tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
11.08.2018
Nguyễn Thành Thi
Các kiểu giọng trữ tình trong thơ Nguyễn Bính trước 1945


Qua thực tế sáng tác thơ của Nguyễn Bính qua các tập thơ trước 1945[1], dường như rất dễ dàng tìm thấy nhiều bài thơ của ông sử dụng giọng của chính nhà thơ để, hoặc là nói với chính mình (hay chẳng nói với ai cả), hoặc là nói với người khác - thường là những người rất thân thiết hoặc cùng hội cùng thuyền (cùng là khách giang hồ) với ông. Khảo sát các tập thơ của ông trước 1945, thấy, Nguyễn Bính chủ yếu làm thơ kiểu (thơ) phi-kịch (non-dramatic) và (thơ) giả-kịch (quasi-dramatic) và hầu như không làm kịch thơ hay thơ kịch (dramatic)[2].


Tuy vậy, với Nguyễn Bính, việc mô phỏng (hư cấu) giọng của nhân vật nam hay mô phỏng giọng của nhân vật nữ luôn là kết quả của sự lựa chọn đầy ý nghĩa, nhằm thực hiện những ý đồ giao tiếp rất Nguyễn Bính.


Tổng hợp lại, có thể phân chia cách lựa chọn, sử dụng các kiểu giọng trong các bài thơ của Nguyễn Bính thành ba kiểu giọng với 4 nhóm chính.


Vấn đề đặt ra ở đây là nhận diện và đánh giá ý nghĩa của của việc lựa chọn và sử dụng giọng trong thơ Nguyễn Bính như thế nào.


1. Trước hết, nhận diện và đánh giá việc lựa chọn và sử dụng giọng nói trực tiếp của nhà thơ trong các bài thơ của Nguyễn Bính.


Khi tác giả giao tiếp bằng giọng nói trực tiếp của nhà thơ, có hai trường hợp xảy ra: nhà thơ nói với chính mình và nhà thơ nói với người khác. Xét trường hợp thứ nhất. Nhìn từ văn bản bài thơ, khi nhà thơ “nói với chính mình” hay “chẳng nói với ai cả” là lúc văn bản chỉ hiện hữu hình ảnh tác giả cùng với cái “tôi” trữ tình qua giọng nói của nhà thơ. Ở đây, nhà thơ xuất hiện trong vai trò vừa là người mang điểm nhìn trữ tình, vừa là người duy nhất đảm nhiệm việc phát ngôn trong giao tiếp thi ca. Về phía người đọc, nghe giọng nói của chính nhà thơ là một hình thức giao tiếp trực tiếp với tác giả mà các hình thức giao tiếp gián tiếp không mang lại được. Ở đây, quan niệm, cảm xúc của nhà thơ là đối tượng trực tiếp cần được chia sẻ.


Khi nhà thơ nói với người khác trong bài thơ bằng giọng của mình cũng vậy. Trong văn bản cũng chỉ hiện hữu hình ảnh tác giả cùng với cái tôi trữ tình qua giọng nói của ông. Chỉ khác rằng, hình ảnh người nghe, đối tượng giao tiếp của nhà thơ hiện hữu trên văn bản. Khi đọc thơ, người đọc tiếp xúc trọn vẹn và trực tiếp với cuộc giao tiếp với những câu chuyện rất riêng tư này của nhà thơ. Khá nhiều bài thơ được Nguyễn Bính viết dưới dạng bức thư là tiêu biểu cho trường hợp này:  người nói và người nghe luôn hiện rõ cũng có mặt trên văn bản. Chẳng hạn, với Thơ gửi thầy mẹ, người nói là nhà thơ xưng “con”, người nghe là “thầy mẹ”; với các bài thơ có nhan đề “Thư có chị” hay phụ đề “gửi chị Trúc”, người nói là nhà thơ xưng “em”, người nghe là “chị Trúc” (Thư cho chị, Xuân vẫn tha hương, Xây hồ bán nguyệt,…). Những bài thơ này thực chất là những bức thư (bằng thơ) - những trang thơ buồn và đẫm nước mắt. Nhân vật trữ tình - nhà thơ ở đây hiện lên với bao nỗi niềm thương nhớ, xót xa, tiếc nuối day dứt của kẻ tha hương. Kiểu giọng này chiếm tỉ lệ cao và là giọng chủ đạo trong thơ Nguyễn Bính trước 1945.


Xem các dạng sơ đồ hóa và bảng tổng hợp hai kiểu giọng dưới đây (bảng 2), sẽ thấy rõ hơn tính xác thực của nhận định này.


Dựa vào mô hình hoạt động giao tiếp của Roman  Osipovich Jakobson, có thể sơ đồ hóa hai kiểu giọng của nhà thơ trong thơ của Nguyễn Bính như sau (nhân tố VĂN BẢN ở vị trí trung tâm được cụ thể hóa, chữ in đậm trong sơ đồ):


(1) Kiểu giọng nhà thơ nói với chính mình (kiểu giọng 1.):


                                                           


BỐI CẢNH


NHÀ THƠ  -----------  Nhà thơ (nói với) Chính mình --------- ĐỘC GIẢ


                                                TIẾP XÚC


MÃ


(2) Kiểu giọng nhà thơ nói với người khác (kiểu giọng 2.):


                                                BỐI CẢNH


NHÀ THƠ  -----------  Nhà thơ (nói với) Người khác --------- ĐỘC GIẢ


                                                TIẾP XÚC


MÃ


Trên cơ sở đó, có thể tổng hợp biểu hiện cụ thể của các kiểu giọng (1) và (2) như sau:


Bảng 2. Các kiểu giọng trữ tình mà chủ thể giọng nói là nhà thơ trong thơ Nguyễn Bính 
























Kiểu giọng



Ví dụ: một số bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Bính



Người nói



Người nghe



Kiểu giọng (1):


Nhà thơ nói với chính mình (hoặc chẳng nói với ai cả)


 



Đêm Phúc Am, Hoa với rượu, Mười hai bến nước, Nhà cô thôn nữ, Ái khanh hành, Bài Hành Phương Nam;


Những bóng người trên sân ga, Xóm Ngự Viên, Mười hai bến nước, Quan trạng, Xuân về, Gái xuân; v.v.



Nhà thơ (xưng “tôi” hoặc không)


Nhà thơ    (xưng “tôi” hoặc không) 


 



Nhà thơ     


                 Hoặc: chẳng ai cả



2.Kiểu giọng (2):


Nhà thơ nói với người khác



- Thơ gửi thầy mẹ, Thư cho chị,  Xuân vẫn tha hương, Xây hồ bán nguyệt


- Cô hái mơ, Một trời quan tái,…


- Anh về quê cũ, Chú rể là anh,  Cánh buồm nâu,…- v.v.



Nhà thơ (xưng “con”, “em” “ta”, “tôi”)


 



-“thầy mẹ” “chị Trúc”,  - “cô”, “em”


- “anh”- bạn giang hồ



Khi khảo sát các bài thơ thuộc hai nhóm trong bảng trên, chúng tôi có mấy kết luận như sau về cách nhận diện và ý nghĩa giao tiếp của mỗi kiểu giọng.


Căn cứ để xác định việc Nguyễn Bính sử dụng kiểu giọng thứ nhất trong bài thơ - nhà thơ nói với mình hoặc chẳng nói với ai cả - là: 1) khi văn bản bài thơ xuất hiện chủ thể trữ tình xưng “tôi” mà không cho thấy sự hiện hữu của nhân vật người nghe, người nhận (Ví dụ: Những bóng người trên sân ga); 2) khi văn bản bài thơ không hề hiện hữu cả hai nhân vật người nói lẫn người nghe (Ví dụ: Xuân về).


Đối với việc xác định kiểu giọng thứ hai - nhà thơ nói với người khác - rất đơn giản, vì dấu hiệu nhận diện rất rõ: 1) văn bản bài thơ thường xuất hiện cùng lúc hai nhân vật - người nói và người nghe - trong đó người nói phải là tác giả; 2) văn bản có những dấu vết tiểu sử của nhà thơ Nguyễn Bính - một chàng bạch diện thư sinh, từng theo học chữ Nho, một khách giang hồ bất đắc dĩ với bao nỗi quan hoài, những chuyến đi và không gian giang hồ vặt,... (Một trời quan tái, Thư gửi chị). Ở bài Thơ gửi thầy mẹ, như nói trên, nhân vật người nói chính là nhà thơ, người xưng “con”, nhân vật người nghe - nhận “thơ” là “thầy mẹ” của nhà thơ, rất tiêu biểu cho trường hợp thứ nhất: “Ai về làng cũ hôm nay,/ Thư này đưa hộ cho thầy mẹ tôi./ Con đi mười mấy năm trời,/ Một thân, một bóng, nửa đời gió sương./ Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương,/ Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi!/ Thầy mẹ ơi, thầy mẹ ơi,/ Tiếc công thầy mẹ đẻ người con hư!/ Con đi năm ấy tháng tư,/ Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba./ Con đi quạnh cửa quạnh nhà,/ Cha già đập lúa, mẹ già giữ rơm./ Cha giậm gạo, mẹ thổi cơm,/ Có con, con vắng, ai làm thay cho./ Con dan díu nợ giang hồ,/ Một mai những tưởng cơ đồ làm nên./ Ai ngờ ngày tháng lưu niên,/ Đã không gọi chút báo đền dưỡng sinh./ Lại mang ân ái vào mình,/ Cái yêu làm tội làm tình cái thân./ Bó tay như kẻ hàng thần,/ Chán chường như lũ tàn quân lìa thành”.


Bài Một trời quan tái tiêu biểu cho trường hợp thứ hai. Trong bài thơ này, người nói - nhà thơ, xưng “tôi”, người nghe là “em” ở nơi xa cách ngàn trùng. Người đọc có thể nhận thấy “dấu vết” tiểu sử của Nguyễn Bính trong văn bản bài thơ nói bằng kiểu giọng này (bài thơ là hình ảnh, tâm trạng của một khách giang hồ, hơn nữa, lời tự xưng “tôi là thi sĩ của thương yêu”,…): “Châu ngọc làm sao hái được nhiều,/ Tôi là thi sĩ của thương yêu,/Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng?/ Với những mâm cau phủ lụa điều?/ Chiều nay... thương nhớ nhất chiều nay /Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy./ Tôi uống cả em và uống cả/ Một trời quan tái, mấy cho say!” (Một trời quan tái)


Cũng có lúc người nói là tác giả muốn ẩn mình đi, nhưng  người đọc vẫn nhận ra bài thơ nói bằng giọng của nhà thơ (qua tâm sự, tâm thế, bối cảnh, một vài chi tiết liên quan đến tiểu sử tác giả,…). Đó là trường hợp các bài: Cô hái mơ, Anh về quê cũ, Chú rể là anh,… Chẳng hạn, trong bài Anh về quê cũ hay Chú rể là anh, người đọc nhận ra dáng dấp của Nguyễn Bính qua cảm xúc của một khách giang hồ bất đắc dĩ, không nguôi nhớ làng quê của mình. Trong bài Cô hái mơ, nhà thơ lại muốn ẩn mình trong cách xưng gọi theo lối mơ hồ hóa, mọi đường nét trở nên hư ảo như trong một giấc mộng đào nguyên. Người nói ở đây là “một khách thơ” (khổ 1), “ta” (khổ 2,3); người nghe là: “cô hái mơ” (khổ 1, khổ 4), “cô con gái hái mơ già” (khổ 2):


Thơ thẩn đường chiều một khách thơ
Say nhìn xa rặng núi xanh lơ
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo
Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ

Hỡi cô con gái hái mơ già
Cô chửa về ư? Đường thì xa
Mà cái thoi ngày như sắp tắt
Hay cô ở lại về cùng ta?

Nhà ta ở dưới gốc cây dương
Cách động Hương Sơn nửa dặm đường
Có suối nước trong tuôn róc rách
Có hoa bên suối ngát đưa hương

Cô hái mơ ơi!
Chả giả lời nhau lấy một lời
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng
Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi...


Thơ Nguyễn Bính trước 1945, dù viết về tình yêu, về nỗi niềm của nam nữ thôn dân hay viết về tâm sự của một chàng trai lang thang trên những miền đất lạ, thì âm hưởng nổi bật và bao trùm trước sau vẫn là nỗi bi thương: nỗi bi thương của con người mộng mơ, mê mải kiếm tìm hạnh phúc mà không thấy đâu; nỗi bi thương của người khách giang hồ ôm mộng lớn, nhưng càng đi càng vỡ mộng; càng xa quê, càng nhớ thương, thăm thẳm nỗi quan hoài. Tất cả những nỗi niềm này cần và đã được biểu đạt một cách sâu sắc bằng chính tiếng nói của nhà thơ. Đơn giản bởi vì tiếng nói của nhà thơ là tiếng nói của người trải nghiệm , thấu cảm, và có khả năng biểu đạt những trải nghiệm này một cách đa dạng, sinh động nhất.


Có nhiều cung bậc cảm xúc phức tạp, nhà thơ phải nói đúng giọng của mình mới đủ rõ và thấm thía. Chẳng hạn: để tả đúng cái cô đơn, trống vắng của tâm hồn trong cung đàn tỳ bà vẳng trên sông lạnh, nhà thơ đã để cho lòng mình lên tiếng cầu xin, nài nỉ người đàn: “Khoan đàn, em hãy gắng say,/ Một đêm, chỉ một đêm nay thôi mà./ Chúng tôi người bến sông xa,/ Giang hồ một chuyến về qua xứ này,/ Phiền em dăm bảy đường tay,/ Một con sông lạnh, vài giây tơ tằm.” Hoặc: “Chén sầu đổ ướt trường giang,/ Canh gà bên nớ giằng sang bên này./ Lạy giời, đừng sáng đêm nay,/ Đò quên cập bến, tôi say suốt đời,/ Chiêu Quân lên ngựa mất rồi...” (Một con sông lạnh).


Một tình huống khác: khi chàng thi sĩ giang hồ muốn kêu to lên một tiếng, muốn tự mình thương khóc với mình, thi sĩ buộc phải nói đúng cái giọng của nhà thơ, không thể mượn giọng người khác: “Hỡi ơi! Trời đất vô cùng rộng/ Nào biết tìm đâu một mái nhà?/Có như mắt Tịch xanh mà uổng/ Đất khách cùng đường ta khóc ta!/ Mưa mãi, mưa hoài, mưa bứt rứt/ Đêm dài dằng dặc, đêm bao la...” (Đêm mưa đất khách).


Trong truyện kể, khi người kể chuyện “đứng bên ngoài” câu chuyện, anh ta mang chứa một điểm nhìn “toàn tri”. Trong thơ trữ tình cũng vậy, khi nhà thơ nói bằng tiếng nói của mình, nhà thơ cũng sở hữu một điểm nhìn “toàn tri”. Nhưng khác ở chỗ, “người kể chuyện toàn tri”, tuy do tác giả tạo ra nhưng giữa anh ta với tác giả luôn có khoảng cách, không phải là một; còn chủ thể trữ tình là nhà thơ trong thơ, khi nói bằng tiếng nói của nhà thơ, thì nhà thơ với chủ thể trữ tình ấy, lại chỉ là một. Đó là tiếng nói của chủ thể thi sĩ trong tư cách cá nhân. Nguyễn Bính đã khai thác tối đa những giọng nói như thế trong thơ trữ tình của ông.


Nhưng còn bao nhiêu cảnh huống và tình ý khác, nhà thơ cần mượn giọng của người trong cuộc, để họ tự nói lên tâm sự, tình cảnh của mình. Trong những trường hợp này, Nguyễn Bính thường sử dụng phổ biến một trong hai khả năng mượn giọng: hoặc mượn giọng của nhân vật anh trai làng, hoặc mượn giọng của người thôn nữ.


Dựa vào mô hình hoạt động giao tiếp của nhà ngôn ngữ học Roman  Osipovich Jakobson, có thể sơ đồ hóa hai kiểu giọng phỏng mượn của Nguyễn Bính như sau (nhân tố VĂN BẢN ở vị trí trung tâm được cụ thể hóa, chữ in đậm trong sơ đồ):


(3) Sơ đồ “mượn giọng” của nhân vật nam (“anh trai làng”), kiểu giọng 3.a.:


BỐI CẢNH


NHÀ THƠ  ------- Anh trai làng (nói với) Người mà anh yêu ----- ĐỘC GIẢ


TIẾP XÚC


MÃ


4) Sơ đồ “mượn giọng” của nhân vật nữ (người thôn nữ), kiểu giọng 3.b.:


BỐI CẢNH


NHÀ THƠ --- Người thôn nữ (nói với) Người thân/người yêu--- ĐỘC GIẢ


TIẾP XÚC


MÃ


Trong hai sơ đồ này, giao tiếp thi ca diễn ra ở hai tầng bậc: giao tiếp giữa nhà thơ với độc giả là giao tiếp thông qua một cuộc giao tiếp hiện hữu trên bề mặt của văn bản: giao tiếp giữa các nhân vật hư cấu; nhà thơ không nói bằng giọng của mình mà bằng các giọng phỏng mượn của nhân vật.


2. Người đọc dễ dàng lắng nghe hai kiểu giọng nhà thơ phỏng mượn của nhân vật nam, hoặc nhân vật nữ chốn làng quê trong rất nhiều bài thơ của ông. (Xem bảng tổng hợp số 3 dưới đây với lần lượt các kiểu giọng 3.a và 3.b)


Bảng 3. Các kiểu giọng trữ tình nhà thơ mượn của chủ thể (nhân vật) do mình hư cấu nên trong thơ Nguyễn Bính


 





















Kiểu giọng



Ví dụ: một số bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Bính



Người nói-người nghe



3. Kiểu giọng (3.a):


Giọng nhà thơ mượn của nhân vật nam hư cấu nói với một nhân vật hư cấu khác



Tương tư


Chân quê


Người hàng xóm


Truyện cổ tích


Tình tôi


Vu quy


Giấc mơ anh lái đò


Qua nhà


Tiền và lá


 



“tôi” - “nàng”


“tôi” - “em”


“tôi” - “nàng”


“anh” - “em”


“tôi” - “cô”


“tôi” - “nàng”


“tôi” - “cô”


“tôi” - “cô”


“tôi” - “em”


 



4. Kiểu giọng (3.b):


Giọng nhà thơ mượn của nhân vật nữ hư cấu nói với một nhân vật hư cấu khác



- Mưa xuân


- Chờ nhau


- Nhớ


- Thời trước


- Lỡ bước sang ngang


- Tỳ Bà truyện (truyện thơ)



“em” - “anh” (/“mẹ”)


“em” - “anh”


“em” - “anh”


“em” - “anh”


“chị” - “em”


“thiếp”- “chàng”


 



Câu hỏi được đặt ra ở đây là: tại sao nhà thơ phải mượn giọng của nhân vật do mình hư cấu nên như thế? Khi mượn giọng thì có phải tuân thủ nguyên tắc nào không? Câu trả lời dĩ nhiên tùy thuộc ở góc nhìn. Nhà thơ, dù tài hoa, lịch lãm, đến đâu cũng không thể biết hết mọi chuyện, không thể (và không nên) nói thay câu chuyện, cảm xúc sâu kín riêng tư của mỗi giới, của mỗi người. Mỗi kiểu giọng mượn của nhân vật như thế, mang lại cho nhà thơ thêm một phương tiện biểu đạt hiệu quả những cảm xúc sâu kín, riêng tư của người trong cuộc. Đó là lí do. Còn nguyên tắc? Nếu xem xét hiện tượng từ góc nhìn giao tiếp thi ca, thì giọng nói của một người, bao giờ cũng liên quan đến điểm nhìn, đến quan niệm sống và trải nghiệm cá nhân - những thứ làm nên cách suy nghĩ nói năng của nhân vật đó. Mượn tiếng, mượn giọng của ai đó tức là phải nói năng theo đúng cách nghĩ, cách nhìn, cách nói của nhân vật đó. Tuy nhiên, nhà thơ Nguyễn Bính là nam nhân, lại mượn giọng một nam nhân thì có nghĩa lí gì đáng kể? Phân biệt thế nào?


Trường hợp nhà thơ mượn giọng của nhân vật nam hư cấu (kiểu giọng 3.a) phân biệt với trường hợp nhà thơ nói bằng giọng của mình, (kiểu giọng 1 và 2) ở chỗ: 1) Chủ thể nói ở đây hiện lên là chàng trai mang cốt cách quê mùa, sống gắn bó với những chuyện buồn vui nơi làng quê truyền thống của mình, một không gian làng quê thay đổi theo mùa rất đặc trưng qua cảm nhận của những “người nhà quê” thực thụ; 2) Chủ thể nói ở đây mang điểm nhìn của một “anh trai làng”, không mang dấu vết tiểu sử nào của nhà thơ Nguyễn Bính (một Nguyễn Bính thư sinh, một “khách giang hồ” bất đắc dĩ với những chuyến đi và không gian giang hồ vặt... trong thời trai trẻ của ông). Bảng tổng hợp kiểu giọng 3.a trên đây, tuy chỉ mới liệt kê một số bài thơ tiêu biểu, đã cho thấy điều đó.


Việc nhà thơ mượn giọng, mượn điểm nhìn của nhân vật “anh trai làng” nói với “cô gái quê”, có thể không có được cái đa sầu đa cảm, sâu sắc, triết lí theo lối trí thức nghệ sĩ mà kiểu giọng của nhà thơ có thể mang lại, song, theo cách này, lại có được cái nhìn rất thực tiễn, tươi tắn của người trong cuộc, cái chất giọng thô mộc, chân chất cần cho câu chuyện tâm tình của các nhân vật. Nói cách khác, trong những trường hợp này, dường như chỉ có tiếng nói (và cách nói) của “anh trai làng” nói với “cô gái quê” thì những lời giãi bày kiểu Tương tư, Chân quê, Người hàng xóm, Qua nhà,… với bao tâm sự buồn vui thương nhớ hờn trách về chuyện làng xóm, chuyện duyên tình riêng tư,… mới thật và thiết tha, xao xuyến đến như thế. Cũng như vậy, phải bằng giọng nói ấy thì những mộng đẹp kiểu Truyện cổ tích mới vui tươi, hóm hỉnh nhẹ nhàng như thế; và, những lời hờn trách kiểu  Tình tôi, Giấc mơ anh lái đò, Vu quy, Tiền và lá,… mới riết róng, chua chát đến thế. Thử lắng nghe và nghĩ xem, câu chuyện sau đây nếu không phải do chính “anh lái đò” bất đắc dĩ bộc bạch thì nhà thơ - một người ngoài cuộc - liệu có thể biểu đạt thấm thía hơn không: “Năm xưa chở chiếc thuyền này,/ Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều./ Để tôi mơ mãi, mơ nhiều:/ “Tước đay se võng nhuộm điều ta đi./ Tưng bừng vua mở khoa thi,/ Tôi đỗ quan trạng, vinh quy về làng./Võng anh đi trước võng nàng.../ Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.”/ Đồn rằng đám cưới cô to,/ Nhà trai thuê chín chiếc đò đón dâu./ Nhà gái ăn chín nghìn cau,/ Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn...” (Giấc mơ anh lái đò).


Cái cách mượn lời, mượn giọng như thế, thực ra, nhà thơ xưa đã đôi khi cũng sử dụng rồi và họ và gọi là lối nói “thác lời”. (Viết “Thác lời trai phường nón”, Nguyễn Du chẳng đã từng sử dụng đúng lối nói này sao?). Nhưng riêng với các nhà Thơ mới, nhất là với Nguyễn Bính, việc thác lời, mượn lời trong thơ trữ tình đã thành một phương tiện trữ tình phổ biến, một thủ pháp hiệu quả, và được sử dụng khá thường xuyên trong thơ mình. Ở đây, “giọng” gắn với chủ thể, với điểm nhìn của chủ thể, với đối tượng giao tiếp nói năng của chủ thể, nên đã mang chứa một sức biểu đạt riêng, khó thay thế.


Bên cạnh lối trữ tình mượn giọng của nhân vật nam, Nguyễn Bính còn thường trữ tình theo lối mượn giọng nữ. Đây là kiểu giọng (3.b.) -  nhà thơ “mượn giọng” của nhân vật nữ hư cấu -  một kiểu giọng trữ tình độc đáo, mang nhiều giá trị trong thơ Nguyễn Bính. Kiểu giọng này trong thơ ông khá phổ biến và cũng dễ nhận diện: Bài thơ là lời của một nhân vật nữ hư cấu nói với một nhân vật hư cấu khác, đôi khi là nữ, nhưng thường là nam.


Nếu như việc hư cấu giọng nam - giọng của một anh trai làng nào đó - đã  mang lại cho văn bản bài thơ một kiểu giao tiếp ý vị, thì việc hư cấu giọng của nhân vật cô thôn nữ còn ý vị, đặc sắc hơn nhiều. Cái giọng ấy khi cất lên trong thơ, còn được xem là mang một ý nghĩa biến đổi văn hóa sâu xa. Đây là trường hợp mà Trần Nho Thìn gọi là “hiện tượng nhà thơ nam hư cấu giọng nữ” trong bối cảnh mà người phụ nữ Việt Nam cho đến thời Nguyễn Bính, vẫn là mẫu “người phụ nữ im lặng”[3].


Tuy nhiên, trở lại với góc nhìn giao tiếp: khi nhân vật nữ được miêu tả trong tư cách chủ thể giao tiếp, chủ thể phát ngôn, thì cũng chính là lúc nhà thơ cố gắng tạo ra một cái nhìn, gần với cái nhìn thế giới qua con mắt nữ: ít ra là nó mang lại một cảm giác như thế. Không bằng lòng với việc nói thay, nói góp cho người thôn nữ, nhà thơ muốn nhường hẳn lời cho vác nhân vật nữ chia sẻ với người thân hay tâm tình với các chàng trai - những anh chàng thường lỗi hẹn, dễ phụ lòng mong đợi của các cô bằng giọng nói của chính mình - bằng giọng nói giả nữ giới. Không rõ Nguyễn Bính hồi ấy có ý thức về nữ quyền không, nhưng thơ ông thì rõ ràng là có yếu tố nữ quyền, âm hưởng nữ quyền.


Tuy nhiên, nhân vật nữ trong thơ Nguyễn Bính không phải là một người phụ nữ chung chung chung mơ hồ. Họ là những cô gái, những người mẹ, người dì, người vợ cụ thể, như bằng xương bằng thịt, trong từng tình huống trải nghiệm, thấu cảm cụ thể của nhà thơ. Vì thế kiểu giọng của nhân vật nữ hư cấu ở đây được nhân lên bằng rất nhiều biến thể. Cũng là giọng thôn nữ đang tuổi yêu đương, nhưng giọng cô gái trong Nhớ khác cô gái trong Mưa xuân hay cô gái trong Chờ nhau; cũng là giọng người nữ từng trải dặn dò con cháu vào cái ngày con cháu đi lấy chồng, nhưng giọng của bà mẹ trong Người mẹ khác giọng của bà dì trong Giọt nến hồng. Và, cùng giãi bày nỗi bất hạnh của mình bằng giọng “đàn bà”, nhưng giọng của người chị dặn em trong Lỡ bước sang ngang khác rất nhiều với giọng của người vợ nói với anh chồng phụ rẫy mình bằng tiếng hát trong Tỳ bà truyện. Bởi, mỗi nhân vật cụ thể có một đời sống, một cảnh ngộ, một nỗi niềm riêng.


Khi vào vai anh trai làng, Nguyễn Bính hẳn không gặp thách thức gì nhiều. Nhưng khi vào vai thôn nữ, thách thức đối với nhà thơ chắc phải nhiều hơn. Thế mà, Nguyễn Bính đã làm được điều kì diệu trong thơ ông. Thơ của chàng thi sĩ trẻ - không hiểu bằng tưởng tượng hay nhờ trải nghiệm mà - bỗng thành, y như thật, một “lời mẹ dỗ con gái trong buồng, trước khi nhà trai đến đón dâu” (Người mẹ), một “lời người dì thủ thỉ dặn dò cháu gái trong đêm tân hôn” (Giọt nến hồng)…, và cả lời của những cô gái quê, mạnh bạo bày tỏ nỗi nhớ người yêu (Nhớ), an ủi, nhắc khéo người yêu tìm giờ khắc gặp nhau sao cho tránh được những lời dị nghị của thôn dân (Chờ nhau).


Trong những giọng nói của nhân vật nữ hư cấu ấy, biết bao cảm thông, thương mến là giọng e lệ kín đáo, nhưng không kém phần thiết tha, buồn tiếc của cô gái “bên khung cửi” bị người yêu lỗi hẹn trong hội chèo đêm xuân. Lỗi hẹn, đành quay về dưới mưa xuân, không chỉ thiếu nữ cảm thấy lạnh, thấy nhớ, mà cả “giường cửi” cũng thấy “lạnh” và cả “thoi ngà” đơn độc, “nhớ tay em”. Những “người phụ nữ im lặng” hàng ngàn năm trong văn học, phải qua việc “mượn lời” trong các bài “khuê oán”, các “khúc ngâm” của nam nhân mới có dịp được lên tiếng. Nay, các cô, các chị, các bà lại có dịp cất tiếng nói trong thơ Nguyễn Bính thời Thơ mới. Trong số họ, có người, do nếp sống phụ thuộc vào quyền sắp đặt của mẹ cha, tiếng nói yêu đương phải nén lại trong vẻ thùy mị nết na như cô gái trong Mưa xuân vừa nhắc trên đây. Song cũng có người mạnh mẽ cất tiếng nói về cảm xúc, về tình cảnh, thân phận của mình. Ví như lời giãi bày nỗi nhớ người yêu cồn cào, không thể kìm nén, một tiếng nói mãnh liệt, nương vào âm hưởng ca dao của cô gái trong những dòng thơ Nhớ này: “Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ/ Em thử quay xem được mấy vòng/ Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ/ Em thử lào xem được mấy thưng!/ Anh ơi! Em nhớ em không nói/ Nhớ cứ đầy lên cứ rối lên/ Từ đấy về đây xa quá đỗi/ Đường đi bằng ngựa hay bằng thuyền?/ Gieo thoi gieo thoi lại gieo thoi/ Nhớ nhớ mong mong mãi mãi rồi/ Thoi ạ làm sao thoi lại cứ/ Đi về giăng mắc để trêu tôi?”


Khi mượn giọng, nhất là giọng phụ nữ, điều thách thức không phải chỉ là tạo được cảm giác giống thật bề ngoài, mà ở chỗ làm sao nhập vào nhân vật để cất lên được những lời gan ruột, tức là cất lên thứ “tiếng nói bên trong”. Nguyễn Bính bước qua thách thức này khá nhẹ nhàng. Bí quyết của ông, nói như Thụy Khuê, là “lấy cảnh quê làm nền để vẽ bi kịch của con người khuất sau, mà luôn luôn là bi kịch của người phụ nữ bị bỏ rơi, bị phản bội, bi kịch của người bạc mệnh”[4]. Mà những bi kịch ngang trái, bạc mệnh kiểu như thế, không phải tìm đâu xa, chính tác giả là người rất mẫn cảm, thậm chí dường như trải nghiệm đến ngóc ngách những nỗi niềm riêng. Đọc bài Lỡ bước sang ngang của ông, nhà phê bình nữ hải ngoại đã phải kinh ngạc thốt lên: “Làm sao một cậu thanh niên chưa đầy hai mươi tuổi đã có thể nằm trong da thịt và tâm hồn người đàn bà hôn nhân ngang trái, để viết nên những hàng:  Năm xưa đêm ấy giường này/ Nghiến răng... nhắm mắt... cau mày... cực chưa? (Lỡ bước sang ngang).”[5]


3.Việc sử dụng nhiều giọng trữ tình trong thơ như phân tích ở trên, có thể xem là một cách hiệu quả để Nguyễn Bính đa dạng hóa giọng và giọng điệu cho thơ mình.


Khi vui, khi buồn, khi thương cảm hay hờn trách ai đó, hờn trách số phận, thời cuộc, tạo hóa, hờn trách sự nông nổi của mình,… hoặc khi chiêm nghiệm, triết lí về thân phận người dân quê, khi triết lí, than tiếc về sự hưng vong của “thời trước”, thời “quan trạng”; thời vua còn mở khoa thi vua lấy trạng, thời các nàng công chúa, tiểu thơ còn “ném tú cầu” tìm ý trung nhân,… trong tất cả những tình huống, trạng thái ấy, Nguyễn Bính thích nói bằng giọng trữ tình của chính nhà thơ. Hẳn là để tác giả nắm lấy vị thế “thượng đế” của người phát ngôn, để có thể tự do biểu đạt tình ý sâu xa, phóng túng của mình, trò chuyện hay đối thoại trực tiếp với người đọc thơ mà không phải thông qua bất cứ một hình thức trung gian nào. Tuy nhiên, nhà thơ cũng đã hết sức khéo léo, nhuần nhị, thậm chí có thể xem ông là một trong số ít nhà Thơ mới sử dụng các giọng trữ tình phỏng mượn của nhân vật do mình hư cấu nên mỗi khi việc sáng tác thơ cần đến.


Nhưng sự đa dạng ấy thường được nhân lên nhờ các biến thể giọng. Các giọng chính trong thơ ông, nhất là giọng mô phỏng, hư cấu, như đã phân tích, thường có nhiều biến thể. Khi mượn giọng nhân vật nam hư cấu nhà thơ đã phổ vào trong thơ bao nhiêu tiếng nói của bao nhiêu số phận, cảnh huống giao tiếp cụ thể: anh trai làng nói với cô gái quê, người mà anh yêu đơn phương, anh trai làng nói với cô thôn nữ lên tỉnh, mang theo về lối ăn mặc tân thời thừ nơi phố thị, anh trai làng trò chuyện với người yêu về “tiền và lá”, anh trai làng làm nghề lái đò tan vỡ mộng đẹp (đỗ trạng vinh quy) chấp nhận thực tế trớ trêu chua chát rằng cô gái đã lên thuyền vu quy của người khác,…


Cũng như vậy, khi mượn giọng nhân vật nữ hư cấu, mỗi giọng nói cất lên từ một tình huống, một cảnh ngộ. Đó, đôi khi, là lời truyền dặn của mẹ, người dì thủ thỉ với cô con gái, cháu gái, chốn buồng khuê khi tiễn cô nàng về nhà chồng. Nhưng nhiều hơn là lời giãi bày bao niềm thương nỗi nhớ lẫn hờn trách của cô gái quê với người yêu xa cách của mình; hoặc giả, là lời của người một thiếu phụ bất hạnh hờn trách người đàn ông phụ bạc hay dặn dò đứa em thơ ngây trước lúc mình phải bước sang ngang. Nhưng dù là ai, nói về điều gì, trong tâm thức nào, thì câu chuyện luôn thấm đượm cái phong vị “chân quê”, bởi chúng thường sinh động như những hoạt cảnh diễn ra trên cái phông nền không-thời gian làng quê của Nguyễn Bính đương thời. Thơ Nguyễn Bính, vì thế có thể xem là một thế giới làng quê “thời trước” thu nhỏ, hay đúng hơn, là một bảo tàng các giọng nói trữ tình sinh động, đặc sắc mang phong vị của nếp sống, nếp nghĩ của những con người mà trong mọi trạng thái sống, vui hay buồn, hạnh phúc hay bất hạn, ở xa hay ở “gần quê cũ”,… bao giờ cũng trọn tình vẹn nghĩa với nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Thời Thơ mới, đọc thơ Nguyễn Bính, ý kiến của giới thưởng thức, phê bình đương thời, có thể còn nhiều điểm khác nhau về chuyện hay dở, vui, buồn trong thơ. Duy có điều người ta dễ dàng nhận thấy và thừa nhận cái phong vị làng quê độc đáo và phong phú trong thơ ông. Phong vị ấy luôn vấn vương phổ vào tiếng nói trữ tình của bản thân tác giả (kiểu tiếng nói của nhà thơ) và trong tiếng nói trữ tình mà nhà thơ phỏng mượn của nhân vật một anh trai làng, một cô gái quê hay một thiếu phụ nông thôn nào đó.


Ngày nay, trong bối cảnh đô thị hóa chóng mặt, thơ ông được đông đảo công chúng tìm đọc và yêu thích, được giới phê bình thơ Việt Nam đánh giá cao, thậm chí, được xem là một trong ba “đỉnh cao”[6] của phong trào Thơ mới. Hẳn là bởi thơ ông luôn tìm được cách nói thay cho nhân vật, bằng tiếng nói của nhân vật đồng thời nói cho người đọc nghe bằng những giọng nói trữ tình gần gũi và thích hợp nhất.


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info







[1] Các tập thơ của ông đã xuất bản, trước 194, có thể kể: Tâm hồn tôi (1940), Lỡ bước sáng ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái lầu hoa (1941), Mây Tần (1942), Tỳ bà truyện (1942). Đó cũng là các tập thơ thuộc phạm vi khảo sát của bài này.




[2] Vở kịch Bóng giai nhân (1942), trước đây thường ghi tên đồng tác giả Nguyễn Bính - Yến Lan, gần đây nhiều tài liệu xác minh vở kịch này thực ra là sáng tác riêng của Yến Lan. Mãi đến thập niên sáu mươi, Nguyễn Bính mới viết một vài kịch bản chèo như Cô Son (1961), Người lái đò sống Vỹ (1964).




[3] Trần Nho Thìn, trong phần viết về “Người phụ nữ im lặng và hiện tượng nhà thơ hư cấu giọng nữ” (Sđd.) đã có những phát hiện thú vị và sâu sắc từ hướng tiếp cận văn hóa. (Xem: Trần Nho Thìn: “Người phụ nữ im lặng và hiện tượng nhà thơ nam hư cấu giọng nữ” (tr.372-382), trong Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng dạy văn học.Nxb. Giáo dục, 2018.)


 




[4] Thụy Khuê: “Nguyễn Bính (1918-1966)”. Nguồn: http://thuykhue.free.fr/stt/n/NguyenBinh.html




[5] Thụy Khuê: “Nguyễn Bính (1918-1966)”. Tlđd.


 




[6] Chu Văn Sơn: Ba đình cao Thơ mới (Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử). Nxb. Giáo dục, 2005.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »