tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
03.08.2018
Nguyễn Thị Dung
Ảnh hưởng của văn học dân gian dưới góc độ biểu tượng trong thơ Nguyễn Bính


Một tác phẩm thơ ca thành văn chỉ được coi là chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian khi nó tiếp nhận hoặc kế thừa một trong các thành phần của kết cấu thi pháp dân gian (để vận động hoá nó và xử lý theo các nguyên tắc nghệ thuật của thơ ca thành văn) trên cơ sở một cảm quan, một thái độ ứng xử mang tư tưởng nhân dân[1]. Bài viết này sẽ không bàn đến tất cả sự ảnh hưởng của thơ ca dân gian trong thơ Nguyễn Bính, mà chỉ tập trung phân tích sự ảnh hưởng dưới góc độ biểu tượng văn hoá[2]: giấc mộng, cánh bướm. Hệ thống biểu tượng này là một trong những phương thức nghệ thuật mà thi nhân dùng để khắc hoạ chân dung con người cô đơn ngay trong thời đại của ông.


Mặc dù sử dụng chất liệu ngôn từ, hệ thống motif quen thuộc v.v… của văn học dân gian nhưng Nguyễn Bính lại là con đẻ của Thơ mới, mang đậm dấu ấn cái tôi cá nhân chủ nghĩa. Có thể nói, Nguyễn Bính đã vận dụng một cách nhuần nhị phương thức biểu đạt dân gian để thể hiện thành công quan điểm thẩm mỹ của mình. 


 Xét toàn bộ sáng tác của Nguyễn Bính, mảng thơ giang hồ hoài niệm quê hương có một vị trí đặc biệt. Dường như nó hắt tỏa thứ ánh sáng kỳ ảo làm tôn lên vẻ đẹp của "chân quê" đang biến đổi trong sự tiếp xúc với đô thị hiện đại và niềm trăn trở của nhà thơ trong sự đổi thay đó. Trạng thái hoài nghi, tự phân thân trong các tứ thơ này chỉ có thể là tâm trạng của người thị dân hiện đại[3]. Đó cũng là tâm trạng của kẻ đã đánh mất sự hài hoà cổ điển để đạt tới cái "tôi" cô đơn tuyệt đích trong thế giới chiêm bao - mộng mị. Ở đó, nhân vật trữ tình thường chán nản với hiện tại ở nơi này và tìm mọi cách về với quá khứ ở nơi kia thông qua những giấc mộng. Thế giới mà con người ấy hướng về dường như mang đậm màu sắc cổ tích với đầy đủ các cung bậc: không gian mơ, thời gian mơ, cảnh vật mơ hồ và đặc biệt, con người là tâm điểm thẩm mỹ, chìm ngập trong giấc mơ ẩn chứa ước vọng xa xăm về tình yêu đất nước, tình yêu đôi lứa, về những cái đẹp còn dang dở v.v... Ước vọng đó cũng chính là sự phản quang lại nỗi niềm hoài cổ, sự nâng niu vẻ đẹp truyền thống dân tộc trong tâm hồn thi nhân.


Có thể nói, hệ thống hình ảnh: dòng sông, bến đò, con thuyền, sang ngang v.v… hiện diện trong thơ Nguyễn Bính với một tần suất lớn và có sức cuốn hút đầy ma lực. Sức hút ấy chính là dòng tâm tưởng. Xuyên suốt trong không gian đó, ta bắt gặp hình ảnh người lái đò cắm thuyền trên bến vắng và mơ lại giấc mơ xưa:  


Năm xưa chở chiếc thuyền này


Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều.


Giấc mơ được bắt đầu từ hình ảnh cây đay. Tiếp đó, người lái đò nghĩ đến chiếc võng, rồi từ chiếc võng, nghĩ đến giấc mộng vinh quy và quan trọng hơn, anh ta còn nghĩ đến giấc mơ hạnh phúc: Võng anh đi trước võng nàng. Cả hai chiếc võng cùng sang một đò. Nhưng rồi giấc mơ của anh không thành vì "người ấy" đã đi lấy chồng. Dư âm của "giấc mơ anh lái đò" chỉ còn lại:


... Giờ thuyền tôi chở đã đầy thuyền mơ 


... Buông sào cho nước sông trôi


Bãi đay thấp thoáng, tôi ngồi tôi mơ


(Giấc mơ anh lái đò)


