Phạm Hồng Oanh
Muối dưa
Tươi cái mất, héo cái còn
Tôi đem nén những nỗi buồn làm dưa
Tưởng vừa chớm đến độ chua
Lại ra vị đắng chẳng ngờ vì đâu?
Một thời mặn nhạt cho nhau
Xót xa nào nghĩ nát màu lá xanh!
Gỡ xong ngày tháng vô tình
Lòng ai chừng đã nổi thành váng chua
Hoa vàng nở giữa chiều mưa
Gió đưa cây cải ngày xưa về trời
Thương thầm từng cọng rau tươi
Rưng rưng cái mất chơi vơi cái còn
Vũ Hoàng Oanh tên thật là Vũ Thị Oanh, còn có bút danh là Vũ Hoàng Quang Thuận, sinh năm 1953 (Quý Tị), tại Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Công tác tại Khoa Khoa học Xã hội Đại Học Hồng Đức Thanh Hóa.
Tôi tựa vào Quá khứ
Kính tặng Thầy Cô và bạn bè ĐHSP Vinh
(1970-1974) cùng bạn bè tuổi ngũ tuần
Thời đã qua chẳng thể còn trở lại
Tôi tựa vào quá khứ để đi lên
Những tháng ngày kỳ diệu thần tiên
Của tuổi trẻ khát khao và ước vọng!
Quá khứ mẹ tôi còng lưng trên ruộng hạn
Nắng hạ mưa đông theo gót trâu cày.
Quá khứ cha tôi bạc áo vai gầy
Cần mẫn một đời mong con tròn vẹn!
Quá khứ của tôi là những ngày bom đạn
Những bạn trai tuổi học trò
đánh giặc ở phương Nam
Thầy bạn chúng tôi chuyển lớp dời trường
Trên vai gánh theo “tâm hồn nhân loại” (1)
Quá khứ của tôi là những ngày nắng gội
Chắt từng giọt nước trong cát bỏng gió Lào (2)
Những ngày cắt tranh dựng lán đào hào
Nghe chiến sự miền Nam tự thấy mình vô dụng!
Ôi diệu kỳ những năm tháng xa xôi!
Những người bạn đời của thế hệ chúng tôi!
Đừng trách khi tôi nhớ về ngày cũ
Có cổ thụ nào không bắt đầu từ mầm nụ
Có cổ tích nào không bắt đầu bằng
“ngày xửa ngày xưa”
Thanh Hóa, ngày 20 -11-1996
Bảy mươi năm cõi người ta
Kính viếng Nhà giáo, nhà văn Nguyễn Ngọc Liễn
Thế là hết một kiếp người
Thế là hết một cuộc đời trần gian
Hết buồn vui hết đa đoan
Dưới ba thước đất thế gian mặc người!
“Cuộc đời năm tháng” (1) cứ trôi
Chiếc cầu “Định Mệnh” (2) đứt rời lìa xa
Bảy mươi năm “cõi người ta” (3)
“Chữ tài chữ mệnh” (4) quê cha đất người
Một đời trôi nổi, nổi trôi
Vẫn chưa vẹn nỗi nổi trôi một đời
Bảy mươi tóc bạc da mồi
“Bức tranh làng” (5) vẫn theo người tha hương
“Niềm vui” vẫn cứ “thiêng liêng” (6)
Trải “Dọc đường” (7) vẫn niềm riêng riêng mình
Khi tao loạn, lúc yên bình
Giữa “khoan dung” với “thành tâm” (8) nghĩa người
Thất thập niên, thế đủ rồi!
Bình yên một góc đất trời xứ Thanh.
Thanh Hóa, Ngày Đông Chí, Tân Tị
* 22 -12 - 2001 *
(1) (2) (5) (6) (7): tên các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Ngọc Liễn;
(3), (4): chữ dùng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.
(8) Chữ dùng trong phần “Tự Bạch” của Nguyễn Ngọc Liễn.
Vũ Kiều Oanh
Điều có thật
Em cứ nghĩ đó là trong cổ tích
Chuyện hai người thời trẻ yêu nhau
Rồi xa cách bởi cuộc tình ngang trái
Để nhớ thương đến bạc mái đầu
Em vẫn nghĩ đó là huyền thoại
Chuyện nàng Tô hóa đá trông chồng
Đôi trai gái thương cuộc tình dang dở
Mà hóa thành núi Cốc sông Công
Nhưng khi đã xa anh ngàn ngày lẻ
Dửng dưng qua bao khuôn mặt trong đời
Em mới hiểu đó là điều có thật
Trong mỗi người chỉ có một người thôi.
1993
Nguyễn Ngọc Oánh sinh năm 1937 (Đinh Sửu), tại Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Sống và làm việc tại Hà Nội. Phó Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước VN. Thơ đã in: Chân trời thương nhớ. NXB Văn hóa Dân tộc, 1989; Bên này câu hát. NXB Hội Nhà văn, 1995.
Mẹ
Cành bàng thả lá heo may
Mẹ gầy, cái dáng khô gầy cành tre
Gót chai nứt nẻ đông hè
Ruộng sâu bấm mãi đã tòe ngón chân
Mẹ ngồi vá áo trước sân
Vá bao mong ước, tay sần mũi kim
Bát canh đắng lá chân chim
Lẫn vài con tép Mẹ tìm dành con
Co ro một mảnh chân mòn
Tàn đêm giấc ngủ hãy còn ngoài chăn
Mẹ gom giẻ rách, giấy manh
Mặc đôi quang thủng giữ lành tiếng rao
Áo nâu phơi vẹo bờ rào
Cái phận đã bạc còn cào phải gai
Quả cà cõng mấy củ khoai
Con thút thít, Mẹ nghẹn hai ba lần
Tối về đến lớp bình dân
I tờ nhặt được đôi vần lại rơi
Cha con trời gọi về trời
Chái nhà mưa dột, ướt lời ru thương
Tiễn con ra chốn chiến trường
Gạt thầm nước mắt mong đường con khô
Hai tay hết sẻ lại cho
Còn phần Mẹ một thân cò qua sông
1994
Hoàng Phong
Mẹ
Con không sao ngăn được mẹ
Nhớ quê về với ruộng đồng
Thanh Hóa quê ta đất hẹp
Tình làng như biển mênh mông.
Con đi khắp miền Bắc Nam
Vẫn nhớ nẻo vể Trường Lệ
Cát bỏng bàn chân ngày bé
Những trưa con đi học về.
Con từng ăn cơm trăm quê
Vẫn nhớ bữa cơm của mẹ
Moi tươi mẹ xào với khế
Biển quê đọng đến bây giờ!
Con đón mẹ ra thủ đô
Ở nhà cao tầng lộng gió
Rủ đi cuộc đời bụi khổ
Mong sao mẹ hết nhọc nhằn!
Mỗi bữa bát cơm mẹ ăn
Nước mắt cứ tràn, nghẹn lại
Thương cháu quê nhà no đói
Tháng ba ngày tám củ khoai!
Con không sao ngăn được mẹ
Nhớ quê về với ruộng đồng!
10-1984
Ngã ba Môi
Ngã Ba Môi, một buổi chiều
Tiễn con, mẹ đứng nhìn theo, tần ngần
Cánh đồng nẻ lọt bàn chân
Chợ xa ai gánh đỡ đần mẹ đây?
Ngã Ba Môi dáng mẹ gầy
Con mang theo suốt tháng ngày hành quân
Xa quê, nhớ bất canh cần
Càng thương áo mẹ ướt đầm mồ hôi
Trở về lại Ngã Ba Môi
Tưởng như mẹ vẫn bồi hồi đợi con
1970
Lưu Quang Phổ sinh năm 1965 (Ất Tị), tại huyện An Hải, Hải Phòng. Công tác tại Quận đoàn Ngô Quyền, Hải Phòng.
Áo vàng
Áo em vàng lắm chiều ơi
Ta vừa gặp đã bồi hồi trong tim
Gió còn đâu nữa mà tìm
Lá thu cũng hóa áo em hết rồi
Sông ngoài kia, ngập ngừng trôi
Phù sa vàng nhuộm bên bồi bên sâu
Theo em được đến nửa cầu
Lời yêu ngại nói sợ nhàu áo em
6 -1991
Chiều biển động
Em về qua biển một lần
Dấu chân hóa thành cát trắng
Sóng xô bờ hoàng hôn ráng tím
Chẳng níu được người thôi giữ lại bước chân
Em xa rồi biển chiều nay phân vân
Nỗi nhớ em tan ngàn năm biển mặn
Bao dấu chân người trước em cát lấm
Biển khổ đau đến tận bây giờ
Gió cứ cồn cào đi qua giấc mơ
Nơi bóng em lung linh ngày tháng
Nơi áo em rơi biển chiều nao bừng sáng
Vắng em.
Sóng vỡ tan thành triệu miếng trăng vàng
Rồi cuối cùng thi thu cũng sang
Rồi cũng lắng sâu phút bàng hoàng đổ vỡ
Biển lặng đi. lặng đi là để
Đến mùa sau bão tố lại xô bờ
Ngô Văn Phú sinh năm 1937 (Đinh Sửu), tại huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Yên. Sống và làm việc tại Hà Nội, nguyên là Giám đốc kiêm Tổng Biên tập NXB Hội Nhà văn.
Thơ đã in: Hoa trắng tình yêu. NXB Hội Nhà Văn, 1997; Tuyển tập Thơ Ngô văn Phú; cùng nhiều truyện ngắn và Tiểu thuyết.
Buồn
Cơn buồn kéo đến chiều nay,
Ngọt bùi thường ít, đắng cay vốn nhiều.
Khổ nghèo cả lúc đang yêu,
Tiệc tùng xong lại liêu xiêu giữa đường .
Vào ra một chiếu, một giường,
Ngày đông bè bạn, tối thường lẻ loi.
Một mình thôi
Một mình tôi.
Có hôm muốn thét vỡ trời mà điên.
1990
Công viên mùa thu
Công viên thu còn lại chút hoa vàng
Hoa loài khác nở rồi và chưa nở.
Những luống cỏ sau mưa, xanh hơn mọi bữa
Ghế đá chiều chờ đợi lứa đôi.
Hồ êm ru, lá đỏ rụng tơi bời,
Tượng đá trầm tư trước trời xanh rộng rãi.
Anh đi xa một mình trong gió nổi
Chút hoa vàng và gió tiễn chân anh.
Thành phố phía sau, em ở lại một mình,
Vẫn hằng đến công viên như mọi bữa,
Mắt buồn rượi vịn tay vào ghế đá,
Hoa rực vàng trong hương mùa thu.
Anh mang theo từng phút từng giờ,
Công viên thu chút hoa vàng rực rỡ,
Bởi anh biết chiều nay, lúc trời lộng gió
Nhìn hoa vàng, em lại nhớ thương anh.
1989
Khúc ru
Những khoảng sáng bên trời
Những con tầu xa bến
Chim ríu ran nắng sớm mới bừng
Ru em trong mơ mộng trập trùng
Điều đã tới và điều không thể tới.
Gió nhớ ai mà bồn chồn gió nổi
Mây lang thang tìm ai đó hỡi mây?
Núi suy nghĩ điều gì mà đứng sững!
Sông tìm ai mà cuộn chảy chiều nay?
Anh cứ nhặt lời yêu tản mác
Chắp lại khúc ru chỗ mất, chỗ còn
Thầm thì niềm riêng xao xuyến cũ
Chỗ mất, chỗ còn nguyên vẹn nhớ thương.
Báo Hà Nội Mới, số Chủ Nhật, 7/12/2008
Nguồn: Rút từ Tiếng Việt qua thơ tình mười thế kỷ, Khảo luận về thơ Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Tuấn, NXB Văn hóa Thông tin, quý I năm 2010.
www.trieuxuan.info
|