Trung tâm của một tiểu thuyết trinh thám không phải là tội ác mà là cuộc điều tra: “Cái chết thật đáng tò mò, bạn có thấy thế không? Khi con người chết vì bệnh tật, đó thật là tàn nhẫn, vô lí, nhưng đó lại là cái chết thực sự. Khi họ chết vì các tội ác, vì bọn giết người, bọn ám sát, cái chết lại trở nên trừu tượng. Giống như là giải pháp về cái bí ẩn đã xảy ra từ trước. Giống như ta đang sống trong tiểu thuyết trinh thám vậy” (Chủ nhật rực rỡ, phim của Franỗois Truffaut, 1983). Trong tiểu thuyết trinh thám, cái chết không xuất hiện như là sự phi lí, quá đáng, không thể tưởng tượng được, mà nó, giống như trong một phương trình, một ẩn số thích hợp để cấp cho nó một giá trị. Cái chết đó xui nên cuộc điều tra về ý nghĩa mà không gây sợ hãi hoặc làm xáo trộn.
Nguyên lí về lí do đầy đủ
Sự sâu sắc của tiểu thuyết trinh thám là không được có ở đó: bất cứ một cái nhìn, một ý thức hệ, một chủ nghĩa tượng trưng nào coi đó như là ý nghĩa và sự phong phú của truyện kể; truyện kể trinh thám là chính nó ở sự sáng tỏ thực sự của nó, trong chừng mực mà nó bị phụ thuộc vào một ẩn ngữ. Những “tiểu thuyết đen”, như các tác phẩm của James Ellroy, Ed McBain, Lieberman, đều được biểu lộ qua một trạng thái căng giữa những khả năng bất tận của tính mơ mộng, có thể nhập vào những luận đề về con người, thế giới, xã hội, Chúa trời, với sự lôgic thuần túy mang tính tự sự và tuyến tính của tiểu thuyết trinh thám. Bởi vì tiểu thuyết trinh thám không phải là gì khác hơn là “truyện kể vị truyện kể”, cũng giống như “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Trong truyện trinh thám, không có gì là “cho không” cả: mọi thứ được viết ra đều có một lí do tồn tại - giống như thế giới của tiểu thuyết trinh thám bị chi phối bởi một “nguyên lí về lí do đầy đủ”: “Chẳng có gì xảy ra mà không có lí do đầy đủ, nghĩa là không có gì xảy ra mà không thể được đối với người hiểu biết tương đối các sự vật để mang lại một lí do đủ xác định tại sao nó lại như vậy, mà không phải khác đi” (Leibniz, Những nguyên lí của Tự nhiên và của Ân sủng, 1714).
Là công trình của lí tính, tiểu thuyết trinh thám trình bày ngay tức thì như một cuộc điều tra về sự thật. Nhưng cái sự thật đó không cư trú ở ngoài-văn bản, phó mặc cho độc giả và cho những kiến giải của họ: trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám, tất cả đều được nói ra, nói đúng ra, là để tưởng tượng. Không hề có một “khoảng trống”, một sự bí ẩn nào - trừ cái người biết ai đã giết người. Nhưng ngay cả sự bí ẩn đó cũng không phải chỉ có một, bởi vì sự giải quyết chỉ được thấy ở đâu đó trong những gì đã được miêu tả và đã được biết đến. Khuynh hướng tự nhiên của độc giả là tin rằng sự thật cần phải được sáng tạo, nó nằm ở những chỗ sâu xa của truyện kể và rằng sự lí giải phải có những nỗ lực mới đưa được ra ánh sáng. Vậy mà, sự thật thì vẫn luôn luôn ở đó, nó không bị lộ ra, nhưng là hồi ức - độc giả sẽ nhớ lại, vào lúc cuối truyện rằng văn bản đã giấu nó ngay từ đầu. Mối liên quan với sự thật và nguyên lí của lí do đầy đủ đã tổ chức nên điều đó (toàn bộ những gì được viết ra đều bị phụ thuộc vào cốt truyện, cốt truyện ở đây là lí do cuối cùng) đã khiến tiểu thuyết trinh thám là một phản-tiểu thuyết.
Phản-tiểu thuyết
Tiểu thuyết nói chung dựa trên nguyên lí của sự vô cớ và tùy tiện: một cuốn tiểu thuyết không bị phụ thuộc vào bất cứ điều gì ngoài chính nó, tức là vào cái viết của nó. Nó không bị chi phối bởi bất cứ nguyên lí của lí do đầy đủ nào, mà chỉ phụ thuộc duy nhất vào luật của hư cấu, mà hư cấu lại là sự thiếu vắng của mọi thứ luật lệ: sự miêu tả của tiểu thuyết không có lí do nào khác ngoài việc được là chính nó, nghĩa là sự sáng tạo của nó vô cớ, biểu hiện về sự tự do của nhà tiểu thuyết. Điều đó không phải là các nhà văn trinh thám thiếu trí tưởng tượng, mà trí tưởng tượng đó hiện diện thường xuyên nhưng bị giới hạn vào những điều thiết yếu nghiêm ngặt của cốt truyện và của việc giải quyết. Ngược lại, trong một cuốn tiểu thuyết nói chung, mọi cái đều là ngoại đề hoặc, hơn thế, tiểu thuyết là ngoại đề tự trong bản thân nó, bởi vì không có gì cần thiết phải mang lại ấn tượng về việc sắp xếp cho sự phát triển của nó, giới hạn nó, khiến nó phải phụ thuộc vào cái kết. Từ cách thức cơ bản, tiểu thuyết không có đối tượng; không thuộc vào bất cứ một thể loại nào, nó chỉ được chuyên chở thông qua khả năng của tác giả về việc sáng tạo ra một thế giới. Ngược lại, tiểu thuyết trinh thám ngay tức thì mang đầy ý nghĩa, được chỉ ra: một tội ác đã được thực hiện hoặc sẽ thực hiện.
Ngay từ những dòng đầu tiên, chúng ta đã bị “xếp lên tàu”, và truyện kể tự phủ nhận với tư cách hư cấu. Chính như vậy mà Ruth Rendell đã tuyên bố khi kết thúc tác phẩm: “Dù thế nào, câu chuyện này không phải là hư cấu, đó là một bản tường thuật từ những biến cố” (Nguy hiểm chết người). Tiểu thuyết trinh thám chấp nhận theo về cơ bản cấu trúc của sự làm chứng và tẩy đi tất cả những gì sẽ làm tiết lộ ra sự tưởng tượng và sự tự do của tác giả. Người kể chuyện của tiểu thuyết trinh thám cùng lúc đồng thời hiện diện ở khắp nơi (anh ta biết kẻ đã giết người và điều khiển độc giả) và anh ta lại không thể nhìn thấy: nội tâm, phong cách của anh ta không cần thiết phải mang lại ấn tượng nổi bật hơn cốt truyện. Không có gì xa lạ với quy chế hành nghề của tiểu thuyết trinh thám hơn là những sự thổ lộ tâm tình thầm kín, thói tự mê và tính tự thuật như của khá nhiều nhà viết tiểu thuyết đương đại. Người kể chuyện trong tiểu thuyết trinh thám biết tuốt, nhưng anh ta lại cũng có sự tuân thủ đối với cốt truyện như người làm chứng đối với sự thực: ngoại đề không hề được cho phép ở đây.
Các nữ nhà văn trí tuệ sau Agatha Christie như P.D.James et Elisabeth George cũng có thiên tư sáng tạo lại một thế giới với sự tỉ mỉ, cẩn thận và chi tiết, nhưng mục đích của họ không phải là chủ nghĩa hiện thực, là bản tường thuật gần như về dân tộc học của hiện thực: mục đích của họ là kể một câu chuyện có sự đậm đặc, có kết cấu, thời gian tính của hiện thực. Trong tiểu thuyết thông thường, sự hư cấu không ngừng đòi hỏi các quyền của nó, và trí tưởng tượng lộ ra đằng sau truyện kể; sự hư cấu là mặt trái của nó, ngay cả đằng sau cái “chủ nghĩa hiện thực” lớn nhất, nó thường xuyên khẳng định sự hiện diện của mình. Ví dụ điển hình được đưa ra ở đây là tiểu thuyết Jacques, anh chàng theo chủ nghĩa định mệnh, một tiểu thuyết về tiểu thuyết mà ở đó Diderot đã tuyên bố về sự tự do của nhà tiểu thuyết và không ngừng phá vỡ ảo tưởng về “hiện thực” mà truyện kể tạo ra, trong việc vạch ra trò chơi của cái viết, sự vô cớ của hư cấu.
Nếu tiểu thuyết trinh thám không chỉ ra dấu hiệu về một thế giới vô hạn mà một thế giới đóng kín, thì tiểu thuyết thông thường, về phía mình, lại luôn luôn tự vượt thoát về cái vô hạn của trí tưởng tượng và của sự diễn giải: ta đã chả từng nói rằng một cuốn tiểu thuyết hay là một cuốn mà việc đọc không ngừng được đổi mới đó sao? Ngược lại, một cuốn tiểu thuyết trinh thám hay không chỉ được đọc một lần hoặc, với mỗi lần, lại giống như đọc lần đầu tiên.
Nếu, trong một tiểu thuyết, người ta không bao giờ bám chặt vào những gì mà văn bản nói đến, về sự phong phú về cách diễn đạt đó được đánh giá một cách rõ ràng cho khả năng diễn giải mà nó kêu gọi, những điều ẩn giấu bên dưới mà nó chưa nói ra, thì trong tiểu thuyết trinh thám cần phải bám chặt vào những gì được nói đến, bởi vì đó chính là cơ hội duy nhất để kiếm tìm sự thật. Thế giới của tiểu thuyết nói chung cũng giống như thế giới trong đó chúng ta đang sống, không bao giờ bị đóng kín: nó để ngỏ cho việc phán đoán sự hiện diện của các đối tượng chưa được miêu tả ra, những biến cố chưa xảy qua, những chi tiết chưa được tri giác. “Chủ nghĩa hiện thực” của một cuốn tiểu thuyết - “ấn tượng-thế giới” mà nó sản sinh ra - không giữ lại được tính toàn thể mà với nó tác giả đã miêu tả hiện thực và làm sống động thế giới, nhưng với tính chất tỉnh lược, không đầy đủ của miêu tả: giống như cuộc đời, như hiện thực, trong một cuốn tiểu thuyết ta không biết được tất cả, các sự vật có một chiều sâu xa bí hiểm không thể dò được, một chân trời mênh mông, và sự tri giác của chúng ta lại có hạn.
Ngược lại, thế giới trong tiểu thuyết trinh thám là đầy đủ, sự miêu tả mang tính toàn vẹn, vì, trong trường hợp ngược lại, điều đó cho thấy tác giả đã gian lận và độc giả đã bị lừa, giải pháp nằm trong một biến cố, một dấu hiệu chưa được viết ra. Nếu trong tiểu thuyết, tài năng của nhà văn nằm trong cảm giác thiếu về thế giới được miêu tả - để mặc cho dòng chảy tự do của trí tưởng tượng của độc giả -, thì trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám phẩm chất cơ bản của tác giả là sự tỉ mỉ, đưa đến cho độc giả sự tin cậy chắc chắn rằng anh ta không hề cố tình bị che giấu điều gì. Bởi vì nhà văn viết trinh thám không chỉ dấu hiệu về bất kì nơi nào khác, anh ta cần phải giống như trong hiện thực: ngay tức thì, không sâu xa, “mộc”; đó chỉ là những diễn giải từ hiện thực sâu xa, phản chiếu lại, mang tính xã hội học hoặc tượng trưng.
Nhà tiểu thuyết trinh thám và sự chối từ diễn giải
Niềm khoái lạc khi đọc tiểu thuyết trinh thám nằm ở trong mối liên quan không lí tính đối với sự thật: không sáng rõ, cũng chẳng riêng lẻ, sự thật được mang lại trong một sự rõ ràng-tăm tối. Nó cùng lúc vừa hiển hiện vừa bị che giấu. Chính ở đó, theo Van Dine - nhà lí luận đầu tiên của tiểu thuyết trinh thám - là một trong những tính chất cơ bản của thể loại: “Sự thật của vụ việc phải luôn luôn rõ ràng, miễn là độc giả đủ khôn ngoan để nhìn thấy nó. Qua đó tôi muốn nói rằng nếu độc giả, sau khi biết được điều giải thích về tội ác, hẳn sẽ đọc lại cuốn sách, anh ta sẽ thấy rằng theo một nghĩa nào đó, giải pháp sờ sờ ra trước mặt anh ta, rằng tất cả các manh mối đều thực sự nhằm hướng tới tên tội phạm; và rằng, nếu anh ta thông minh như thám tử, bản thân anh ta sẽ có thể giải quyết được được bí ẩn mà chẳng cần phải đi tới tận chương cuối” (Hai mươi “nguyên tắc” của việc viết truyện trinh thám). Cái quy chế này về sự thực nằm ở chính tính cách của kẻ giết người, mà từ đó toàn bộ nghệ thuật dựa vào để trình bày với tư cách ngây thơ, hóa trang đi tội ác của y và ngụy trang bản chất của kẻ giết người.
Tiểu thuyết trinh thám hòa trộn những nghịch lí: nó đưa lên sân khấu một sự thực bị che giấu, dẫn dắt độc giả tin tưởng vào sự sâu sắc của truyện kể, trong khi đó sự thực lại chỉ là “bề mặt” ở mỗi dòng của truyện kể; nó khuyến khích sự lí giải mà nó yêu cầu qua việc đọc (vấn đề tìm biết ai đã giết người không bao giờ có thể quyết đoán được).
(Còn nữa)
Tác giả: Laurence Devillairs (Tiến sĩ Triết học)
Đào Duy Hiệp dịch
• Le principe de raison suffisante
• L’anti-romanesque
• Le Policier et le refus de l’interprétation
• Des Policiers sans crime aux « serial killers »
• PETITE BIBLIOGRAPHIE DU CRIME
Nguồn: Bài in trên Văn nghệ Trẻ
Bản điện tử của phongdiep.net
|