Trạng thái mơ mộng của cô hái mơ trong bài Cô hái mơ lại mang một màu sắc khác với trạng thái mơ mộng của anh lái đò trong bài Giấc mơ anh lái đò.  Hình ảnh cô hái mơ chính là sự phân thân của tác giả trong một trạng thái mơ ảo và ở ngay trong thời điểm hiện tại. Nói cách khác, cô hái mơ kia cũng chính là người đi hái mơ mộng, là tác giả. Sự phân cách giữa chủ thể và khách thể, hiện tại và quá khứ dường như không còn ranh giới. Nỗi niềm giao cảm, đồng điệu trong hai tâm hồn đó chỉ hiện hữu thông qua hệ thống lời độc thoại nội tâm mà thôi. 


Thơ thẩn đường chiều một khách thơ


Say nhìn xa rặng núi xanh lơ


Khí trời lặng lẽ và trong trẻo


Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ


Người con gái hái mơ còn đó thì giấc mơ cũng còn. Khi cô đã khuất bóng thì giấc mơ ấy cũng tan biến trong hư vô mông lung. Tất cả những gì mà khách thơ nhìn thấy trong "thấp thoáng rừng mơ" chỉ là những ảo ảnh. Thi nhân giật mình bừng tỉnh, thoát khỏi cõi mộng để trở về thực tại hoang vắng: “Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi...” Cô hái mơ hay chính là phần hồn thi nhân đã tự rời bỏ thể xác để phiêu linh, thoát tục: “Chẳng trả lời nhau lấy một lời. Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng...”


Trong thế giới kỳ ảo của chuyện cổ tích, con người xa xưa thường gửi gắm những ước mơ của họ về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi; về khát vọng chinh phục tự nhiên, giàu sang, phú quý v.v… Độc đáo hơn nữa, "Thế giới kỳ ảo trong giấc mộng của các nhân vật cổ tích" cũng được người xưa coi như một phương tiện nghệ thuật để phản ánh ước mơ về một xã hội tốt đẹp hơn. Những mơ ước mà con người không thể thực hiện được trong hiện thực thì thông qua thế giới kỳ ảo khi ngủ, họ sẽ thực hiện được. Nguyễn Bính cũng vậy. Ông đã mượn yếu tố "mộng ảo" trong văn hóa dân gian làm "chất liệu" để phản ánh tâm trạng hoài cổ, thế giới mơ ước của ông nhưng cũng là của những lớp người cùng thời với ông. 


Có thể nói, tất cả những mộng đẹp, những ước nguyện thầm kín đều được thi nhân đưa về miền ký ức xa xôi. Thế giới của những giấc chiêm bao là nơi chỉ có một con người cô đơn có tên là Nguyễn Bính làm chúa tể. Vị chúa tể này đã tự cho mình được chiêm nghiệm trong đó cùng với trí tưởng tượng phong phú, kỳ diệu về vẻ đẹp của nền văn hoá cổ truyền, của cái Chân - Thiện - Mỹ dung dị. Như vậy, nguồn mạch dân gian trong tâm hồn thi sĩ "chân quê" được biểu hiện rõ nhất ở đây - ở thế giới của những giấc mộng cổ tích mang màu sắc hiện đại hoá.


Trạng thái mơ mộng ở Nguyễn Bính thường nhanh chóng chuyển thành chiêm bao hay "giấc mơ giữa ban ngày" không chỉ ở cung bậc vô thức mà còn ở cả trong hữu thức. Xuất hiện với tần suất lớn trong những giấc mơ thế này thường là biểu tượng "cánh bướm":


Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng


Có con bướm trắng thường sang bên này


Ở đây, nhân vật trữ tình đi vào xứ sở của loài Bướm là đến với mộng ước của yêu đương. Bởi vì, "Bướm là hình ảnh tượng trưng cho hạnh phúc vợ chồng, cho sự hồi sinh". Cánh bướm còn là biểu tượng của những giấc mơ. Nó nhẹ nhàng, thấp thoáng, hư thực. Nguyễn Bính không còn đơn côi nữa mà dường như thể xác ấy đã phân thân làm hai phần: lúc thì hoá Bướm, lúc thì hoá thân thành một "chàng", một khách thơ nào đó, lúc lại là chính bản thân mình… Sự hoá thân này đã được Nguyễn Bính vận dụng một cách sáng tạo thông qua thủ pháp "lạ hoá". 


