tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
24.05.2017
Trần Hoài Anh
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch”



Tham luận Hội thảo khoa học quốc gia Thế hệ nhà văn sau 1975, do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tổ chức 28/4/2016


1.   Không phải ngẫu nhiên, với tiểu thuyết đầu tay Thế giới xô lệch, Bích Ngân đã chinh phục được trái tim và lý trí của người đọc. Điều ấy đã được xác tín không chỉ với việc tác phẩm đạt giải thưởng cao về văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 5 năm (2006 - 2011) mà còn qua số lần được xuất bản ( in lần thứ 6 với gần mười ngàn bản). Điều đó, chứng tỏ nhu cầu tiếp nhận đối với tiểu thuyết này là có thật. Bởi lẽ, trong tình hình văn hóa đọc đang xuống cấp như hiện nay, không nhà xuất bản nào lại “vô tư” bỏ tiền in một tác phẩm văn học mà không được độc giả đón nhận.


Tiểu thuyết Thế giới xô lệch của Bích Ngân đã tạo nên một chân trời vẫy gọi người đọc như thế, một phần là do lực hút từ các diễn ngôn mang cảm thức hiện sinh được thể hiện qua những ưu tư, trăn trở, dằn vặt của nhà văn về những điều tưởng chừng như đối lập nhưng lại có quan hệ biện chứng với nhau đang hiện hữu trong cuộc đời. Đó là những được / mất, hạnh phúc / khổ đau, vinh quang / cay đắng, cao cả / thấp hèn, tốt / xấu, bi / hài... Điều này đã tạo nên một hệ mỹ học riêng trong tiểu thuyết Thế giới xô lệch của Bích Ngân, dẫu không triết luận cao siêu nhưng với những trăn trở, ưu lo đầy tính nhân bản ẩn chứa trong diễn ngôn của tác phẩm đã đủ sức thức nhận tâm cảm người đọc, để họ nhận ra những chênh vênh, đổ vỡ của thân phận trong cõi nhân sinh.


Một khi giải mã các diễn ngôn đậm cảm thức hiện sinh trong tác phẩm một cách thấu đáo, người đọc không chỉ nhận ra quan niệm sáng tác mà còn thấy được thiên lương, tinh thần dấn thân và sự tận hiến của nhà văn trong việc thực thi sứ mệnh của mình.


2. Quả thật, diễn ngôn trong tác phẩm văn học bao giờ cũng ẩn chứa trong đó những thông điệp mang tính nhân sinh thể hiện cái nhìn của nhà văn về cuộc đời. Trong tiểu thuyết Thế giới xô lệch, ngay việc chọn nhan đề cho tác phẩm đã là một luận đề mang cảm thức hiện sinh sâu sắc có sức cuốn người đọc vào vũ trụ nhân sinh mà nhà văn hướng đến. Và để luận giải cho luận đề này, nhà văn đã khách quan hóa những ưu tư mang cảm thức hiện sinh qua điểm nhìn của các nhân vật về những vấn đề diễn ra trong cuộc sống và nghệ thuật, nhằm bày tỏ quan niệm sáng tác của mình cũng như chuyển tải mối quan tâm của nhà văn về những vấn đề cuộc sống đặt ra để chia sẻ với người đọc mà diễn ngôn sau đây sẽ minh chứng cho điều ấy.


- Chị học vẽ hồi nào?


- Từ lúc chị nhận ra mình không thể làm được những điều mà mình mơ ước.


- Chị... chị từ bỏ cái mơ ước trở thành người viết kịch rồi sao?


- Em biết đó, trong cuộc đời chị, chị chưa đóng tròn một vai nào hết, kể cả vai một người mẹ, một người chị thì làm sao chị sáng tạo ra một thế giới nhân vật có hồn có vía trên sân khấu, những nhân vật mà khán giả muốn thấy được hành động của họ, chứ không phải để thấy họ cứ loay hoay tìm kiếm lối đi, tìm kiếm lẽ sống...(1)


Có thể nói, những ưu tư của người chị trong diễn ngôn nêu trên cũngchính là những trăn trở của Bích Ngân về sứ mệnh của người nghệ sĩ trước cuộc sống và số phận con người trong một thế giới mà mọi thứ đều chênh vênh, xộc xệch. Theo Bích Ngân, người nghệ sĩ với thiên chức của mình, qua tác phẩm phải làm thế nào, giúp người đọc giải quyết những bế tắc để “tìm kiếm lối đi, tìm kiếm lẽ sống”. Bởi, có làm được điều đó, văn học mới trở thành chỗ dựa tinh thần trong cuộc sống góp phần chữa lành những vết thương trong tâm hồn con người. Với Bích Ngân, điều này luôn là một ám ảnh của vô thức và tâm linh, là một hệ giá trị xác tín sự hiện hữu của mình trong hành trình sáng tạo văn chương, được xác quyết qua nhận thức của người em về ý thức dấn thân trong sáng tạo của chị mình: “Hóa ra, chị không phải là kẻ bỏ cuộc. Chị vẫn đang tiếp tục dấn thân vào sống cái cuộc sống mà chị mơ ước chớ chưa thật sự được sống. Thực ra, có mấy ai được sống như cuộc sống mà mình mong muốn. Cuộc đời này giống như một bản nháp khổng lồ. Một bản nháp không ngừng tẩy xóa.”


Cuộc đời luôn đặt ra cho mỗi người những chọn lựa hiện sinh và sự lựa chọn nào cũng có cái giá của nó. Nhưng chọn lựa như thế nào để được sống là mình, để mình thật sự hiện hữu chứ không phải tồn tại là một vấn đề không dễ, nếu không muốn cuộc đời mình mãi mãi là “những bản nháp không ngừng tẩy xóa!?”. Trong ý thức của Bích Ngân, con người phải sống tận cùng nỗi đam mê, mới khả dĩ tìm được ý nghĩa của cuộc đời. Và nhà văn, để hiện hữu, cần phải có ý thức “dấn thân”(J.P.Sartre), phải “xuống thuyền”(Albert Camus), sống hết mình với những trang viết, phải để cho những trang viết của mình thấm đẫm vị nhân sinh thì mới sáng tạo được những tác phẩm văn chương đích thực còn không, cũng chỉ là những “bản nháp” mãi mãi dang dở, vô hồn, không thể lặn sâu vào tâm hồn và ngự trị được trong trái tim người đọc. Đây cũng chính là một biểu hiện của cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Thế giới xô lệch mà Bích Ngân muốn gởi đến người tiếp nhận qua số phận của các nhân vật trong tác phẩm.


Thế giới nghệ thuật làm nên giá trị tư tưởng mỹ học mà tác giả muốn chia sẻ với người đọc trong tiểu thuyết Thế giới xô lệch chính là sự lựa chọn hiện sinh của con người thời hậu chiến, khi đối diện với những “hố thẳm” của cuộc sống đời thường. Những chọn lựa sẽ kiến tạo nên số phận không chỉ của một con người, một gia đình mà còn là số phận của cả một dân tộc. Những thảm họa trong và sau mỗi “cuộc chiến” có thể đẩy con người vào bi kịch và bi kịch đớn đau nhất là những mất mát mà con người phải gánh chịu từ cuộc chiến như lời trần tình của nhân vật tôi trong tác phẩm: “Tôi cũng vậy. Tôi sợ cái không khí căng thẳng của cái ngòi nổ sắp khai hỏa. Và còn sợ hơn là sự im ắng sau cuộc chiến, cho dù đó không phải là cuộc chiến có đạn bom và máu chảy. Chẳng ai được cả, kể cả người thắng cuộc. Tổn thương và mất mát. Mất mát hằn sâu trong ký ức. Mất mát chập chờn trong thức, ngủ. Mất mát hiện diện mọi nơi. Đó là cái giá phải trả cho mọi cuộc chiến.” Bởi vì: “Trong bất kỳ cuộc chiến nào, xuất phát điểm bao giờ cũng từ lợi ích. Lợi ích lại có muôn hình vạn dạng. Khi xâu xé khối vật chất có giá trị dễ được tính bằng bạc tiền. Khi giành giật thành quả lao động của những cái đầu vượt trội. Khi là cuộc tỉ thí giữa hai con đực để đoạt lấy con cái. Khi là sự phô diễn ngông cuồng thói tự phụ, kiêu căng. Khi là trận chiến giành lấy cái quyền được tác động, được ảnh hưởng, được tỏa sáng. Khi lại từ cuộc cạnh tranh mù quáng về thứ ảo ảnh lung linh nào đó.”


Cái nhìn về cuộc chiến với những gam màu khác nhau qua các diễn ngôn trên không chỉ biểu hiện cảm thức hiện sinh về chiến tranh, một vấn đề của đời sống nhân loại mà chủ nghĩa hiện sinh vốn rất quan tâm vì nó ảnh hưởng sâu sắc đến số phận con người trong một thế giới đầy bất an mà còn cho thấy quan niệm nghệ thuật của Bích Ngân khi viết về chiến tranh. Chiến tranh luôn là điều phi lý và vô nghĩa. Nó chính là nguyên nhân đẩy con người vào bi kịch của thân phận. Luận về chiến tranh với một cảm thức hiện sinh được thể hiện trong Thế giới xô lệch, Bích Ngân muốn chia sẻ với người đọc về những hệ lụy của chiến tranh đối với cuộc sống con người. Phía sau hào quang chiến thắng bao giờ cũng là nỗi bất hạnh của biết bao phận người. Đây cũng là điều cần được thức nhận đối với nhà văn khi viết về chiến tranh. Quan niệm sáng tác của Bích Ngân về đề tài chiến tranh, có lẽ vì thế, mà được người đọc tiếp nhận và chia sẻ!


Bên cạnh sự ưu tư về số phận con người trong chiến tranh, cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Thế giới xô lệch còn được biểu hiện ở nỗi cô đơn phận người, trong đó có nỗi cô đơn sáng tạo của người nghệ sĩ, điều mà chủ nghĩa hiện sinh hết sức quan tâm. Diễn ngôn sau đây cho ta thấy rõ điều này: “Tôi nhìn vào bức tranh chưa hoàn chỉnh của chị. Đó là hình dáng một con thuyền tròng trành trên sóng nước. Không biết mấy về hội họa nhưng tôi cảm nhận được cô đơn từ đường nét và sắc màu. Chị tôi đó, một con thuyền chưa tìm thấy bến bờ.” Và “khi ngước nhìn chị, tôi thấy mắt chị rân rấn nước. Nước mắt đôi khi lại làm nên cái sức mạnh mà ngay cả ông bà Nobel lúc sinh thời có lẽ cũng không ngờ được. Sự tàn phá và hủy diệt của lòng tham và vũ khí giết chóc sẽ còn dữ dội hơn nếu nước mắt đã không thấm ướt mặt đất này.”


Quả thật, nước mắt là mỹ học của nỗi buồn, của mất mát và đau thương. Đây cũng là một biểu hiện của cảm thức hiện sinh trong Thế giới xô lệch của Bích Ngân.


Nước mắt chứ không phải là những lời thuyết giáo, rao giảng nào khác có thể biến kẻ sát nhân thành người lương thiện, biến trái tim sắt đá thành nhân ái, từ bi. Giả định mà Bích Ngân đưa ra khi luận về nước mắt, và nỗi cô đơn phận người, cho thấy cảm thức hiện sinh trong Thế giới xô lệch của Bích Ngân đã đạt đến độ chín tư duy và chiều sâu tâm hồn. Cảm thức hiện sinh, vì thế như một chất men làm nên những dự phóng sáng tạo của nhà văn được thể hiện qua thế giới nhân vật được xây dựng trong tác phẩm. Có thể nói, số phận của từng nhân vật trong Thế giới xô lệch đều là hệ quả của sự lựa chọn hiện sinh nên có sức cuốn hút tâm thức người đọc khi đến với tác phẩm. Tiêu biểu là hình ảnh người cha, một quan chức cả đời chỉ sống cho lý tưởng, cho dù cái lý tưởng ấy cũng đã chao đảo, chơi vơi trong cái thế giới xô lệch mà ông đang quyết tâm xây dựng, giữ gìn. Ông là người “giản dị, nhiệt thành, ông luôn thuộc về đám đông. Âm thanh ồn ào từ đám đông khiến ba tôi không nhận ra tiếng gọi của tôi.” Và sự xa cách của tình cha con cũng bắt đầu từ việc “không nhận ra tiếng gọi” này. Vì vậy, tình cha con cũng “Gập ghềnh. Chênh vênh. Giữa ba tôi và anh tôi hình như không cùng điểm đến dù họ có cùng chung những điều hết sức thiêng liêng.”Và chính sự chọn lựa kiểu sống vì đám đông, sống với đám đông, sống cho đám đông ấy là nguyên nhân đẩy người cha vào cuộc sống cô đơn và biến ông thành kẻ xa lạ ngay trong chính ngôi nhà của mình. Bi kịch đời ông phải chăng chính là ở đó!?


Bên cạnh sự chọn lựa của người cha và những bi kịch mà ông phải nhận lấy từ những lựa chọn ấy, còn có sự chọn lựa của người anh, người chị, người chú... tất cả, họ đều rơi vào bi kịch của sự cô đơn. Và số phận của các nhân vật trong Thế giới xô lệch đều là hệ quả của sự lựa chọn hiện sinh. Có lẽ, thông qua sự chọn lựa của các nhân vật, Bích Ngân muốn chia sẻ một vấn đề có tính tất yếu trong sáng tạo văn học. Đó là, nhà văn dù chọn lựa cách sống và viết như thế nào cũng không tránh được bi kịch của sự cô đơn, vốn là một căn tính của phận người, mà nhà văn không phải là ngoại lệ. Và không phải lúc nào đi với đám đông, gắn với đám đông, viết về đám đông, nhà văn sẽ thoát được nỗi cô đơn!? Đây là một chọn lựa hiện sinh chứ không đơn thuần là sự chọn lựa một cách viết, một phương thức thể hiện như lâu nay ta vẫn nghĩ…Sáng tạo văn học suy cho cùng cũng là sáng tạo một cách sống, một cuộc sống, một thế giới “không bị xô lệch” mà cái đích hướng đến là tinh thần nhân bản với các giá trị chân, thiện, mỹ chứ không phải là những thuyết lý mơ hồ, huyễn hoặc nào khác...


Hệ quả của sự lựa chọn trong cuộc sống như thế nào để không rơi vào bi kịch, cảm thức hiện sinh trong Thế giới xô lệch còn thể hiện ở những suy tư về sự giới hạn của con người. Đằng sau những ưu tư này cũng cho thấy quan niệm sáng tác của nhà văn. Việc con người không nhận ra giới hạn của mình cũng là một bi kịch mà diễn ngôn sau đây thể hiện rõ điều ấy: “Thường thì… em cũng như chị thôi, là dễ nhận ra những giới hạn ở người khác, ở cuộc sống và giới hạn của cả thế giới này nhưng lại không đủ gan để nhận ra những giới hạn của chính mình.”. Đã là con người thì ai cũng có “những giới hạn, đặc biệt là những giới hạn không thể vượt qua…” Và trong những giới hạn đó, thói quen, nhất là thói quen chỉ biết phục tùng “cũng là một thứ giới hạn khiến con người hèn yếu và vô tâm.”


Có thể nói, cảm thức hiện sinh trong Thế giới xô lệch thể hiện chất triết luận khá sâu sắc, điều ít thấy ở văn chương Nam Bộ vốn thiên về giọng điệu kể, tả. Đây cũng là phương diện thể hiện nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Bích Ngân. Không những thế, qua những diễn ngôn mang tính triết luận này cũng cho thấy khát vọng của Bích Ngân về vấn đề tự do sáng tác, một yếu tính của sáng tạo văn học mà diễn ngôn sau đây là một minh chứng “Nhiều lúc chị thấy mình bị kẹt cứng trong những giới hạn. Có lúc chị rơi vào trạng thái hụt hơi, thấy mình như không thở nổi nữa.”.


Cảm thức hiện sinh trong Thế giới xô lệch của Bích Ngân, vì thế, không chỉ là ý thức về hiện hữu mà còn là ý thức về quyền tự do sáng tạo của nhà văn khi phải sống trong rất nhiều giới hạn hữu hình và vô hình.


Tính triết luận đã giúp cho cảm thức hiện sinh trong Thế giới xô lệch của Bích Ngân có tính khái quát cao khi thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Người đọc khó bỏ qua những mỹ cảm đầy ám gợi khiến họ không thể không day dứt. Chẳng hạn, luận về sự im lặng tác giả viết: “Thứ im lặng che dấu những điều muốn nói, thường là những điều không dễ nói. Thứ im lặng chứa đựng niềm đau vừa kìm nén vừa chực vỡ òa.” Cảm thức vô ngôn ấy đã trở thành một thứ triết luận hiện sinh ẩn chứa những trăn trở, suy tư của nhà văn về cuộc sống, về thế sự, nhân sinh.


Cái nhìn hiện thực của Bích Ngân cũng như của số ít ngòi bút của thế hệ nhà văn trưởng thành sau 1975 không phải là cái nhìn hiện thực giản đơn, một chiều mà là cái nhìn hiện thực đa chiều, đa diện như nó vốn có. Thế giới xô lệch chính là một cuộc “giải phẫu” khá sâu sắc và tinh tế về tâm thức và tâm cảm của con người Việt Nam thời hậu chiến.


Thời hậu chiến, là thời điểm mà mọi giá trị đang đứng trước những xô lệch đòi hỏi con người hết sức tỉnh táo để biết biến đổi và thích nghi. Phản ánh được trạng thái phức cảm này trong văn học, nhà văn cần phải có thiên lương để cảm nhận và thể hiện được nỗi đau của thân phận trước những biến đổi của đời sống xã hội. Với Thế giới xô lệch, Bích Ngân đã làm được điều này. Nhà văn đã nắm bắt được hơi thở của cuộc sống, đã lăn lộn trong vòng xoáy của cuộc sống bằng một tinh thần nhập cuộc và dấn thân.


3. Đọc văn chương của Bích Ngân trong tiểu thuyết Thế giới xô lệch và những tác phẩm khác của chị, ta thấy trong đó luôn chứa một miền say mê, dấn thân của người nghệ sĩ và trách nhiệm công dân của người cầm bút. Bởi theo Bích Ngân: “Đến với văn chương cũng như đến với tình yêu: đầy đam mê, nhọc nhằn và tự nguyện.” Và tình yêu văn chương ấy được xây dựng trên nền tảng của một nhân cách nghệ sĩ đầy cá tính và đây cũng là điều kiện cần và đủ để Bích Ngân có một chỗ đứng đàng hoàng trong “tầm đón đợi” của mọi thế hệ người đọc. Phải chăng, đây cũng là bí quyết làm nên thành công của Bích Ngân trong hành trình sáng tạo của mình. Song, cũng như các nhà văn cùng thế hệ trưởng thành sau 1975, con đường sáng tạo nghệ thuật của Bích Ngân vẫn còn ở phía trước đòi hỏi nhà văn nỗ lực với một niềm đam mê, dấn thân hơn nữa vào cuộc sống nhân dân để cảm nhận được nỗi đau của số phận con người thì mới có những tác phẩm để đời. Bởi tài năng, nhiều khi cũng bắt đầu từ những đam mê và sự dấn thân ấy.Và nói như Bích Ngân, cái khó của một người theo nghiệp văn chương là: “Trong khi viết, để có được những ý tưởng rồi nâng lên thành tư tưởng, thành triết lý, theo tôi không khó bằng việc nuôi dưỡng cảm xúc. Không có cảm xúc, từ ngữ chỉ là những xác chữ vô hồn. Mà để nuôi dưỡng cảm xúc thì phải sống chân thành, trước nhất là chân thành với chính mình”.


Hy vọng với những điều tâm nguyện này, Bích Ngân sẽ gặt hái được những quả ngọt trong hành trình sáng tạo của mình để xứng đáng là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn chương Nam Bộ nói riêng và văn chương cả nước nói chung trong nền văn học hiện đại nước nhà.


Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp 24 /3 /2016


THA.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »