Chương II
1
Sau nhiều hôm gió bấc, mưa dầm
Trời bất ngờ tạnh ráo
Giữa bạt ngàn khu rừng Trần Hưng Đạo
Những cây sến cây lim đã chọc thủng sương lam,
Những cây giẻ, cây sồi đã giũ sạch lá vàng
Đón lũ chim sếu, chim bồ nông từ miệt Bằng Giang về tụ hội.
Những con khe, ngọn suối
Long lanh như ánh mắt cười,
Vầng mặt trời như chú bé tinh nghịch đua bơi
Bắn tung tóe những tia nước như tia sáng lửa hàn trên ghềnh cao thác đổ.
Và những bông lau phất phơ trước gió
Đỏ rực lên như chưa đỏ thế bao giờ,
Đỏ rực lên như sắc đỏ ngọn cờ
Trước đội quân ba mươi tư chiến sỹ.
Ba mươi tư cô gái chàng trai tuổi đời rất trẻ
Thuộc các dân tộc Kinh, Mèo, Mán,Thổ, Nùng…
Người sinh ra nơi sương mờ ải Bắc,
Nơi gió Lào cát trắng miềnTrung.
Người chài lưới đi về khơi lộng,
Người dạn dày chướng khí lam sơn,
Người nghè rèn, nghề mộc
Người chăm bón ruộng đồng…
Áo nâu lẫn áo chàm, súng trường chen súng kíp.
Vị chỉ huy- một người tầm thước
Tuổi ngoài ba mươi dáng vẻ thư sinh
Miệng cười hiền khô, giọng miền Trung ám áp chân tình
Vầng trán rộng sớm hằn nếp nhăn suy nghĩ.
Cánh lính tráng gọi tên Anh kèm theo từ “đồng chí”
“Đồng chí Võ Nguyên Giáp”, “đồng chí Văn”.
Và giờ đây, đứng trước hàng quân:
Chingr đốn trang phục… Nghiêm! – Anh hô dõng dạc
Ba mươi tư chiens sĩ cất cao giọng hát :
“ Đoàn quân Việt Nam đi”…
Ba mươi tư cánh tay giơ lên chào lá quốc kỳ
Ba mươi tư cặp mắt hướng thẳng về đồng chí Giáp.
“Sắc lệnh thành lạp đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân…”
Giọng Anh vang vang. Đang giữa mùa đông mà cả khu rừng tràn ngập nắng xuân.
Hoa bỗng nở trên mỗi khuôn mặt người, trên từng gốc cây ngọn cỏ,
Hoa bỗng nở trên mỗi khuôn mặt người, trên từng gốc cây ngọn cỏ,
Và cả sông núi hồn thiêng lan truyền “mười lời thề danh dự”.
Một xin thề: Vì Tổ quốc quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Hai xin thề: Không vì danh vọng tiền tài đi ngược lại lợi ích nhân dân!
Ba xin thề: Càng nhiều gian khó hiểm nguy, càng bền gan vững chí!
Xin thề! Xin thề! Xin thề!
Tiếng hô dội vào vách đá làm bão làm giông,
Vòng quanh thung sâu, đổ xuống đồng bằng,
Trèo lên đèo mây, xuyên qua rừng thẳm,
Trời như thêm cao, đất như thêm rộng.
Và những bản gần,
Và những mường xa,
Và những mái đình, bến nước, gốc đa
Mọi chân trời góc bể
Đã nghe rõ trong tiếng “xin thề” ba mươi tư chiến sĩ
Có nghe hô “sát Thát” thuở hội nghị Diên Hồng,
Có lời thề Lũng Nhai thời khởi nghĩa Lam Sơn,
Có lời thề trung trinh thời Nghệ An Xô Viết.
Và Xin thề! Xin thề! Xin… xin… thề… thề! Cả giang sơn từ Bắc chí Nam đồng thanh đáp lại.
Hôm nay: hăm hai, tháng mười hai, năm bốn tư – một ngày trọng đại
Ngày ra đời đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
2
Nếu Thánh Gióng mới lên ba đã vươn vai Phù Đổng Thiên Vương đi đánh giặc,
Thì đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân mới hai ngày tuổi đã lập chiến công Nà Ngần, Phai Khắt,
Vài tuần tuổi đã đứng vững giữa lòng dân,
Vài tháng tuổi, từ ba tư chiến sĩ đã được nhân lên thành nghìn, thành muôn,
Thành quân chủ lực, quân địa phương, dân quân tự vệ.
Một ngày bằng thế kỷ
Vùng tự do đã trải rộng khắp sáu tỉnh Cao, Bắc, Lạng, Thái, Hà, Tuyên,
Đánh cho thực dân Pháp thất điên,
Cho phát xít Nhật thảm bại.
Giữa tháng tám năm bốn lăm, Võ Nguyên Giáp dẫn quân tiến về Hà Nội
Phố phường tưng bừng mở hội, trào dâng nhịp sóng hoan hô.
Ta tìm thấy bóng dáng người thân trong sắc đỏ ngọn cờ,
Ta ứa lệ trước nụ cười héo hon của mẹ,
Trước ánh mắt hân hoan con trẻ.
Ta nhập hồn ta vào thành cổ rêu phong
Vào Tháp Bút, Đài Nghiên, bia đá, tượng đồng.
Ta nhập bước ta vào nhịp bước quân hành suốt bốn nghìn năm lịch sử.
Ta hiện tại
Ta tương lai
Ta quá khứ
Ta dòng nước trong xanh chảy giữa đôi bờ.
Ta trộn mơ vào thực. Ta trộn thực vào mơ.
Ta tỉnh mà say. Ta say mà tỉnh.
Ta về giữa Ba Đình nắng ấm
Nghe Bác Hồ đọc Tuyên ngôn
(Hay nghe Trần Hưng Đạo đọc “Tướng Sỹ Văn”?
Hay nghe Nguyễn Trãi đọc “Bình Ngô Đại Cáo”?)
Việt Nam muôn năm! Muôn muôn năm! Có phải chăng ơi những người từng đói cơm rách áo
Trong tiếng hô hôm nay, dường có tiếng quân reo thuở đánh trận Bạch Đằng
Dường có tiếng ngựa hý, gươm khua thuở đánh trận Chi Lăng
Tiếng trống thúc, loa truyền thuở Quang Trung nhập đô thành áo bào nhuộm đen thuốc súng.
Ta khóc. Ta cười. Ta cao lớn giữa triệu người cao lớn.
Ta tự hào công dân Tổ quốc Việt Nam
Từ hôm nay: Mùng hai tháng chín năm bốn lăm
Hai chữ “Việt Nam” đã in đậm trên bản đồ thế giới.
“Ta phải làm gì đây?” – Mỗi người đều tự hỏi
Ta phải làm gì đây trên mảnh đất này?
Cho ngày nay? Cho ngày mai?...
- Ai có công góp công. Ai có của góp của.
Của không nại ít nhiều, công không nề to nhỏ.
Nhiều gia đình ngày giáp hạt không đủ bát cơm ăn
Vẫn âm thầm góp đầy hũ gạo nuôi quân,
Và thu nhặt từng mẩu đồng mẩu sắt
Cho bộ đội có nhiều thanh gươm ngọn mác.
Tháng chín năm nay, cha đã lục tuần
Vẫn là thành viên trong trung đội dân quân
Vẫn luyện tập lăn, bò, đâm lê, bắn súng,
Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh
Huống nữa đấng mày râu đạp đất đội trời.
Dẫu không bằng bọn con gái, con trai
Ngày sản xuất tăng gia, tối về mẹ vẫn chuyên cần đến lớp bình dân học vụ.
Tóc đã ngả màu sương, mẹ vẫn ê a học bài cùng đàn cháu nhỏ:
I tờ giống móc cả hai…
Giết giặc dốt, giết giặc đói, giết giặc ngoại xâm, Bác Hồ đã dạy rồi
Làm công dân một nước độc lập, tự do, ai cũng đọc thông viết thạo.
Và một ngày đầu năm bốn sáu
Mẹ đã tự tay viết được tên Bác Hồ, Anh Giáp vào lá phiếu bầu đại biểu quốc hội khóa đầu tiên.
Niềm vui này cao cả thiêng liêng
Chẳng của riêng ai, của toàn dân tộc
Từ em bé mới cắp sách tới trường, đến cụ già phơ phơ đầu bạc,
Từ cô gái Mèo trên núi cao Lũng Cú, đến chàng trai Khơ-me chót mũi Cà Mau.
Ta chia sẻ cùng bạn bè bốn biển năm châu
Ta lại cất tiếng hô vang: Muôn muôn năm tự do độc lập!
3
Đến chết nết vẫn không chừa, giặc Pháp chưa từ bỏ dã tâm xâm lược
Vẫn tận cùng thèm khát những vựa lúa châu thổ Hồng Hà, Cửu Long,
Tận cùng thèm khát những mỏ than, sắt, vàng, bạc, kẽm, chì, đồng…
Ở Cẩm Phả, Thái Nguyên, Hòa Bình, Lao Cai, Bắc Cạn…
Những đồn điền cao su Phú Riềng, Dầu Tiếng,
Những rừng chè, rừng hồ tiêu Quảng Trị, Tây Nguyên…
Ôi! Việt Nam! Giang sơn của biển bạc rừng vàng!
Không từ bỏ được đâu, dẫu đã từng ôm đầu máu chạy tháo thân, giặc Pháp chẳng cam tâm từ bỏ.
Chúng lại đưa “tàu thiếc, tàu đồng” vào biển Đông giương oai diễu võ,
Lợi dụng quân đội đồng minh giải giáp lính Nhật đầu hàng,
Giặc Pháp kéo quân vào lãnh thổ Việt Nam mặc sức xây bốt, dựng đồn,
Nã đạn moóc-chi-ê vào mọi nơi, mọi chỗ.
Ngay giữa Hà Thành, chúng ngang nhiên đập phá các hiệu buôn, xé cờ đỏ sao vàng ném ra hè phố,
Cho xe tăng, thiết giáp án ngữ các nẻo đường,
Ngang nhiên cướp của, hãm hiếp, gây nhiều thảm họa, tai ương.
Dưới mắt chúng, Việt Nam nào khác một quốc gia vô chủ
Và dưới mắt người Việt Nam, bọn Pháp lại hiện nguyên hình loài dã thú.
Chẳng thể ngồi yên. Tất cả đứng lên!
Quyết chí tòng quân, thầy giáo, học trò tạm xếp bút nghiên,
Cắt bỏ mái tóc dài, chị cùng em đội mũ ca-lô, gia nhập dân quân, tự vệ,
Vác mã tấu, đại đao, các vị bô lão sống lại thời trai trẻ,
Các chú bé tuổi mười bốn, mười lăm tự vũ trang bằng gậy tầm vông,
Các dì, các cô dám nằm lăn ra đường thi gan với bánh xích xe tăng,
Chặt bỏ hết cây cối trong vườn cho bộ đội làm trận địa.
Ấm áp biết bao tiếng gọi “Đồng bào”, “Đồng chí”
Hai lăm triệu cháu con mẹ Âu Cơ biết sống vì nhau,
Vì danh dự cha ông thuở trước, vì vinh quang con cháu mai sau,
Vì niềm tin vô hạn vô hồi đối với Bác Hồ, Anh Giáp,
Hai con người tiêu biểu cho ý chí kiên cường, trí tuệ uyên thâm toàn dân tộc,
Trong thời khắc trọng đại này, là hạt nhân đoàn kết tình đồng chí, nghĩa đồng bào
Đủ tầm vóc đứng mũi chịu sào
Đưa con thuyền dân tộc qua mọi phong ba bão tố.
Họ quên ăn, cho mọi người được ăn no; quên ngủ, cho mọi người ngon giấc ngủ.
Chỉ cho mọi người nhìn rõ mặt, gọi đúng tên ai là bạn, ai là thù.
Trù liệu nước bước đường đi cho dân tộc như tính nước cờ
Nào tiến nào lui, nào hòa nào chiến,
Nào tự lực cánh sinh, nào tiệp nhận tình cảm sẻ chia của năm châu bốn biển,
Nào phát huy truyền thống dân tộc anh hùng, nào học tập kiến thức quân sự bốn biển năm châu.
Càng tích lũy được nhiều tinh hoa trí tuệ từ gió Mỹ, mưa Âu,
Ta càng hiểu thêm tài thao lược ông cha đã đánh thắng bao kẻ thù giữ yên bờ cõi.
Ưu điểm trội nhất cuộc kháng chiến đời Trần là mưu cao mẹo giỏi,
Ưu điểm trội nhất cuộc kháng chiến đời Hậu Lê là vững chí, bền lòng,
Ưu điểm trội nhất thời Quang Trung là thần tốc tiến công,
Thời đại Hồ Chí Minh là một cuộc ra quân tổng lực
Của những con người “Thà chịu chết không thà chịu nhục”.
Kìa, Bác Hồ gọi rồi, cả nước sẵn sàng:
Hỡi đồng bào…
Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm,
Không có súng gươm thì cuốc thuổng, mác dao, gậy gộc
Thà hi sinh quyết không chịu trở lại làm dân mất nước…
Và cỗ máy chiến tranh toàn quốc đã vận hành
Mọi trận địa đều xây đắp giữa lòng dân,
Đâu cũng là hậu phương, đâu cũng là tiền tuyến
Mọi người dân đều là người lính,
Chị em phụ nữ nào cũng giỏi việc nước đảm việc nhà,
Bà mẹ nào cũng là mẹ chiến sỹ cho những đứa con xa.
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
Một nơi súng nổ thì trăm nơi chia lửa.
Tàu bay giặc ném bom triệt hạ xóm làng ra ở Quỳnh Lưu, Nông Cống, thì ta tập kích chúng ở Văn Xá, Truồi Nong.
Chúng bắn giết con em ta ở Hòn Gai, Cẩm Phả, ta bắt chúng đền tội ở Cự Nẫm, Cảnh Dương
Ở Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết
Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, ở khắp ba miền Trung, Nam, Bắc.
Kẻ thù ỷ vào vũ khí tối tân, ta dựa vào dạ sắt gan vàng
Dựa vào “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang”
Dựa vào trí tuệ hai nhà chiến lược thiên tài: Bác Hồ, Anh Giáp.
(còn tiếp)
Nguồn: Trường ca: Người anh cả của toàn quân. Tác giả: Hoàng Bình Trọng. NXB Kim Đồng, 2011. Bản điện tử vanvn.net |