“Từ thời niên thiếu, tôi đã có ham muốn mãnh liệt hơn hết thảy:
sắp xếp được tất cả những dữ kiện vào các định luật phố quát nào đó.”
(C. Darwin)
“Mang cái nhớ đi qua tháng ngày/ Viết trường ca để lại mai sau”
(Đình Thu)
I. Mở đầu
“Hiện tượng trường ca Việt Nam”. Khái niệm và nội hàm, từ năm 1980 đến nay đã được quan tâm trong nhiều nghiên cứu, phê bình, tọa đàm, thậm chí trong cả hội nghị, về thơ Việt Nam hiện đại nói chung và về trường ca nói riêng.[1]
Nhưng đến Hội thảo này*), tất cả vẫn dường như nhiều tiếng-vỗ-của-một-bàn-tay[2]?
Cột mốc “sau 1975” đã, đang và sẽ là cột đỉnh trên đường biên chính trị, xã hội, văn hóa, đời sống Việt Nam chừng nào đất nước mang hình chữ S của chúng ta còn bị lâm trận hoặc bị đe dọa, ám ảnh bởi chiến chinh khiến giang sơn phân đôi.
Theo thiển ý, xét trong hơn một thế kỷ vừa qua của thời kỳ văn học Hiện đại bắt đầu từ khoảng những năm đầu tiên của thế kỷ XX, thì mốc lịch sử 1975 - Tổ quốc thống nhất có ý nghĩa toàn diện (nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, hệ giá trị mĩ học, phục vụ thời cuộc…) và nhất là phạm vi ảnh hưởng (tính quốc tế hóa) hơn cả, so với bốn mốc còn lại[3]: 1932 - Thơ mới; 1945 - Cách mạng mùa Thu; 1954 - Đất nước chia đôi bởi Hiệp định Genève.
Và, cũng chính từ sau năm 1975 dòng trường ca Việt Nam phát triển đến độ sung mãn nhất của nó, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật, từ tư duy thể loại đến ảnh hưởng văn học.
Xét về cả thời gian (lịch đại) lẫn thời cuộc (thời đại), với giai đoạn lớn 40 năm từ sau 1975 đến thời điểm hiện tại, giới nghiên cứu và dư luận đã tương đối nhất quán khi chia nó thành ba giai đoạn nhỏ: 10 năm hậu chiến (1975 - 1986); 10 năm Đổi mới (1986 - giữa những năm 1990); 20 năm hậu Đổi mới (giữa các năm 1990 - hiện nay).
Và, dòng trường ca Việt Nam thăng hoa trong giai đoạn đầu, phân hóa và đa dạng trong hai giai đoạn sau.
Chất liệu cho nội dung chính ở đây tuy được trải rộng suốt khoảng 90 năm từ thời Thơ mới 1932-1945 đến nay. Nhưng về thực chất, “hiện tượng trường ca Việt Nam” có vùng hoạt động trong khoảng 40 năm 1960-2000: thời điểm lịch sử 1975 ở quãng giữa với khoảng 15 năm trước và 20 năm sau đó. Tức là, từ khoảng năm 1960 (miền Bắc ổn định trong đường lối Xã hội chủ nghĩa và chuẩn bị nhập cuộc chiến[4], miền Nam sắp vào giai đoạn chiến tranh trên quy mô lớn[5]) đến khoảng năm 2000 (thời điểm giai đoạn hậu Đổi mới chuẩn bị đạt thành tựu).
Dấu mốc 1960 có được do chúng tôi chọn ba điểm khởi phát của hiện tượng trường ca Việt Nam; đó là tác giả Văn Cao với tác phẩm Những người trên cửa biển - 1956; Hoàng Cầm, Tiếng hát người quan họ - 1956; và Thu Bồn, Bài ca chim Chơ Rao - 1962.
Về phạm vi và địa lý văn học: Mọi khu vực sinh hoạt và sáng tác thơ ca tiếng Việt, từ trung tâm, chính thống đến tất cả các ngoại vi, phi chính thống (hải ngoại, lề trái…) Thế nhưng, họ - các tác giả và tác phẩm trường ca xuất hiện và trưởng thành từ sau 1975 - là những “chính chủ” đã làm ra và đang quyết định hiện tình trường ca Việt Nam.
Đó là lý do thuyết phục nhất khiến bài viết được dành cho Hội thảo.
II. Những lời bất cập về trường-phái-nhóm trong thi ca Việt hiện đại và đương đại
Theo một số hướng chính của tiến trình văn học và nghệ thuật Đông Tây kim cổ, sẽ không khó rút ra vài điểm thường gặp ở các chủ nghĩa/trường phái/khuynh hướng/trào lưu tiêu biểu, quen thuộc.
Chúng tôi muốn đúc kết ở 6 điều kiện sau đây với một trường phái/khuynh hướng/trào lưu văn nghệ: 1. Số lượng nhất định các văn nghệ sĩ (thường có một người đứng đầu/đại biểu) cùng theo đuổi một khuynh hướng tư tưởng hoặc một phương pháp hành động riêng biệt và lần đầu tiên (bộc lộ qua một loại tuyên ngôn nào đó); 2. Cơ sở lý thuyết/lý luận cùng các phản biện cần thiết để thể hiện tư tưởng qua thực hành sáng tạo; 3. Phương tiện truyền bá (báo chí, diễn đàn, dư luận); 4. Không gian địa lý và thời gian trình diễn tác phẩm quan trọng; 5. Chịu sự cạnh tranh/sức ép/đàn áp của khuynh hướng, hệ tư tưởng/mỹ học khác; hoặc ảnh hưởng từ cuộc canh tân/cách mạng/cải tổ của thời đại, xã hội, của nền văn nghệ đó; 6. Tạo dấu ấn trong lịch sử văn nghệ ở phạm vi nào đó bằng quan điểm, tác phẩm, nhân vật, sự kiện điển hình.
Nói gọn, trên dòng chảy tri thức và sinh hoạt văn hóa loài người, các trường phái văn nghệ sinh ra là để... chết. Chết khi hết vai trò. Và lưu lại trên sân sáng tạo của ngôi nhà nhân loại một viên gạch mang tên mình.
Nói về trường/phái/nhóm thơ theo cùng thi pháp, phong cách… Hơn một thế kỷ qua ở phương Tây, nhất là Pháp, Mỹ đã từng rực lên biết bao mặt-trời-thơ nhỏ to.
Ở Pháp đầu thế kỷ XX tỏa sáng toàn cầu là các nhóm thơ Thất Tinh (Pléiade), Thi Sơn (Parnasse), những trường phái Tượng trưng Mallarmé, Siêu thực Bréton... Nước Nga với nhóm thơ Pushkin, nhóm thơ Vị Lai (Ego-Futurists), những trường phái thơ hình tượng Blok, trường phái thơ Lermontov-Pasternak... Từ giữa thế kỷ XX, Hoa Kỳ rực rỡ với hàng tá mặt-trời-thơ: trường phái Black Mountain, trường phái San Francisco, các nhà thơ thế hệ Beat, trường phái New York... Ngay cả xứ Trung Hoa, cuối thế kỷ trước tỏa sáng nhiều vùng sáng thơ riêng lẻ. Chỉ trong một bài viết nhỏ[6] chúng ta đã thấy: đây trường phái thơ Mông Lung, kia nhóm thơ Đất Quê Mới (Tân Hương thổ thi phái), kìa nhóm thơ Quật Khởi (Quật khởi thi quần)…
Các trường phái nghệ thuật ở phương Tây thành quả hơn ở phương Đông, phần vì họ mang tinh thần tôn trọng tự do cá nhân - sản phẩm của văn hóa phương Tây - vào sinh hoạt nghệ thuật nhóm phái, khuynh hướng. Tất nhiên còn vài lý do khác, như bài bản, nhà nghề, kỷ luật, biết chịu nhau… Rất ít sinh hoạt trường phái văn nghệ Việt thực hiện đúng tiêu chí coi nghệ thuật là mục tiêu tiền phong. Nó khó nhận ra vì những nhà cách tân ấy thường là nạn nhân cụ thể của một sự mất tự do nào đó. “Thi ca đã chọn chúng ta!” Độc quyền làm tiền vệ, độc tài cách canh tân - đó vẫn là lề lối làm việc của đa số trào lưu nghệ thuật Việt lâu nay. Thói xếp chiếu trên khoanh chiếu dưới đã làm thui chột nhiều ý muốn sáng tạo của những người không đồng hội đồng thuyền. Ngồi-xuống-cùng-làm-một-cái-gì. Đó là thao tác khó đầu tiên tạo nôi cho một nhóm văn hữu cùng sinh đẻ trên đó.
Dẫu thế, thơ Việt từ sau thời Thơ mới tới thời hiện đại rồi hậu hiện đại, cũng đôi lúc lấp lánh các vì sao lạ, dự phần soi tỏ bầu trời thơ ca nước nhà.
Trước 1975, cả hai khuôn viên văn nghệ nổi tiếng là nhóm thơ Bình Định 1936-1945 (đưa tới trường thơ Loạn) và nhóm Sáng Tạo 1956-1965 đều không là các tập hợp văn học về thi pháp có tính cách mạng mỹ học như hai nhóm Xuân Thu Nhã Tập 1939-1942 (lý thuyết và thực hành) và nhóm Dạ Đài (với tuyên ngôn Tượng trưng 1946, được Hội thảo quốc tế 2006 của Viện Văn học Việt Nam[7] xem xét - có lẽ lần đầu tiên? - như một thi phái Việt chưa kịp thực hành).
Sau 1975, có hai khuynh hướng nhóm-phái tập thể có ý thức, gây ảnh hưởng mạnh nhất như là “trường thơ” và có một khuynh hướng cộng đồng vô thức.
Từ năm 2000 đến nay, nhóm thơ Tân hình thức Việt (không xưng danh chính thức, tụ điểm là Tạp chí Thơ và nhà thơ Khế Iêm ở California) qua lý thuyết, thực hành cùng hoạt động (diễn đàn, xuất bản, “phe phái, chủ soái”) đã gây tiếng vang đáng kể trong văn giới và báo chí từ ngoài nước lan tới trong nước. Mới nhất, như một xác nhận tương đối chính thức về học thuật và dư luận, đó là Hội thảo “Thơ Tân hình thức Việt - Tiếp nhận và sáng tạo”[8] do Tạp chí Sông Hương (Huế) tổ chức trong các tháng 9&10/2014 qua 3 buổi tọa đàm tại Huế, TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội với kỷ yếu cùng tên “bao gồm các tiểu luận của nhiều nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng Việt Nam (…) và tiểu luận của các nhà nghiên cứu thế giới, các nhà thơ Tân Hình thức hàng đầu của Mỹ (…)”[9]
Như thế, bằng trường phái Tân hình thức Việt, có thể nói không e ngại, lần đầu tiên lịch sử văn học Việt được chứng kiến một trào lưu thi ca có lý thuyết rất bài bản, có diễn đàn - xuất bản sôi nổi, có thời gian thử thách, có ảnh hưởng dư luận và nhất là có thực hành với một số tác giả, tác phẩm thành công, rộng khắp trong và ngoài lãnh thổ quốc gia.
Tức là, ít nhất đến thời điểm này, trường phái Tân hình thức Việt đã rất đạt ở hầu khắp 5 điều kiện đầu trong danh sách 6 điều kiện nêu trên cho một trường thơ; điều kiện thứ 6: khắt khe mà nói cũng là đạt (mà tất nhiên cũng cần thẩm định của thời gian). Trong môi trường lý luận, phê bình và sáng tác văn nghệ Việt lâu nay chưa có tập quán trường/phái/nhóm, đây nên được xem là bước chuyển đổi lớn. Theo cảm nhận riêng, hạn chế của loại hình thơ này là ở chỗ - về bản chất thi ca và hình thức trình bày (viết, đọc) - nó khó có thể tham dự như là “chính thi” trên nền thơ Việt, nếu như nhận thức và thực hành về ngôn ngữ, cú pháp tiếng Việt vẫn như hiện nay. Nói nôm, như một loại “đặc sản” hợp số ít thi cảm của người viết và người đọc, thơ Tân hình thức chưa thể là quảng đại.
Ra đời 2001, nhóm thơ Mở Miệng, tạo tiếng tăm cùng tai tiếng trên nhiều báo chí, trang mạng văn nghệ trong-ngoài nước các năm 2003-2006; còn lác đác nhưng chủ yếu ở các vấn đề ngoài thơ tới khoảng 2010; về sáng tác và hoạt động văn học kể như đã (tạm) ngưng, và rộ trở lại trong dư luận các năm 2013-2014[10]. Ý nghĩa của nhóm thơ này hiển lộ mạnh bạo ở giá trị thời cuộc, tính văn hóa chính trị và thái độ phản biện văn nghệ - xã hội; về giá trị nghệ thuật (tính văn học, chất thơ) ít được tán đồng trong dư luận chung, còn phải cần đến sự lên tiếng của thời gian.
Cũng từ khoảng năm 2000, một khuynh hướng - thành cao trào với đúng nghĩa của nó - mang tên Hậu hiện đại, được thực hiện ở văn học Việt, nhất là thơ và tiểu thuyết, trong lẫn ngoài hình chữ S, với ngót cả trăm tác giả, dịch giả, phê bình, nghiên cứu gia từ tài tử, ngoài lề cho tới nhà nghề, chính thống; từ bộc phát cho đến bài bản. Ban đầu từ ngoại vi rồi tới trung tâm, từ ngoài nước lan vào trong nước.
Về đại trà, cả ở trung tâm lẫn ngoại vi, khuynh hướng Hậu hiện đại Việt vẫn chưa được đông đảo giới sáng tác, phê bình và độc giả nhìn nhận đàng hoàng, như một dòng văn-học-thật. Họ coi đó như các cách dị ứng xã hội bằng chữ nghĩa, phá lối văn chương truyền thống, chuẩn mực. Gọi chung, một thứ giả-văn-học.[11]
Nhiều cái kẹt cho cả hai bên tác giả - độc giả. Ít nhất: Một là, vì không là trường phái, lối viết hậu hiện đại không có phương pháp luận ổn định và nghiệm đúng cho mọi tác giả, cho mọi tác phẩm của một tác giả; tức là không có chuẩn để bàn sự hay-dở về nghệ thuật. Hai là, quan niệm logic rất thường trực “Cũ người mới ta”. (Riêng vụ này thì không công bằng. Thuận lý mà bất tình! Là nơi có sở đoản về học thuyết, đương nhiên châu Á và Việt Nam sẽ mãi đi sau phương Tây trong các trào lưu, nhóm phái. Nhưng, về mặt thực dụng và hiệu ứng sáng tạo: Hậu hiện đại Mỹ đi vào thoái trào là chuyện của người Mỹ; dân Việt bay lên cao trào hậu hiện đại Việt lại là chuyện của ta.)
Xã hội Việt, văn học Việt chắc còn dai dẳng đeo đẳng với các điều kiện Hậu hiện đại 10-15 năm nữa. Nó bị/được ràng buộc/thúc đẩy bởi các điều kiện chính trị, văn hóa và nhất là kinh tế của Việt Nam khi mà TPP có nhiều cơ hội làm “đổi mới” xứ sở này.
Sau Chiến tranh lạnh, văn chương Âu-Mỹ ít có các trường phái đoạt soái thi đàn, như từng nở rộ thời đầu và giữa thế kỷ XX. (Hoàng kim là các năm 1970, dòng hậu hiện đại Mỹ cũng bị phân hóa theo các dòng chính khác nhau trên văn đàn.) Và có thể sẽ như thế nửa thế kỷ nữa? Lý do: tri thức và cảm thức loài người (dường như vẫn tụ tập ở Hoa Kỳ, không về mặt địa lý) trong kỷ nguyên a-còng đang chẳng cần triết học, tư trào của các thứ triết lý thuần khiết như trước.[12] Mà thi ca là triết học cất cánh, bay vào hoặc bay ra trái tim người.
Văn hóa nào cũng có thơ ca làm tinh hoa. Từ lâu chúng ta thường an phận văn hóa Việt không có luận thuyết theo quan niệm phương Tây.
Trong bốn nhóm-trường thơ Việt Nam xứng danh nhất mà chúng tôi đề xuất (nhóm thơ Bình Định/trường thơ Loạn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài và nhóm Tân hình thức) thiển nghĩ rằng, nhóm Xuân Thu Nhã Tập đến nay duy nhất có lý thuyết thơ hài hòa Đông Tây và thực hành đủ thuyết phục về chất-thơ. Thế nhưng trên thực tế vẫn bị xem là không thành quả: trái thơ Xuân Thu Nhã Tập hậu thế khó ăn nổi, chỉ nên ngắm và tôn thờ.
Cũng trong 15 năm qua, chưa kể giới phê bình, nghiên cứu mà cả dư luận chính thống và đại chúng hầu như chưa “ghé mắt trông coi” tới một vài khởi xướng và thử nghiệm các cách thức làm thơ Việt mà chưa/không được trở thành “trường phái” hoặc trở nên có lý luận của một số tác giả độc lập. Như “Lý thuyết Cấu” của nhà thơ Khải Minh[13]; các phương cách, kỹ thuật mới về “Thơ phụ âm” của nhà thơ Đặng Thân[14]; về “Thơ thực hiện” của nhà thơ Nguyễn Tôn Hiệt[15]. Và như của một số nhà thơ riêng lẻ khác mà hầu hết đều mang vác các yếu tố hậu hiện đại.
Chúng ta cần có những chương trình nghiên cứu hệ thống và thực dụng về các hướng đi mới-lạ-khác của thơ ca Việt Nam mà trước đây nó chưa đi hết, đến nay nó chưa đi tới.
Cuối cùng ở bài này (mà thật ra phải là đầu tiên ở đâu đó) là về một vầng chói sáng trong thơ Việt, lan tỏa trên văn đàn nửa thế kỷ nay, nhưng chưa ở đâu chính thức nêu nó thành danh, định nó nên vị: Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam!
III. Đến sự hiện đại hóa thơ Việt từ “trường phái trường ca Việt”: Nhận thức và thực hành
Về mặt lý thuyết thể loại, không gì rõ ràng như nhà nghiên cứu văn học người Mỹ Rosmarin khẳng định: “Thể loại được định danh một cách tiện ích nhất là một công cụ giải bình, là cách hữu lý và uy lực nhất để minh định giá trị của một văn bản văn chương.”[16]
Tìm hiểu kỹ dòng thơ trường ca Việt với quan niệm thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi tâm đắc với nhận định có tính phát hiện từ nhà nghiên cứu - phê bình Chu Văn Sơn rằng, “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”![17]
Qua nhiều năm quan tâm và với 6 năm nay, sau luận điểm “trào lưu trường ca Việt Nam như là một trường phái sáng tác”[18], các danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam đã được cập nhật liên tục trên nhiều trang mạng ở trong và ngoài nước.
Ngay sau khi khảo cứu công bố ở năm đầu tiên, nhà nghiên cứu văn học Trần Thiện Khanh từng có Lời dẫn như sau:
“Trường ca là một thể loại có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tư duy thơ Việt Nam hiện đại. Thế nhưng, sự quan tâm đến nó, cả ở phương diện văn học sử lẫn lý luận thể loại lại có phần muộn mằn, lẻ tẻ. Cho đến nay [2010] mới chỉ có Tuyển tập trường ca (Nxb Quân Đội Nhân Dân, 1997) là cung cấp được cho độc giả một cái nhìn tập trung về văn bản thể loại này. Trong Lời nói đầu của tuyển tập đó các tác giả biên soạn nhận định: ‘Trường ca là thể loại chiếm tỉ lệ nhỏ, (…) mười trường ca được tuyển chọn trong cuốn này (…) là những trường ca tiêu biểu cả về nội dung lẫn hình thức cũng như bối cảnh lịch sử tác phẩm ra đời’. Như vậy số lượng trường ca được chú ý ở đây còn ít, lại chủ yếu là các trường ca sáng tác trong khoảng 30 năm, tính từ Bài thơ Hắc Hải (1958) của Nguyễn Đình Thi đến Gọi nhau qua vách vúi (1987) của Thi Hoàng. ‘Vùng trường ca’ đến nay vẫn còn nhiều chỗ trống, cần có người tâm huyết lục khảo lại, chọn tuyển công phu hơn, nhất là thể hiện được cái nhìn khái quát, công bằng hơn nữa về diễn tiến của thể loại này..”[19]
Mục tiêu của Tham luận, đó là từ nhận thức và thực hành sáng tác qua một hệ thống tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam kể từ thời Thơ mới đi đến sự khẳng định rằng, trong quá trình hiện đại hóa thơ Việt, điều mang danh “trường phái trường ca Việt” là không thể thay thế.
Nếu theo 6 điều kiện cho một trường phái/khuynh hướng/trào lưu nói chung vừa nêu ở Chương II thì, một cách tương đối, dòng trường ca Việt hơn 50 năm qua gần như không đạt 2 điều kiện đầu (lại là 2 điều kiện tiên quyết), rất tốt qua 2 điều kiện giữa, và ở 2 điều kiện cuối phải nói là… tuyệt vời!
Hãy nhìn nhận sự phát triển thể loại trường ca Việt Nam đã diễn ra một cách khác thường và đa dạng tới mức hóa thân thành một “thi pháp chung”! Hãy đánh giá cảm hứng trường ca Việt Nam tuôn trào rất chủ quan về sáng tạo nghệ thuật nhưng có định hướng theo thời thế giống một “phương pháp chung”! Chúng ta sẽ dễ bề thể tất 2 điều kiện đầu mà bù đắp bằng 2 điều kiện cuối.
Bà đỡ cho trường phái trường ca Việt? Ấy là sự thúc bách của thời đại, là trách nhiệm của thi sĩ-chiến sĩ, thi sĩ-công dân. Ấy là cái sinh tử của chiến tranh (như được dẫn lại nơi Chú thích 5, khi đặt cọc mốc mở đầu cho trường phái này vào khoảng năm 1960), là cuộc đổi đời nghệ thuật (trong các giai đoạn hậu chiến và Đổi mới 1975-1995 và khoảng đầu của hậu Đổi mới khoảng năm 2000).
Ai trong chúng ta không tự hỏi: Đã từng có nền văn học nào trên thế giới mà thể loại trường ca đạt tầm vóc về nghệ thuật, tư tưởng, số lượng tác giả và nhất là tác dụng xã hội - đất nước, như dòng trường ca chiến tranh Việt Nam 1963-1975 và hậu chiến 1975-1986 không?
III.1. Quan niệm về tính trường ca và việc lập danh sách tác giả, tác phẩm trường ca Việt Nam
Đây đang là cơ sở cho một đề tài không dễ dàng - bởi hẳn là lần đầu tiên - đề cập khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam” và phân loại, nhận định có hệ thống, toàn diện loại hình này trong văn học Việt Nam hiện đại.
Theo thống kê đang có, về số lượng, từ thời Thơ mới tới nay (cập nhật 22/5/2016), là khoảng 451 tác giả Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài mang ý nghĩa tương đương, với tổng số khoảng 1186 tác phẩm gọi chung là “trường ca hiện đại” (thường gọi tắt “trường ca”).
Một cách tương đối, có thể xem Huy Thông là tác giả trường ca Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng Tiếng địch Sông Ô ra đời năm 1935, còn Hữu Đạt là tác giả mới nhất với Cuộc chiến mười ngàn ngày (Nxb Công An Nhân Dân, 2015), và tác phẩm mới nhất là Hoàng đế Quang Trung (Nxb Thuận Hóa, 2016) của Hoàng Bình Trọng.
Các yếu tính của thể loại để phân biệt trường ca giữa các tác phẩm thơ khác luôn là nan đề trong cả sáng tác lẫn lý luận văn học đương đại, ở Việt Nam và trên thế giới. Thơ trường ca, cùng với tiểu thuyết, là hai hình thức nghệ thuật ngôn từ có sự tổng hợp thể loại; đến mức “quên” thể loại!
Với dòng thơ trường ca Việt hiện đại và đương đại của hơn ngàn tác phẩm lớn nhỏ được sinh hạ từ gần nửa ngàn tay bút theo nhiều quan niệm, đề tài, phong cách, thế hệ thì lý giải của nhà lý luận văn học người Nga Tynhianov thật thích đáng:
“(..) hãy thử định nghĩa khái niệm ‘trường ca’, tức một khái niệm về thể loại. Tất cả mọi cố gắng đưa ra một định nghĩa thống nhất đều không đạt được. (…) Thể loại không được nhận ra, nhưng dù sao trong nó vẫn còn giữ được những yếu tố đủ để cái gọi là ‘không phải trường ca’ là một trường ca. Và sự ‘đủ’ này - không phải những thứ thuộc ‘nền tảng’, hay những nét lớn riêng biệt, mà là những cái thuộc thứ hạng, dường như chúng phải thế và dường như chúng không định tính cho thể loại. Cái cần để thể loại được coi là thể loại, trong trường hợp này, là ‘độ lớn’”.[20]
Không ai khác, chính nhà trường ca Việt Nam đầu tiên của thời hiện đại, trong một báo cáo tại hội nghị khoa học như là lần đầu tiên về trường ca ở Việt Nam được tổ chức tại đại học lớn nhất quốc gia, cũng nhìn nhận rằng “độ dài của trường ca là một yếu tố thuận. Độ dài góp phần cấp trọng lượng cho chất tráng của thi ca”.[21]
Phải chăng nhờ tự mang trong mình sự bất định thể loại, trường ca đã là một trong những Đứa Con kỳ khôi - già xưa nhất, tươi lạ nhất và hoành tráng nhất - của Người Mẹ Văn Chương?
Bằng quan niệm mới về thể loại, và trong sự cẩn trọng thông lệ cho một công việc phân định không thể tránh được độ bấp bênh nào đó, nay đề nghị một số tiêu chí, khi thành lập danh sách, cũng như phân loại tác giả, phê bình tác phẩm.
Với trường ca, và các loại hình tương tự (sử thi, anh hùng ca, ngâm khúc, diễn ca, trường thi…), thường không khó lắm để nhận dạng qua cấu trúc và dung lượng, dù được viết theo khuynh hướng nào: cổ điển, hiện đại hay hậu hiện đại. Riêng với thơ dài có tính trường ca - điểm mới của khảo cứu này[22] - quả là không dễ định vị! Chúng tôi cho rằng tác phẩm Sầm Sơn trường hận của tác giả Nam Trân là bài thơ dài có tính trường ca được viết sớm nhất, vào năm 1932, trước khá lâu so với bài trường ca Việt Nam đầu tiên của thời hiện đại là Tiếng địch Sông Ô nói trên.
Đến nay, trong tổng số 451 tác giả, có 323 tác giả trường ca và 128 tác giả thơ dài có tính trường ca: trung bình mỗi tác giả đã viết hơn 2.5 tác phẩm có tính trường ca. Những con số biết nói, vừa có ý tượng trưng vừa mang nghĩa cụ thể!
Ở đây, “trường ca” và “thơ dài có ý nghĩa tương đương” bao gồm các loại hình văn vần - trừ truyện thơ và tất nhiên cả kịch thơ - mang dung lượng lớn với phương thức tự sự hay trữ tình, cấu trúc có hoặc không có cốt truyện, câu chuyện.
Trong các sáng tác đó, tính trường ca được thể hiện hài hòa qua: a) Thể tài: mang tinh thần và nội dung không của từng cá thể hay giữa các cá thể, mà thuộc về giá trị chung - đất nước, quê hương, nhân loại, dân tộc, cộng đồng - trong một chủ đề nhân văn có ý nghĩa xã hội rộng lớn. (Đây nên được xem như kim chỉ nam về tư duy thể loại trên bản đồ nghệ thuật thơ có tính trường ca); b) Chất liệu hiện thực: trạng thái nhân thế và trạng thái sử thi có thể độc lập hoặc hoán chuyển; c) Cảm hứng: ấn tượng chấn động, cảm xúc cao sâu; d) Giọng điệu, tư duy thẩm mĩ: mạnh hoặc nhanh, hùng ca hoặc bi ai hoặc hài hước, với chủ đích lôi cuốn với thái độ chủ quan; e) Cấu trúc và thủ pháp: sử dụng một số hình thức, kỹ thuật của “trường ca chuẩn tắc” (chương, khúc, đoạn, pha trộn thể loại, đa ngữ điệu, cân bằng các giá trị đối lập…); f) Dung lượng: Khoảng 750 chữ trở lên (có thể ít hơn, tùy ý nghĩa từng bài).
Và biên khảo này mạnh dạn dùng một tên gọi mới, không thuộc về thể loại mà với ý biểu tượng, như một sự vinh danh: Tiểu trường ca.[23] Đó là các thi phẩm có: Dung lượng hơn một bài thơ bình thường (tùy theo ý nghĩa từng bài, có trường hợp đặc biệt); Thi pháp mang tính trường ca; Tác giả đã quen thuộc; Và nhất là, từng tạo tiếng vang trong dư luận xã hội và môi trường văn học, mang dấu ấn thời đại, lịch sử…
Trong bài |