Thông qua việc sử dụng yếu tố "mộng ảo" và đặc biệt là biểu tượng "cánh bướm", Nguyễn Bính đã phá vỡ khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, giữa  thực và mơ, giữa có thể và không thể, giữa sự sống và cái chết, giữa chàng và nàng. Mối dây nối liền hai người chính là "cánh bướm": “Hỡi ơi bướm trắng tơ vàng. Mau về mà chịu tang nàng đi thôi”. Không chỉ khi chia ly tử biệt thì nhân vật trữ tình mới mộng hoá Bướm mà ngay cả khi người yêu đi lấy chồng, "tôi" cũng đã tưởng tượng rằng mình là Bướm - chàng. Cánh bướm - chàng ấy suốt ngày quấn quýt bên cánh bướm - nàng:


Em đã sang ngang với một người


Anh còn trồng cải nữa hay thôi?


Đêm qua mơ thấy hai con bướm


Khép cánh tình chung ở giữa trời.


(Hết bướm vàng)


Giấc mơ của nhà thơ vốn được mệnh danh là "ca sĩ của đồng quê" trong phong trào Thơ mới hoàn toàn trùng lặp với giấc mơ của nhân vật truyện cổ tích là Chu Sinh trong Nợ duyên trong mộng[4]: Cả Nguyễn Bính và Chu Sinh đều đi vào thế giới Tiên Hoa kỳ ảo, lung linh, rực rỡ trong mộng. Cả hai đã thực hiện được những ước vọng mà người xưa ngàn đời gửi gắm: thi đỗ làm quan, lấy vợ đẹp, sống một cuộc đời hạnh phúc, giàu sang trong hình hài của loài Bướm. Như vậy, đám cưới Bướm này là sự hồi cố đẹp nhất, huy hoàng nhất của Nguyễn Bính hay chính là của người nhà quê trên hành trình đến với đô thị hiện đại như sau này ông viết trong Thơ xuân:


Từng gã thư sinh biếng chải đầu


Một mình mơ ước chuyện mai sau


Lên kinh thi đỗ làm quan Trạng


Công chúa cài trâm thả tú cầu


Thế giới Tiên Bướm, thế giới kỳ ảo trong mộng bao giờ cũng đẹp nhưng dù sao nó cũng chỉ là sự phản quang lại những mơ ước trong trí tưởng tượng của con người mà thôi. Thế giới thực tại mới là tâm điểm của sự sống với bao bộn bề lo toan, vất vả, đa đoan. Một tâm hồn nhạy cảm, luôn thiết tha với vẻ đẹp truyền thống; luôn đắm chìm trong bầu khí quyển của mộng và mơ như Nguyễn Bính vẫn đủ sức thoát ra và khi đã thoát ra được rồi thì sự cô đơn, lạc lõng lại dường như tăng lên gấp bội. 


Càng trốn chạy thực tại, càng núp mình trong vỏ bọc của quá khứ thì dường như con người - thi nhân càng bị guồng quay của bánh xe đô thị "tân kỳ" xiết chặt, không thể vùng vẫy được nữa. Ông chưa chuẩn bị tâm thế để đón nhận nó. Cố níu kéo thế giới mơ ước, dù phải cả: Chuốc mãi men say rượu ái tình nhưng Nguyễn Bính cũng không thể nắm được xứ sở: Hoa thơm mơ mãi vườn tiên giới trong tầm tay. Bởi vậy, khi Hết bướm vàng, con người - thi nhân ấy đành phải trở về thực tại, với buồn khổ và cô đơn đã trở nên đông cứng:


Thế là tàn cả giấc mơ


Thế là cả một bài thơ não nùng


(Lỡ bước sang ngang)


Ước vọng thì đẹp nhưng khi vỡ mộng thì sự chán chường, mệt mỏi của con người càng lớn. Nguyễn Bính biết vậy nhưng cũng đành phải chấp nhận. Chính thi nhân chứ không phải ai khác đã dự cảm được sự việc đó cho dù là rất muộn màng. Cái gì đến, tất yếu sẽ đến và con người chỉ biết xót xa, tiếc nuối mà không thể cải tạo được thực tại:


Lá sen vương vấn hương sen ngát


Ấp ủ hai ta chút nhuỵ hờ


Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc


Theo về tận cửa mới tan mơ


... Mà đến hôm nay anh mới biết


Tình ta như chuyện bướm xưa thôi


                                                (Trường huyện)


Lúc này, nhân vật "tôi" nhưng cũng chính là Nguyễn Bính không chỉ tồn tại dưới dạng thức chiêm bao nữa mà ông như rơi hẳn vào trạng thái mê sảng. Thi nhân vẫn ý thức được bản thân, cảm nhận được sự hiện hữu mong manh của tình yêu, của anh và em trong Hoa với Rượu:


... Chao ơi! Là mộng hay là thực?


Là thực hay là mộng bấy lâu?


Hai đứa sống bằng hoa với rượu


Sống vào giời đất, sống cho nhau


Nhưng mộng mà thôi, mộng mất thôi


Giấc mơ qua rồi, đối diện với thi nhân lúc này lại là thực tại đầy trớ trêu, cay đắng. Nguyễn Bính chỉ còn sức cất lên lời thở than chua xót:


... Hoa tàn rượu ế ấy tình tôi


Chiều nay tôi chắp đôi tay lại:


"Đừng gặp người xưa nữa, lạy giời"


Ông mong muốn quên đi thực tại; quên đi cảm giác lạc loài, bơ vơ và âu lo được định danh là "sầu đô thị" để về với "chân quê" bình lặng. Vì thế, thời gian lúc này không chỉ là một chuỗi các sự kiện nối tiếp nhau mà còn là sự đổi thay trong bản thân mỗi sự kiện:


Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang


Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng


Sáng nay sực tỉnh sầu đô thị...


Tôi lại về đây rất vội vàng 


(Sao chẳng về đây?) 


Coi thế giới mộng ảo như một phương tiện nghệ thuật để truyền tải quan niệm thẩm mỹ về hiện thực, con người, Nguyễn Bính muốn níu kéo cái quê hương đang dần dần mai một. Sâu sa hơn, thi nhân muốn tìm lại vẻ đẹp của hồn quê dân tộc đang biến đổi trong sự tiếp xúc với đô thị hiện đại. Nguyễn Bính giang hồ, mơ mộng là để khoả lấp cái "sầu đô thị"..., cũng là để tìm lại bóng dáng quê hương. Nguyễn Bính là kẻ đi về giữa hai bờ nông thôn và thành thị, Đông và Tây, hiện tại và quá khứ trên khúc sông của buổi giao thời. Bi kịch của Nguyễn Bính chính là ở chỗ đó. Níu kéo vẻ đẹp quá khứ thì không đủ sức, quay về với thực tại thì lạc lõng, bơ vơ, Nguyễn Bính muốn say, muốn quên đi tất cả nhưng không được, càng cố quên thì nỗi niềm hoài cổ, cô đơn càng sâu đậm. 


Nguyễn Bính là một nhà thơ lãng mạn tài trong phong trào Thơ mới nhưng yếu tố làm nên cái độc đáo trong thơ ông lại là chất dân gian. Có thể nói, chất dân gian ấy đã trở thành máu thịt, nuôi dưỡng nguồn mạch thi ca của Nguyễn Bính. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc yếu tố văn hoá dân gian mà cụ thể là biểu tượng giấc mộng, cánh bướm, thi nhân đã dựng nên cả một thế giới chiêm bao - mộng mị. Nguyễn Bính luôn gắn bó thiết tha và không ngừng đi tìm lại vẻ đẹp của "hồn thiêng sông núi”.


NTD.


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018. 


www.trieuxuan.info






[1] Nguyễn Đức Hạnh: “Thử tìm hiểu tiêu chí cơ bản để xác định ảnh hưởng của thơ ca dân gian đến thơ ca thành văn hiện đại”, Tạp chí Văn học, số 8/ 2002.




[2] Xem Jean Chevalier, Alain Gheerbrant: Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới. Nxb. Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 1998.




[3] Đỗ Lai Thuý: Con mắt thơ (Phê bình phong cách Thơ mới). Nxb. Giáo dục, 1997. 




[4] Nguyễn Đổng Chi: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1. Nxb. Khoa học xã hội, 1958.





 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »