Khúc thứ Tám. CUỘC CHIẾN KHÔNG ĐỔ MÁU
I. NHỮNG TRẬN ĐÁNH TRONG IM LẶNG
Ngót bốn mươi năm trước
khu vực này chỉ chứa được mấy ngàn quân lính của cả hai bên
nay đông đúc gấp trăm lần
những bộ xương khúc xương than xương
chẳng cần nhiều không gian như khi còn sống
không còn sống nhưng không chết nữa
như nắng mưa - linh hồn bất tử
không đòi phong thánh thần
không cần dựng tượng đài lăng tẩm
mọi danh tụng danh xưng chỉ người sống mới cần
những vong linh hồn ma ở Cổ thành Quảng Trị
đùa nghịch suốt ngày bay nhảy thâu đêm
đã gần bốn mươi năm
bốn mươi năm…
bốn trăm năm
bốn ngàn năm nữa…
ngày ấy chúng tôi vẫn còn đang lớn
quen ăn cơm mẹ thổi mặc áo chị khâu
mười bảy tuổi vào lính mười tám tuổi xa nhà
nhiều người chưa bắn viên đạn nào về phía đối phương
đã chết
chưa biết lo toan chưa quen xốc vác
vong linh lính trẻ - vong linh “thất nghiệp” !
uống sương ăn nắng hít thở hương hoa
đậu trên ngọn cây nhập vào ong bướm
nếu được cúng giỗ chúng tôi no đủ quanh năm
không có ai hương khói
đành phải ăn cháo lá đa dật bánh cô hồn
ở cõi lạnh tối này
những người lính đối sử với nhau tử tế
không bận tâm khi còn sống mỗi người hướng mũi súng về đâu
người chết nghĩ khác người còn sống !
hương khói của chung vàng mã của chung
quân phục mặc chung súng đạn chơi chung
lúc vác B.40 khi ôm M.79
thằng thích AR.15 đứa mê AK.47
dép cao su đúc giầy đinh da lộn
mũ cối mũ nồi xanh…
Thép đã tôi thế đấy…cháy sém
(Tiểu thuyết nổi tiếng của Ucraina)
rách nát Thánh kinh
lính Đại học Xây dựng chia động từ tiếng Nga
trên giấy phong lương khô Bẩy lẻ hai
lính Sài Gòn rớt tú tài
viết từ vựng Anh ngữ khắp vỏ bao thuốc lá Quân Tiếp Vụ
đã thành hồn thành vong vô ảnh vô hình
Kinh Nhật tụng, quyết tâm thư cũng vô hình vô ảnh
với chúng tôi
Thành Quảng Trị mãi mãi là chiếc cối khổng lồ xay thịt
Cổ Thành muôn đời sau vẫn chiến địa chiến trường
“chỉ có mấy chục ngàn người tử trận ở sông Thạch Hãn ở Cổ Thành
dăm ba trăm người bị đất đá lấp vùi đâu đó…”
hay gấp mấy chục mấy trăm lần ?
bao giọng nói của “lính ba miền” còn âm vang
trong mạch đất gạch vụn thân cây
chẳng lẽ chỉ những người đã chết mới thấy mới hay
không thể biết hay không muốn biết ?
người sống không tin nhau
dễ gì tin người đã chết
II
BA NGƯỜI ĐÀN BÀ
1
Cô Mận ra đời ở vùng chè Bồng Lạng
từ nhỏ đã nghe tiếng mìn phá đá rung chuyển phố núi Kiện Khê
cắm trại thiếu nhi quanh chùa Bà Đanh
thoả thích nô đùa trong rừng vải chín
theo mẹ ngược Chi Nê bán chè khô chè tươi
đến Ba Sao mua măng ngâm sắn lát
dập dềnh cầu phao ngã ba sông Châu sông Đáy
tháng mấy lần qua sông sang Phủ Lý họp chợ Chấn chợ Bầu
cậu học trò thị xã hồi ấy chớm mười bốn tuổi
lần đầu tiên trong đời được một cô gái xưng em
nửa thế kỉ qua đi
mỗi khi nhớ lại vẫn ngất ngây choáng váng
Mận đi mở đường Mận đến Trường Sơn
để lại rừng xanh cả thời xuân sắc
bệnh tật vàng da đục mắt
da đầu trốc lở trùm khăn bốn mùa
đầu không sợi tóc cứ vậy vào chùa
chồng con chẳng bận
không xuất gia nào khác đi tu !
vong linh Sãi Mận dạt vào Quảng Trị
không được làm mẹ trên đời
Trời cho làm mẹ bao người cõi Âm
không làm mẹ hài nhi
Mận làm Mẹ linh hồn tử sĩ
lính chết trẻ ngàn năm vẫn trẻ
dưới đất lạnh càng cần có mẹ
2. Má Chín Mỹ Tho
mười ba tuổi theo gánh cải lương
trôi dạt khắp châu thổ sông Hậu sông Tiền
thằng Hai con má da trắng mắt đen
tính nết giống thầy đờn mặt đẹp như kép nhất
trốn lính
con má ngày đêm chui nhủi dưới ghe
ngủ trong khoang gạo lức đậu mè
kéo đờn cò sau bồn nước mắm
trốn thoát dăm năm, Hai vẫn phải vô quân dịch
hạ trại ở cổng Tây Thành Cổ ngày năm
đêm mồng sáu quan lính đang ngủ vùi
tất cả “chết vùi” vì pháo kích
- “đại đội giặc bị têu diệt hoàn toàn, hơn trăm tên tan xác !..”
không ham về miền Cực Lạc
càng không muốn đầu thai trở lại làm người
má Chín xin Đức Quan Âm cho về Thành Cổ
xương thịt linh hồn con má chắc còn quẩn quanh đâu đó…
3. Thằng Bil
hần đồng toán học của bang Atlanta
không bóng gậy bóng chầy không Uytski bạn gái
vừa nhai hămbugơ vừa giải toán
giấy nháp quăng trắng sàn nhà
tìm nghiệm số thâu đêm
Bil bị coi là chú lính kém nhất sư đoàn
chục lần bắn bia chục lần đuổi quạ
chiếc trực thăng đặc chủng chất đầy máy móc tối tân
vừa rời phòng thí nghiệm
Bil say mê ngắm Thành Cổ qua mắt kính “đít chai”
không hiểu sức hủy diệt gì mạnh đến mức
làm máy bay cháy bùng nổ như sấm sét
hàng triệu mảnh kim loại lẫn với thịt xương
rải khắp mặt sông Thạch Hãn
bà Jên khóc con lạc giọng rạc người
chết trong đêm Giáng sinh năm Bảy hai kinh hoàng ấy
linh hồn bà Jên được Chúa cho “định cư” ở Cổ thành Quảng Trị
ba người đàn bà nương tựa chở che nhau
vật vã ở ngọn cây khóc cười trong sương khói
quanh năm nhìn bọn trẻ “đánh nhau”
không thắt ruột lo âu khi đàn con lâm trận
khi còn sống chĩa súng vào ngực nhau
không giết người sẽ bị người tiêu diệt
chết vì bom đạn
những người lính lại tiếp tục chiến tranh
trên vạt mây nóc nhà
dưới đáy sông lòng đất
cuộc chiến vui vẻ trong sáng tốt lành
không đổ máu không rơi nước mắt
lương tâm sáng trong danh dự vẹn nguyên…
những người lính chơi trò chiến tranh
không thể chết không còn gì để mất
không có ai là “ta” không bên nào là “địch”
mấy trăm ngàn hồn lính
chỉ có vài đứa mắt xanh mũi lõ quê Látvêgát, Bốtstơn
lọt thỏm giữa những người lính giọng Cao Lãnh, Quảng Nam, Bắc Cạn…
lúc còn sống lắm người hiền kẻ ác
bây giờ họ ngây thơ như bê như nghé
coi nhau là bè bạn anh em.
Khúc thứ Chín
NGŨ CUNG
I
BẢN ĐỒ QUÂN SỰ
Đo đạc từ trên tàu vũ trụ quan sát bằng máy bay
người ta lập bản đồ quân sự trên mây
hành tinh lọt thỏm trong tờ giấy
cả quốc gia trải gọn trên bàn
một nửa đất nước nằm trong “bảng tính sẵn” của sĩ quan pháo binh
trong xà cột trợ lý tham mưu, chỉ huy tác chiến
nét bút ở bản đồ lớn hơn những chiến hào trên thực địa
dấu thập ác đánh dấu - cắm sẵn - trên những bãi ém quân
có hàng chục ngàn trăm ngàn binh sĩ
dòng suối ấy từ lâu cháy khô hoá đá
trên bản đồ quân sự vẫn nét mực tươi xanh
quả đồi kia bom san thành bình địa
những con số chỉ diện tích độ cao vẫn cứ yên lành
bản đồ quân sự vẽ chi li đến từng giếng nước
những đạo quân nhọn hoắt mũi tên
bom rải thảm theo tọa độ trên bản đồ quân sự
quân lính tiến đánh bất ngờ theo bản đồ quânsự
tướng tá dí ngón tay dáng nắm đấm
chọc đầu gậy
xoáy mũi dao găm
rách bản đồ quân sự
những mệnh lệnh quyết định sự sống chết của cả ngàn người
trên giấy lệch một ly
ngoài chiến trường phải lấp bằng sinh mạng lính
trước khi quân sĩ hai bên đổ máu
tướng lĩnh đổ mực trên bản đồ
nhỏ mồ hôi trên bản đồ
giết nhau trên giấy…
II
NGHĨA ĐỊA KHÔNG MỒ
Mua mớ cá lẹp
bán mủng khoai lang
mẹ ta chị ta bần thần đắn đo
mặc cả
trả giá
thêm bớt từng hào từng xu
không chịu mua đắt
chẳng nỡ bán cao…
Người nước ngoài gọi thị xã Quảng Trị là bãi tha ma không có mộ bia
là nghĩa địa ngầm
nhà sư thắp hương
lẩm nhẩm khấn những người nằm dưới nấm mồ chung khổng lồ vô định
có bao điều còn chìm nghỉrm trong thẳm sâu bí mật
sự thật
dù không được thừa nhận vẫn cứ là sự thật
đất Quảng Tri nặng nhất hành tinh mặn nhất hành tinh màu mỡ nhất hành tinh
óng mượt cỏ xanh
xanh đến đáng ngờ
cây gì mọc nơi đây cũng lớn nhanh vùn vụt
mẫu đơn đỏ rực
đỏ quặn gan thắt ruột
tôm nuôi – sạch ao
mía trồng - dịu đất
hiếm người mua, chẳng mấy ai ăn
những sinh viên đại học mười tám hai mươi
tay chân đang dài thịt xươg còn lớn
khi chết
thân không vẩy rượu xác không lèn lá thuốc chè khô
không sô trắng trùm đầu không vải dày khâm liệm
huyệt mộ rải khắp rừng
chôn “chay” không hòm ván
bốn chục năm mưa dầm nắng hạn còn gì nữa đâu !
cuốc bổ xẻng xúc mai đào
tìm được cốt người này xương người kia nát vụn
chỉ có những mái tóc non tơ đen nhánh
không mục nát không bao giờ bạc
vướng rễ cây quấn lưỡi xẻng đau nhức mắt nhìn
linh hồn quẩn quanh không thể bỏ đi
xương cốt chưa gặp Người Tìm hồn phách còn thất lạc
không đầu thai không thể luân hồi
nhà cửa sẽ mọc lên thành phố thành làng
tiệm rượu vũ trường sân gôn phòng cưới…
chẳng ai biết có di cốt di hài lấp vùi phía dưới
liệt sĩ tử sĩ
trai phố măng tơ trai làng mới lớn
chưa kịp yêu chưa thất tình phiền muộn
linh hồn thiên sứ thể xã thiên thần
không thể biết
làm sao tránh được
nhà tắm xây phía trên
giường cưới đặt ở trên !...
III
RĂU RĂM
Đàn ông đàn bà đủ vợ đủ chồng đang thì vừa độ
rau răm thơm bùi đến mấy cũng đành kiêng cữ
búp ổi lá gừng trộn dồi lợn tiết canh
không nêm rau răm
canh hến nhạt mùi cháo lươn đoảng vị
thím tôi góa bụa dì tôi vắng chồng
lại coi rau răm là bạn bầu tri kỉ
(Rau răm là thứ gia vị có thể làm giảm khả năng tình dục)
xiêu vẹo chùa làng
cối đá lỗ nén ngập vại cà
chum tương úp rổ tựa gốc cau hong nắng
vạt rau răm xanh um thẻo đất khuất nẻo sau chùa…
ngày chồng còn sống từ mặt trận trở về
nhiều người vợ lăn trên luống rau
khóc nức nở lại cười khành khạch
đào bật gốc loài rau tình nghĩa
- hãy lặn xuống vực hãy bay lên trời
đừng ở lại chịu cay đắng nữa !
bao người đàn bà có chồng chết trận
lại không thể đoạn tuyệt với thứ rau này
ăn ghém rau răm đến lúc mãn kinh
lòng lạnh giá không ham muốn nữa
sau chiến tranh cơm dần no áo dần lành
những người vợ góa đang thì càng khát thèm ân ái
thân thể quanh năm chay tịnh
săm săm vào chùa xụp lạy Quan Âm
nửa đêm xõa tóc ra miếu Thổ Thần
không như người có chồng nặng hơi hướng đàn ông
nấu nước lá thơm tắm gội kĩ càng
mới được vào miếu cúng thần lên chùa lễ Phật
sau chiến tranh đàn ông càng khan càng đắt
đàn ông được quyền chọn lựa
đàn ông - phần thưởng của thiếu nữ giải thưởng của đàn bà
nhiều người phụ nữ chùng chình đi sớm về khuya
tha thẩn đường thưa bãi vắng
ra đồng tát nước nhổ cỏ giữa đêm
khép cửa hờ khi ngủ…
những người đàn bà không như Thị Nở
vẫn ao ước gặp Chí Phèo
sau chiến tranh gần một nửa đàn bà goá chồng
nhiều hơn thế không được làm cô dâu
có bao nhiêu người bạc tóc vẫn là Trinh Nữ ?
đắng lưỡi xót lòng
che mưa dập lửa
mắt lá răm đa tình
mấy thời đẫm lệ
một đời chưa khô…
IV. KHÚC NGÂM CỦA NGƯỜI MẸ CÓ CON TỬ TRẬN
Con thơ dại đá dầy chân mỏng
sài đẹn đêm sốt nóng ban ngày
chàm mặt mũi ghẻ chân tay
thương con mưa lạnh nắng say gầy gò
sáu bảy tuổi chăn bò lùa vịt
vài năm sau xúc tép giăng câu
mười lăm tuổi đã theo trâu
dầm chân ruộng cạn đồng sâu cày bừa…
đất cằn cỗi mới mưa đã ngập
nắng nẻ đồng lúa thấp cỏ cao
được mùa ngan ngỗng phổng phao
mất mùa đói kém vêu vao cả làng
chân con dẫm mảnh gang lọ vỡ
tay xóc vào thớ gỗ dằm tre
đứt tay róc mía gọt me
lạc kim vụng kéo đỏ nhoè máu loang
bà quýnh quáng thắp nhang khấn vái
mẹ dứt bông cắn vải xé khăn
xuýt xoa chị buộc em chằng
chân tay nào phải tre măng ngoài đường
suốt mấy bữa ông thương bà xót
đau tay con mà buốt lòng cha
gai đâm dao cứa thịt da
máu là máu - máu không là nước ao
nào chỉ có gai cào dao gọt
đâu phải là mấy giọt máu rơi
con tôi, con của bao người
bom xé ngực
đạn tiện rời chân tay
máu đọng vũng đầm cây đẫm cỏ
máu tuôn trào sũng đỏ bông băng
chưa thành tre mới qua măng
lưỡi hái Thần Chết xén phăng một đời…
vết thương ấy nhiều người qua khỏi
- ba bốn mươi, cứng cỏi đàn ông,
- đã từng dày dạn tây đông,
- đã từng vượt núi băng sông, trải đời…
con ta, con bao người mẹ khác
mới ra ràng ngác ngác ngây ngây
đớn đau xám ngoét mặt mày
làm sao chịu nỗi đau này
con đi…
đất màu mỡ xanh rì cây trái
lim sến hay cỏ dại - khác chi
lá non gió dữ cuốn đi
lá già run rẩy
còn gì rừng xanh !…
V. TẠ ƠN
Đói quay quắt
cả đơn vị không ai ngủ được
nửa đêm anh bị trung đội trưởng bợp tai
bắt ra nương nhổ trộm khoai
loạt bom tấn trùm lên trận địa
hai mươi tư người lính không toàn thi thể
đốt cành khô thay nhang
anh luộc khoai mì làm đồ cúng lễ
giá mà mọi người trong đơn vị
cùng anh ra nương !
người trước ngã người sau ngã
đồng đội bên phải gục xuống bên trái gục xuống
cả tiểu đội trúng đạn thân vắt thành cầu
chỉ anh tôi may mắn vượt qua lưới lửa
xe tăng địch trúng đạn lao xuống khe sâu
thằng lính Mỹ ngờ nghệch trẻ măng
đường ngắm lệch nửa li
viên đạn khoan thủng vành tai anh tôi
trẻ măng ngờ nghệch…
ba chục năm sau chiến tranh
sách anh viết cao ngang nòng súng
chục ngàn trang tiểu thuyết
thơ ngót vạn câu…
tạ ơn đồng đội che bom chắn đạn !
tạ ơn người trung đội trưởng nóng tính
nửa đêm bắt anh ra nương nhổ trộm khoai mì !
ơi cái thằng lính Mỹ “gà công nghiệp”
bắn anh tao thủng vành tai
cầu mong suốt đời mày đừng giết ai
cũng đừng bị giết !
HẾT
Nhà Sáng tác Đại Lải, 11/2007. Nhà Sáng tác Vũng Tàu, 11/2008. Sài Gòn, 12/2008.
NTS
Nguồn: Trường ca Chiến tranh Chín khúc tưởng niệm của Nguyễn Thái Sơn. Nhà xuất bản Văn học, 2009.
www.trieuxuan.info |