Văn Lê
Sinh năm 1949 (Kỷ Sửu), tại Ninh Bình. Sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh. Thơ đã in: Một miền đất, một con người; Khoảng thời gian tôi biết;
Phải lòng.
THÁP CHÀM
Ngút ngàn ở giữa rừng xanh
Hiện lên ngọn tháp một mình cô đơn
Người xưa đã chọn mặt tường
Để lưu giữ lấy tâm hồn thiêng liêng
Nắng chiều ngọn tháp đổ nghiêng
Thời gian ăn rỗng cả viên gạch hồng
Vậy mà trong thớ đất nung
Vẫn còn in đậm chân dung con người
Còn đây vũ nữ lả lơi
Trăm năm vẫn múa không người lại xem
Thần tình yêu nép bên thềm
Mũi tên số phận chưa tìm đích bay
Còn đây một mẩu cánh tay
Một bàn chân gãy, một cây gươm cùn
Một con ngựa mất yên cương
Một cây cung cháy, lửa cồn xung quanh
Những gì thuộc của chiến tranh
Chẳng còn giữ được nguyên lành, lạ không!
Bao năm gió táp mưa rừng
Vẫn không xóa được chân dung con người
Để chiều nay trước mắt tôi
Một người múa với một người đứng xem
Vô tư như một ngọn đèn
Tháp Chàm lặng lẽ sáng lên giữa rừng.
Trần Lễ
Sinh năm 1918 (Mậu Ngọ), tại Hương Trà, Thừa Thiên- Huế. Sống và làm việc tại TP. Quy Nhơn.
Một mai
Giọt thu tiễn đóa cúc vàng
Sang sông có nhớ anh chàng vô duyên?
Thuyền nghiêng nghiêng, sóng nghiêng nghiêng
Ai nghiêng tóc thả ưu phiền qua song
Một mai mai một dặm hồng
Ru con lỡ hát những dòng thơ xanh
Chim chuyền ríu rít vườn chanh
Thưong thương chiếc lá mong manh thẫn thờ
Thơ xưa dấu cũ lu mờ
Nửa quên, nửa nhớ, ơ hờ nắng mưa.
*
Đong đưa
Em đi để lại vầng trăng
Mơn man ngoài song cửa
Một nửa là em
Một nửa không em
Em đi còn lại đâu đây
Thoang thoảng hương say
Tìm em đâu thấy
Quỳnh hoa sương gió lay bay
Em đi bỏ lạnh hiên mưa
Kìa chỗ ngồi xưa
Vàng rơi tan tác
Con dế gầy không hát ca.
Trần Vũ Mai
Cực Nam
Ơ, cái gió Tuy Hòa
Cái gió chuyên cần và phóng túng
Trần Mai Ninh
Cực Nam
Gió chướng ngang trời
Gío từ La Hai ngược lên Đắc Lắc
Đường xuyên sơn hẳm dốc
Gió quần vang trảng trăng thu
Một lối rẽ bất ngờ
Bạn đi Phan Thiết
Vô chiến khu Lê Hồng Phong ác liệt
Hầm sâu giấu nước mùa khô
Muối vượt lên đỉnh thẳm
Nước mát qua năm tháng đến bây giờ
Sông cuồng giận chân bờ bến lở
Còn đây lời nhắc nhở
Ba mươi năm nếm mật nằm gai
Đa Ngư ngẩng nhìn bia đá
Ta đau trong dạ
Thằng ác ôn dẫn giặc về làng
Tàn tranh phơi cát trắng
Máu người đổ rừng dương Bãi Đắng
Cha ta
Hai mươi năm giữ làng đi về một lối
Em gái ta
Thân quấn cờ đấu tranh chói lọi
Tuổi trẻ ta
Đánh giặc
Đọc thơ “Nhớ máu” Trần Mai Ninh
Khúc hùng tráng rừng vang
Bước khởi sự lên đường Nam tiến
Gương mặt trẻ hôm nay của đoàn quân Giải phóng
Chúng bay kinh hoảng ư
Trước màu áo một buổi mai mọc dậy
Tự những căn hầm nuôi gió chướng Cực Nam
Ôi, màu áo như đồng bằng
Lòng ta thương nhớ quá
Em gái dẻo vai gánh nước qua cầu
Gioa bay.
Lũ giặc đến, giếng làng vẩn đục
Lũ giặc kinh hoàng em có biết?
Đât nước thương Cực Nam bị tàn sát
Giữ lòng trong veo
Đất nước thương Cực Nam mẹ nghèo
Dặn con ra trận
Những đứa con bình thường nhanh nhẹn
Đi vào kháng chiến hăng say.
Đất nước căm hờn bao nỗi cắt chia
Không quên được nỗi đau mất đất
Của cải cha ông lũ giặc bán đi rồi ăn hết
Chất màu chất sống nuôi người
Đến bao giờ phai lạt
Dấu vết nhục nhằn này!
Bàn tay chúng bay ôm giày đinh lính Mỹ
Cực Nam
Cực Nam
Ta say đắm tự bao giờ không biết nữa
Bầu trời trong veo
Từng giây phút hiện lên, hình ảnh
Năm khó khăn lòng không bụi mờ
Ruột nghé vài lon hột mít
Hôm nay chính ủy trao cờ
Nếu mắt anh rơi lệ
Là nói rõ niềm vui chiến sĩ
Cho sức mạnh này vào trận đánh gấp trăm lên.
Ôi, những bàn chân nắng đốt cát hầm
Lời thề thấm vào vách sông mạch đá
Những thành phố ta yêu như thành Nha Trang
Nặng chắc đứng lên
Những bàn chân nặng chắc
Sức mạnh nhân dân nổi dậy kết liền
Trên sỏi đá xác bầy gian máu sẫm.
Cực Nam
Cực Nam
Những trận đánh nối dài khởi nghĩa
Giải phóng những xóm làng cửa mở
Những trận đánh báo tin lên với sông Hồng
Nói về cánh tay mạnh mẽ vươn tới Hàm Luông
Nói về mùa xuân
Đến từ tay người chiến sĩ
Bông hồng nở trên bờ Cam Ranh.
Tuy Hòa, tháng 4- 1972.
Tuệ Mai
Tên thật là Trần Thị Gia Minh, sinh năm 1928 (Mậu Thìn), tại Hà Nội. Lớn lên sinh sống tại Sài Gòn và mất tại đó. Bà là con gái nhà văn Á Nam Trần Tuấn Khải. Bà đã xuất bản nhiều tập thơ tại Sài Gòn. Tuy nhiên nhiều bài tầm thường, cách dùng ngôn ngữ nhiều chỗ “sáo”, ít gợi cảm và kém sâu sắc.
Thơ đã in:
* Thơ Tuệ Mai -1962;
Không bờ bến- 1964;
Như nước trong nguồn- 1968;
Trên nhánh sông mưa- 1970;
Bay nghiêng vòng đời- 1971;
Về phía trời xanh- 1973.
Dưới đây là một bài thơ của bà rút từ Những gương mặt thơ mới. tập I- 1994; NXB Thanh niên.
Việt Nam
Xin giữ trong tôi từng ngọn lửa
để nhìn cho thấu những đau thương
chung quanh tôi đó, quê hương đó
lớp lớp thời gian ngợp máu xương.
Những mắt đục ngầu, những óc đen
những già cay đắng, trẻ buồn điên
những cơn sống vội trong hơi loạn
những mái nhà đau chất tủi phiền.
Tôi tự bùn lên, tự đá lên
mấy phương gió độc dọa thân mềm
nhưng trong chất nhựa mang truyền khí
vẫn cố vươn mình, vẫn đứng lên.
Như Việt Nam tôi như Việt Nam
gầy xanh bên sóngThái Bình Dương
vượt từng con lốc, từng cơn bão
lớn, sáng dần lên chữ Việt Nam.
Vũ Đình Minh. Sinh năm 1944 (Giáp Thân), tại Vĩnh Yên. Sống và công tác tại Hà Nội. Thơ đã in: Gió đông; Mưa trước cửa nhà.
*
Hội Lim
Tôi trót biết đời riêng em trắc trở
Nên hội này em hát chẳng vô tư
Nón thúng quai thao em thẹn thò che má
Hát đắm say cho đứt ruột gan người
Hát như thể cuộc đời toàn nhàn hạ
Chỉ để yêu, để nhớ, để thương thôi
Xin gió lạnh đừng lật nghiêng vành nón
Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi
1988
Nghiêm Nhan
Đỉnh Phanxipăng
Em ơi đừng xuống ngựa
Ngựa trắng đưa đường ta lên đỉnh Phanxipăng
(Dân ca H’ Mông)
Em lên đỉnh Phanxipăng với anh không?
Cứ lên đi
Ngựa trắng đưa đường
Tiếng ngựa reo ngược chiều gió hú
Hoa đỗ quyên rực rỡ
Khướu lửa hót trên đỉnh ba ngàn một trăm
Đỉnh ngút trời
Bạt ngàn gió hú
Tình yêu bay trên mây trắng
Ngược triền núi cao
Em về đỉnh Phanxipăng với anh đi!
Gian nan lắm!
Tình yêu ta vượt được
Ngược dốc đá
Anh tìm em trong gió
Đỉnh hú dài
Phanxipăng!
Phanxipăng!
Hí dài
Vó ngựa trắng
Yêu đương!
***
Lữ Huy nguyên
Đêm ở Đồng Đăng
Trích đoạn I:
Mấy đêm rồi tôi ngủ ở Đồng Đăng
Thị trấn miền rừng, địa đầu biên giới
Trập trùng núi, hồn tôi như ngọn suối
Miên man trôi trong thăm thẳm của rừng
Chiếc võng tôi nằm buộc sóng mấy hàng thông
Dãy phố cổ nhấp nhô màu ngói ống
Bức thành đá chạy dài như chân móng
Bốn nghìn năm bền vững một âu vàng,
Gió vô hồi, lịch sử giở từng trang
Hồn tôi dạo dọc dài trong phố tối
Vó ngựa Tống, Thanh bao lần gãy gối
Nấc trong đêm, Nguyên sứ khóc thân già: ”Bóng lòe gươm sắt, lòng thêm đắng
Tiếng rộn trống đồng, tóc đốm hoa” (1)
Đất nước này, quân giặc xéo qua
Dấu thất trận nghìn đời khôn rửa
Lũ lượt Thoát Hoan chết chìm trong lịch sử
Mộng “Nam chinh” vĩnh viễn cuốn xa rồi
Muốn gọi thầm, yêu quá, Đồng Đăng ơi!
Tôi thấy gì trong giấc ngủ của tôi?
Bóng xà cạp kéo lê, đế giày vẹt gót
Tiếng thác loạn những mộng tàn xâm lược
Thời gian trôi như nước xối trên ngàn
Lịch sử biến thiên qua nhiều triều đại
Cơn xoáy lốc ập đều biên ải
Trống tràng thành, trăng mấy thuở lung lay
“Khói cam tuyền mờ mịt tấc mây”.
Dẫu ngựa đá vó câu còn lấm bụi (2)
Nàng Tô thị cũng bao lần xuống núi
Bòng con thơ, ngọn giáo sắc cầm tay
Sức mạnh Việt Nam dồn lại một hôm nay
Tên đồng Cổ Loa nghìn đời chuốt sáng
Vỗ thân cọc sóng sông Đằng dào dạt
Đá Mã Yên giáo mác vẫn khua rền
Mặt trống Đông Sơn tưng bừng vỗ nhịp
Nhạc võ Quang Trung rền vang Tam Điệp
Muốn gọi thầm, yêu quá, Việt Nam ơi!
Tôi thức cùng Đồng Đăng của tôi
Nghe bốn phía thời gian trở dạ
Bông Lau, Lũng Phầy, Đông Khê, Bản Rã
“Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây “
Cao Bắc Lạng những ngày năm ấy
Bác trèo non, gậy trúc cầm tay
“Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy” (3)
Bác dặn đấy. Trận này phải thắng
Đồng Đăng ơi, lời Bác mãi còn đây!
(1) Thơ Trần Phu, diễn tả nỗi kinh hoàng của Sứ Thần nhà Nguyên xưa khi bước chân vào đất Việt Nam
(2) Câu này và câu “Bềnvững một âu vàng” ở trên, dựa vào ý thơ Trần Nhân Tông: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã; Sơn hà thiên cổ điện kim âu”.
(3) Câu thơ của Hồ Chủ tịch trong chiến dịch Biên Giới
(Tác giả chú thích).
Chiều sâu thành phố
Một phần đời xông pha trận mạc
Anh còn một cánh tay
Cánh tay kia chôn trong rừng sậy
Giữa hai lần phá vây.
Ngày nào nấp bóng bằng lăng
Anh chuốt lê giữa đội hình trung đội
Giờ anh đứng dưới hàng cây cơm nguội
Trước giá vẽ
Và
Ngõ quen Hà Nội
Hà Nội không gian ba chiều
Hiện hình trên mặt phẳng.
Anh vẽ cái hút sâu của ngõ dài khuất lặng
Những ai người ghé qua?
Anh lớn lên ở đấy
Chưa biết ngoài kia đường phố nhiều ngả ba.
Vẫn đôi mắt ngày nào
Thu trong tầm điểm xạ,
Đôi mắt ấy hôm nay
Gọi những sắc màu mới lạ
Ùa vào trong tranh
Dưới năm ngón tay anh
Hà Nội hiện lên cái chiều sâu thành phố
Có chiều sâu hồn anh
Từ những tháng, năm xa
Giữa chiến trường lửa khói
Tưởng quên rồi ngõ tối
Tưởng quên rồi sắc nắng hàng phên.
Bút vẽ bỗng dừng yên:
Mảnh vôi vỡ vẹt một bên thành bể
Màu rêu phong cũ kỹ
Chiếc đinh chân tường anh đóng ngây thơ
Cái máng hứng nước mưa
Vỡ rồi mà vẫn gợi
Những mảng màu bối rối
Vẫn hiện lên, hiện lên
Không phải anh vẽ đâu
Vẽ làm sao chiều sâu thành phố!
Vẽ làm sao màu gió!
Vẽ làm sao mùi hương!
Hà Nội có bao con đường
Cao chất ngất những dãy nhà mặt phố
Cái ngõ nhỏ của anh
Những ai người biết nó?
Nhưng đó là chiều sâu hồn anh
Và với anh, đó là chiều sâu thành phố
Cánh tay mất rồi đang pha màu lên tranh.
Nguồn: Rút từ Tiếng Việt, tiếng của thi ca, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|