Trần Đương
Sinh năm 1944 (Giáp Thân), tại xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Nhiều năm làm việc ở TTX Việt Nam tại Đức..
Tác phẩm: Sầm Sơn, Thơ, 1993;
Dịch và giới thiệu các tập thơ từ tiếng Đức:
- Thơ tình Heine (1992);
- Tình yêu và Bão táp- Các-Mác (1983).
Hồ Nga, xứ cò
Kính tặng Mẹ
Lại về bát ngát quê Thanh
Thăm vùng cò trắng đất lành Hồ Nga (*)
Cánh cò bay lả bay la
Bay từ ruộng lúa, bay ra cánh đồng.
Hỡi đàn có xứ Tiến Nông
Mình đi ngợp nắng trắng sông cánh cò
Mỗi lùm tre tỏa mặt hồ
Thành quê hương những tổ cò, cò ơi
Đã nghìn năm lẻ, sinh sôi
Hồ Nga cò trắng tung trời vút cao
Dập dìu sáo trúc nôn nao
Lũy tre khuất nẻo mà sao ấm lòng
Cò là bạn tốt nhà nông
Người thương người mở mênh mông bãi cò
Trồng thêm cây, tỏa mặt hồ
Tre xanh iu ấp, tổ cò bình yên
Một bảo tàng lớn thiên nhiên
Hồ Nga ơi, hãy vút lên cánh cò!
Xanh tre, xanh ruộng, xanh hồ
Trắng trời, trắng nước, trắng cò, trắng mây...
Xứ cò thanh bạch là đây...
1988
________
(*) Hồ Nga: thuộc xã Tiến Nông, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa, có hàng vạn con cò đến ở quanh hồ.
Bảo Định Giang
Tên thật là Nguyễn Thanh Danh, sinh năm 1919 (Kỷ Mùi), tại tỉnh Tiền Giang. Tập kết ra Bắc, Phó Chủ tịch Hội LH.VHNT Việt Nam.
*
Tình Tháp Mười
Ai ơi, có nhớ Tháp Mười
Về đây tìm lại dấu người xưa, xa...
Sen đồng nay đã nở hoa
Mùi hương đằm thắm cho ta nhớ mình.
Hây hây nắng xế dịu lành
Trăng trầm ngả bóng bờ kênh so hàng
Tình thương đất nước mênh mang
Hồn vui như nắng trải vàng ruộng xanh
Nước phèn trong vắt thủy tinh
Lưng sâu thấy đáy tâm tình nông dân.
Gái trai lưu luyến mùa trăng
Câu hò thêm đậm tinh thần nước non.
Trăm cay nghìn đắng khôn sờn
Lòng người sau trước sắt son một lòng.
Bâng khuâng ai có thấu cùng
Còn đây mà lại tưởng chừng đã xa.
Ngày mai Tổ Quốc reo ca
Bờ kênh ruộng lúa có ta bên mình.
7- 1948
***
Cầm Giang
Sinh năm 1931 (Tân Mùi), tại Thanh Hóa. Mất năm 1989.
Thơ đã in:
Gió núi biên phòng;
Rừng trắng hoa ban;
Người bản Nà Phiêu;
Nà Phiêu đánh Mỹ.
Núi Mường Hung dòng sông Mã
Anh là núi Mường Hung
Em là dòng sông Mã
Sông nhiều rêu, niều cá
Núi nhiều thú, nhiều măng
Chiều bóng anh che sông
Sớm mắt em lóng lánh
Sáo cành cây anh thổi vang lanh lảnh
Gió lùa qua miệng anh lại mỉm cười
Rộn lòng em thuyền độc mộc ngược xuôi
Như trăm nỗi băn khoăn khi đến tuổi
Nếu trời làm em sóng nổi
Anh ngả mình ngăn lại lúc phong ba
Em là búp bông trắng
Anh là ngọn lúa vàng
Thi nhau lớn đẹp nương
Tỏa mùi thơm cùng nghe chim hót
Em cứ về nhà trước
Đợi anh ở bên sông
Anh làm no lòng mường
Em làm vui ấm bản
Nếu con gấu giẫm gãy cành bông trắng
Lá lúa anh sẽ cứa đứt chân
Nếu lúa này chuột, khỉ dám đến ăn
Sợi bông em sẽ bay mù mắt nó
Anh là rừng thẳm
Em là suối sâu
Cây rừng anh làm cầu
Bắc ngang lên dòng suối
Hoa sim nở đỏ chói
Soi bóng xuống lòng em
Nếu hùm về, suối em thành thác
Nếu sói về, rừng anh sẽ thành chông
Quyết chẳng chịu đau lòng
Đời chúng ta rừng núi
Suối em phá tan bóng tối
Rừng anh chặn lại bão giông
Để anh lớn mãi thành núi Mường Hung
Em ngoan chảy thành dòng sông Mã
2- 1953
___________
(*) Mường Hung là tên ngọn núi lớn nhất ở Sơn La- Lai Châu.
Nguyễn Hà
Sinh năm 1932 (Nhâm Thân), tại Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội..
Tam Đảo một mình
Tặng Mai
Chiều không em màu tím rất phân vân
cứ dùng dằng bóng ngày không nỡ dứt
mưa cũng tương tư rào rào thảng thốt
nước lòng khe dâng đầy
Nắng ngập ngừng lấp ló trong cây
màu nắng quái sao da diết thế
con đường núi như là riêng để
đợi hai người. Kìa lang thang mây
Nỗi mong em thành màu tím trên cây
hoa bìm nở. Hoa bìm... em có nhớ?
cái màu hoa leo lan lối ngõ
nơi chúng mình vẫn đứng chờ nhau
Ở trên này suốt những đêm thâu
ánh đèn sáng bướm bay về chạm cửa
con bướm thức lẽ nào anh lại ngủ
em cũng thành cánh bướm nhớ... xôn xao
Mái nhà tôn và hạt sương nào
vừa rớt xuống một giọt trầm ắng lặng
hoa khép cánh, suối thở dài, đêm nặng
em ở đồng bằng? em ở đâu?
Vũ Huy Hạnh
Tên thật là Vũ đình Hạnh, sinh năm 1946 (Bính Tuất), tại Quang Châu, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Cử nhân Hóa học. Hiện công tác tại Hà Nội.
*
Khóc nàng Tô Thị
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh...
Ca Dao
Chân vừa đặt tới Đồng Đăng
Vội vàng tìm đến hỏi thăm núi Nàng.
Cả vùng đất đá tan hoang
Lò vôi man dại hóa dàn lửa thiêu!
Khói bay đục cả trời chiều
Tiếng mìn công phá tình yêu bao đời!
Lò vôi bạc cả tình người
Nỡ đem nung chết những lời ca dao!
Ngày xưa giọng mẹ ngọt ngào
Nàng Tô Thị cũng bước vào tiếng ru
Vỗ về giấc ngủ trẻ thơ
Nàng hiền như những cánh cò bay la.
Trông chồng hóa đá xót xa
Hồn thiêng vương áng mây sà đầu non.
Bóng người thiếu phụ bồng con
Nghìn năm sừng sững sắt son đợi chờ.
Dẫu không thách thức quân thù
Cũng lời đất nước từ xưa vẹn toàn.
Nàng như cột mốc hiên ngang
Lại như đứng đợi người sang bên này!
Nàng ơi! Thôi cũng từ đây
Hóa thân lần nữa không ngày gặp nhau
Trời xanh có thấu lời cầu
Xin đưa Nàng tới nơi đâu vĩnh hằng!
Biết đem cả núi bạc vàng
Cũng không chuộc lại được Nàng nữa đâu!
Nghìn năm sau, triệu năm sau
Câu thơ truyền kiếp nỗi đau oán hờn!
Hà Nội, 16-9-1991.
Nguồn: Rút từ Tiếng Việt, tiếng của thi ca, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |