đã nhầm lẫn, mấy lần xin lỗi
Tôi bấm chuông đứng đợi bồi hồi.
Một cháu gái chừng mười hai tuổi
- Thưa chú hỏi ai? Cứ chằm chặp nhìn tôi
- Chú hỏi cô Xuân ở xóm Ngọc Hồi
Chẳng trả lời tôi
Cháu gọi to:
Mẹ ơi! Có khách
Người phụ nữ như sống trong mong đợi
Tất tưởi chạy ra, sững lại nhìn tôi
Như biết chuyện riêng tư của mẹ
Cháu vội vàng lặng lẽ vào trong.
Xúc động quá! Xuân òa lên khóc
Tôi bâng khuâng như chết đứng giữa trời
Dẫu biết những điều Xuân muốn nói
Lỗi tại em đâu! Bởi chiến tranh thôi!
Bỗng xuất hiện người đàn ông đứng tuổi
Chúng tôi nhận ra nhau:
Xưa cũng ở chiến trường.
Trần Quang Quý
Sinh năm 1955 (Ất Mùi), tại huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ. Sống và công tác tại Hà Nội (Tạp chí Dân số và Gia đình). Thơ đã in: Mắt thẳm;
Viết tặng em trong ngôi nhà chật.
*
Viết tặng em trong căn nhà chật
Lối về nhỏ căn nhà ta bé nhỏ
Một tiếng guốc khua cũng đủ chật rồi
Em nấu bếp nhìn anh trong mắt ướt
Thế là chiều Hà Nội bớt lang thang
Gió ơi gió
Chiều nay thôi đừng rủ
Cây ơi cây
Thôi lá rụng im lìm
Cuộc đời thật mỗi ngày reo quanh bếp
Cứ chập chờn ngay cả lúc yêu em.
Đâu những tầng lầu sang, ánh đèn cao áp
Mái nhà con vừa khép đủ chúng mình
Ta bỗng thấy thương hơn từng con nhện
Đi suốt đời một mảnh tơ riêng
Em vất vả, gầy hơn, đêm ít ngủ
Lo cho anh chi chút lên đường
Một viên thuốc đến năm ba lần dặn
Ốm đau tan từ một lời thương
Anh nghèo lắm có gì đâu ngoài sách
Có gì đâu gia tài chẳng ngoài em
Ô cửa hẹp mà trời thăm thẳm quá
Một ngôi sao thả lỏng giữa xa mờ
Anh bất chợt nhìn em bất chợt
Ô cửa này rộng mở anh đi.
1985
***
Nguyễn Thanh Toàn sinh năm 1937 (Đinh Sửu), tại Như Lâm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Công tác tại Hội Văn Nghệ Hải Phòng.
*
Đồi không tên
Nếu sau trận đồi không tên
Tôi không về nữa
Tên tôi đã được khắc vào đá
Cuộc chiến đấu không định trước
Một mình đánh lui hàng trăm tên
Người ta đã viết thành sách
Như một thánh tích.
Nhưng sau trận thắng ngẫu nhiên
Về
Giữa đời thường
Tôi
Gõ cửa
Trăm ngàn sở.
Trận đánh để tồn tại này
Thật ngẫu nhiên
Lại cần những đồi không tên.
1987
Hỏi Trời
Tưởng nhớ nhà văn Nguyên Hồng
Quán rượu Mê Linh (*) dăm bảy khách
Ngồi xếp bên nhau quanh phản mọt
Nhắm với lạc rang muối sống thôi
Nước trong tăm lặn uống cứ ngọt
Quệt tay áo rộng qua ngang mặt
Ông lau nước mắt hay mồ hôi
Chỉ thấy lặng im râu sủng ướt
Mắt mở trừng trừng nhìn không thôi!
“- Cháu hai vợ chồng đi dạy học
Lương cao vào loại khá trong ngành,
Không cờ bạc, ốm đau, nghiện ngập,
Con thì hai đứa học chăm ngoan,
Vậy mà quanh năm rách vẫn rách...
Muốn hỏi vì đâu?- Cháu hỏi bác”
“- Hỏi trời!”
Nói rồi, ông lặng ngắt
Lại quơ tay áo lên ngang mặt
Thoáng như ông khóc mắt rưng rưng
Thoáng như ông cười râu cũng ướt.
__________
(*) Mê Linh: một phố trung tâm Hải Phòng.
Nguyễn Trọng Tuất
Còn có bút danh là Hoàng Thi. Giảng dạy ngoại ngữ tại trường Đại Học Vinh- Nghệ An. Thơ đã in:
* Sao Hôm sao Mai. NXB Nghệ An, 1984;
* Số “0” tinh nghịch. NXB Nghệ An, 1992;
* Cánh buồm không ngủ. NXB Nghệ An, 1998.
Nhớ Thầy
Kính tặng Thầy Nguyễn Thúc Hào
Cái thời ăn hột bo bo
Thương thầy bao nỗi buồn lo cho trường
Áo bông mặc kín che sương
Dép cao xu bấm đường trơn đất đồi
Gò La (*) mưa gió dập dồi
Nghe thầy giảng Toán trưa ngồi vẫn mê
Bàn tre thanh nứa bốn bề
Chiến hào chạy giữa xum xuê hoa rừng
Một thời mặn muối cay gừng
Một thời tóc bạc trắng từng sợi đen
Hạt bo thầy vẫn ăn quen
Đêm ngồi thức với ánh đèn leo heo
Cái thời đất khổ nước nghèo
Nhớ thầy bao chuyện bao điều thầy lo...
Tháng 12- 1998
________________
(*) Tên vùng sơ tán của Khoa Toán tại huyện Thạch Thành,tỉnh Thanh Hóa.
Lục bát tự bạch
Mái đầu nửa bạc nửa xanh
Một thời bom đạn chiến tranh trắng trời
Ngọn đèn dầu nhỏ khêu khơi
Giấu trong góc cửa đêm trời kín mây
Ngỡ như sức yếu thân gầy
Bát cơm độn nửa ngô mày xát xô
Đất rừng bom lửa khát khô
Chông chênh lớp học nhấp nhô núi rừng
Viết trang giáo án nửa chừng
Nhấp nhoe nước mắt lạc từng chữ ghi
Một thời xa nhớ chia ly
Thương em ngóng đợi những khi vắng nhà
Đâu rồi thành phố anh xa
Mây chiều lạc bản trắng nhòa gió sương
Đèo cao hun hút mái trường
Bàn chân tìm lối ngược đường hoẵng kêu
Một thời đói khổ gieo neo
Vẫn say tiếng giảng câu Kiều xa xưa
Bây giờ tóc đã lưa thưa
Nửa xanh nửa bạc hồn mơ với đời
Giá còn được tuổi hai mươi
Để tôi sống lại một thời đạn bom
Trái tim ơi, lửa vẫn còn
Tình tôi mãi mãi sắt son với trường...
12- 1999
Nguồn: Rút từ Tiếng Việt, tiếng của thi ca, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|