Vũ Thu Hằng
Cốm Vòng
Qua mùa bão nổi mưa giông
Nếp nghiêng dáng đợi sen hồng nụ tươi
Nắng thu đã lúng liếng cười
Những cô nón trắng gặt lời trẻ măng
Lăn trên lửa đỏ chảo gang
Dẻo thơm hạt biếc trăng vàng cũng xanh
Mây buông lơi giọt sương lành
Thập thình chày vọng tiếng thanh tiếng giòn
Đi xa mấy biển mấy non
Cốm thơm từ đất sen tròn lá thương
Ai mang Xanh giữa phố phường
Để Thu ngơ ngẩn uống hương đồng Vòng.
30- 7- 1975
Nguyễn Huy Hoàng
Sinh năm 1954 (Giáp Ngọ), tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Là Tiến sĩ Ngữ văn, công tác tại trường Đại Học Tổng Hợp Lômônôxốp, Matscơva. Thơ đã in:
- Ngoảnh lại. NXB Văn Học, 1996; Phía bên kia trời. NXB Văn Học, 1998.
Tổ Quốc
Xin đừng gọi bằng ngôn từ hoa mỹ
Những sông dài, biển rộng, những tài nguyên
Quê hương tôi vùng quê nghèo lặng lẽ
Trên bản đồ không dấu chấm, không tên
Ở nơi ấy đất khô cằn, cháy bỏng
Tre còng lưng nhẫn nại đứng trưa hè
Đất khô nẻ chân chim mùa nắng hạn
Ngọn gió lào heo hắt cỏ chân đê
Ở nơi ấy mùa trăng về bát ngát
Gió nồm nam trong vắt tiếng sáo diều
Có mái tóc xanh hương mười sáu tuổi
Đi suốt đời ký ức vẫn mang theo.
Ở nơi ấy có một căn nhà nhỏ
Mẹ già nua tóc bạc ngóng con về
Tấm áo vá run trên từng sợi chỉ
Trong bóng chiều nhuốm khói rạ bóng tre.
Ở nơi ấy tuổi thơ tôi đã sống
Tôi yêu thương bằng tất cả tâm hồn
Dẫu lưu lạc khăp chân trời góc bể
Giấc mơ nào cũng bóng dáng quê hương.
Phạm Hổ
Sinh năm 1926 (Bính Dần), tại An Nhơn, tỉnh Bình Định Sống và làm việc tại Hà Nội. Ông là nhà thơ quen thuộc của thiếu nhi suốt trong thời gian hai cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ. Thơ ông viết cho người lớn nhiều bài mang tính triết học sâu sắc.
Những ngọn cây cao
Tôi quên, không nhớ tự lúc nào
Tôi thích nhìn lâu những ngọn cây cao
Cây nhiều tuổi đó là nơi trẻ nhất
Nơi hồn nhiên và mát xanh như ngọc
Nơi mỗi mai được tắm trước nắng hồng
Nơi đêm về đón trước giọt sương trong
Tôi càng quên không nhớ rõ tự nơi nào
Tôi thích nhìn lâu những ngọn cây cao
Nơi gió thoảng, trăng lên đã vội vàng rung động
Nơi chim hót, thấy đất trời thêm rộng
Như lòng ta, khi yêu quá cuộc đời
Với muôn lòng, dễ rung mãi niềm vui
Nơi dòng nhựa lặng im đi xa nhất
Lo nuôi cây chóng tạo nên tầm vóc
Nơi ngọn tơ non yêu nhớ gốc bền lâu
Nơi gần trời càng ơn nghĩa đất sâu
Tôi thích nhìn lâu những ngọn cây cao
Mà suốt đời chưa hiểu hết vì sao!
Cái bóng con nguời
Khi có mặt trời
Khi có mặt trăng
Khi có ánh đèn, ánh đuốc
Nó thường hiện ra
Cái bóng ấy mà!
Có mà không có!
Không có mà có!
Vừa là người, vừa là ma!
Vừa là ai, vừa là ta!
Cùng người, cái bóng
Ngày một yếu già;
Theo người, cái bóng
Lên đường đi xa.
Người tan trong đất
Cái bóng đâu còn!
Bóng thành hương khói
Tần ngần bay thơm?
1997
Chuyện bốn mùa
Bón mùa bao chuyện buồn vui
Để cho người ở trên đời bâng khuâng!
Mùa Xuân, có chuyện nàng Bân
May áo cho chồng trời phải rét thêm.
Mùa Hè, có chuyện An Tiêm
Quả dưa hấu đỏ, trước thềm đảo hoang.
Mùa Thu, nước mắt hai hàng
Gặp nhau Chức Nữ, Ngưu Lang nghẹn ngào.
Mùa Đông, gió bấc ào ào
Nhìn nàng Tô Thị non cao ngậm ngùi.
Bốn mùa bao chuyện buồn vui
Để cho người ở trên đời bâng khuâng
10- 1997
Nguyên Hồng (1918- 1982)
Nhà văn, sinh năm 1918 (Mậu Ngọ), tại Nam Định. Mất năm 1982. Là nhà văn công nhân nổi tiếng trước tháng 8-1945. Thơ đã in: Trời xanh.
Cửu Long Giang ta ơi!
Ngày xưa ta đi học
Mười tuổi thơ nghe gió thổi mùa thu
Mắt ngẩng lên trông bản đồ rực rỡ
Như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ.
Bản đồ mới tường vôi cũng mới
Thầy giáo lớn sao, thước bảng cũng lớn sao,
Gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ
Đưa ta đi sông núi tuyệt vời.
Tim đập mạnh hồn ngây không sao hiểu
Mê Kông sông dài hơn hai ngàn cây số mông mênh
Nguồn tận Trung Hoa có Vạn Lý Trường Thành
Có HyMã LạpSơn, Động đình Hồ, Tây du, Thủy Hử
Mê Kông chảy
Cây lao đá đổ
Lan hoang, dứa mật, thông nhựa, lên hương
Những trưa hè ngun ngút nắng Trường Sơn
Ngẫm nghĩ vơi đi
Thác Khôn cười trắng xóa
Rừng Lào- Miên rộng quá
Dân Lào- Miên mến yêu
Xôi nếp nước trong sẵn sàng chia bạn đói.
Ta đi bản đò không nhìn nữa
Sáng trời thu lại còn bướm với trời xanh
Trúc đào tươi chim khuyên rỉa cánh
sương đọng long lanh
Ta cởi áo lội dòng sông ta hát
Mê Kông chảy Mê Kông cũng hát
Rừng núi lùi xa
Đất phẳng thở chan hòa.
Sóng tỏa chân trời buồm trắng
Nam Bộ
Nam Bộ
Chín nhánh Mê Kông phù sa nổi váng
Ruộng bãi Mê Kông trồng không hết lúa
Bến nước Mê Kông tôm cá ngập thuyền
Sầu riêng thơm dậy đất Thủ Biên
Suối mát dội trong lòng dừa trĩu quả
Mê Kông quặn đẻ
Chín nhánh sông vàng
Nông dân Nam Bộ gối đất nằm sương
Mồ hôi vã bãi lầy thành đồng lúa
Thành những tên đọc lên nước mắt đều muốn ứa
Những Hà Tiên, Gia Định, Long Châu
Những Gò Công, Gò Vấp, Đồng Tháp, Cà Mau
Những mặt đất
Cha ông ta nhắm mắt
Truyền cháu con không bao giờ chia cắt.
Ta đã lớn
Thầy giáo già đã khuất
Thước bảng to nay thành cán cờ sao
Những tên làm man mác tuổi thơ xưa
Đã thấm máu của bao hồn bất tử
Những Minh Khai, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Trần Phú
Những bông hoa dân tộc anh hùng
Mười sáu tuổi xanh
Em Đuốc Sống đót mình phá tan kho đạn giặc
Võ thị Sáu vành răng cắn chặt
Giữ trung trinh cho đến phút cuối cùng
Đạn giặc xuyên lổ chổ ngực măng non
Đỏ thắm nụ cười
Chào Bác Hồ và Việt Nam bất diệt.
Đêm nay
Cửu Long Giang vẫn âm vang sóng cát
Sao khuya lấp lánh
Lửa chài thức sáng nhịp hát hò ơ
Đồng Tháp xa đưa những tiếng mẹ ru
Hồ Chí Minh thành ca dao bát ngát
NH.
Nguồn: Rút từ Tiếng Việt, tiếng của thi ca, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|