Dựa vào mô hình hoạt động giao tiếp của Roman Osipovich Jakobson, có thể sơ đồ hóa hai kiểu giọng của nhà thơ trong thơ của Nguyễn Bính như sau (nhân tố VĂN BẢN ở vị trí trung tâm được cụ thể hóa, chữ in đậm trong sơ đồ):
Kiểu giọng
|
Ví dụ: một số bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Bính
|
Người nói
|
Người nghe
|
Kiểu giọng (1):
Nhà thơ nói với chính mình (hoặc chẳng nói với ai cả)
|
Đêm Phúc Am, Hoa với rượu, Mười hai bến nước, Nhà cô thôn nữ, Ái khanh hành, Bài Hành Phương Nam;
Những bóng người trên sân ga, Xóm Ngự Viên, Mười hai bến nước, Quan trạng, Xuân về, Gái xuân; v.v.
|
Nhà thơ (xưng “tôi” hoặc không)
Nhà thơ (xưng “tôi” hoặc không)
|
Nhà thơ
Hoặc: chẳng ai cả
|
2.Kiểu giọng (2):
Nhà thơ nói với người khác
|
- Thơ gửi thầy mẹ, Thư cho chị, Xuân vẫn tha hương, Xây hồ bán nguyệt
- Cô hái mơ, Một trời quan tái,…
- Anh về quê cũ, Chú rể là anh, Cánh buồm nâu,…- v.v.
|
Nhà thơ (xưng “con”, “em” “ta”, “tôi”)
|
-“thầy mẹ” “chị Trúc”, - “cô”, “em”
- “anh”- bạn giang hồ
|
Khi khảo sát các bài thơ thuộc hai nhóm trong bảng trên, chúng tôi có mấy kết luận như sau về cách nhận diện và ý nghĩa giao tiếp của mỗi kiểu giọng.
Căn cứ để xác định việc Nguyễn Bính sử dụng kiểu giọng thứ nhất trong bài thơ - nhà thơ nói với mình hoặc chẳng nói với ai cả - là: 1) khi văn bản bài thơ xuất hiện chủ thể trữ tình xưng “tôi” mà không cho thấy sự hiện hữu của nhân vật người nghe, người nhận (Ví dụ: Những bóng người trên sân ga); 2) khi văn bản bài thơ không hề hiện hữu cả hai nhân vật người nói lẫn người nghe (Ví dụ: Xuân về).
Đối với việc xác định kiểu giọng thứ hai - nhà thơ nói với người khác - rất đơn giản, vì dấu hiệu nhận diện rất rõ: 1) văn bản bài thơ thường xuất hiện cùng lúc hai nhân vật - người nói và người nghe - trong đó người nói phải là tác giả; 2) văn bản có những dấu vết tiểu sử của nhà thơ Nguyễn Bính - một chàng bạch diện thư sinh, từng theo học chữ Nho, một khách giang hồ bất đắc dĩ với bao nỗi quan hoài, những chuyến đi và không gian giang hồ vặt,... (Một trời quan tái, Thư gửi chị). Ở bài Thơ gửi thầy mẹ, như nói trên, nhân vật người nói chính là nhà thơ, người xưng “con”, nhân vật người nghe - nhận “thơ” là “thầy mẹ” của nhà thơ, rất tiêu biểu cho trường hợp thứ nhất: “Ai về làng cũ hôm nay,/ Thư này đưa hộ cho thầy mẹ tôi./ Con đi mười mấy năm trời,/ Một thân, một bóng, nửa đời gió sương./ Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương,/ Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi!/ Thầy mẹ ơi, thầy mẹ ơi,/ Tiếc công thầy mẹ đẻ người con hư!/ Con đi năm ấy tháng tư,/ Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba./ Con đi quạnh cửa quạnh nhà,/ Cha già đập lúa, mẹ già giữ rơm./ Cha giậm gạo, mẹ thổi cơm,/ Có con, con vắng, ai làm thay cho./ Con dan díu nợ giang hồ,/ Một mai những tưởng cơ đồ làm nên./ Ai ngờ ngày tháng lưu niên,/ Đã không gọi chút báo đền dưỡng sinh./ Lại mang ân ái vào mình,/ Cái yêu làm tội làm tình cái thân./ Bó tay như kẻ hàng thần,/ Chán chường như lũ tàn quân lìa thành”.
Bài Một trời quan tái tiêu biểu cho trường hợp thứ hai. Trong bài thơ này, người nói - nhà thơ, xưng “tôi”, người nghe là “em” ở nơi xa cách ngàn trùng. Người đọc có thể nhận thấy “dấu vết” tiểu sử của Nguyễn Bính trong văn bản bài thơ nói bằng kiểu giọng này (bài thơ là hình ảnh, tâm trạng của một khách giang hồ, hơn nữa, lời tự xưng “tôi là thi sĩ của thương yêu”,…): “Châu ngọc làm sao hái được nhiều,/ Tôi là thi sĩ của thương yêu,/Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng?/ Với những mâm cau phủ lụa điều?/ Chiều nay... thương nhớ nhất chiều nay /Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy./ Tôi uống cả em và uống cả/ Một trời quan tái, mấy cho say!” (Một trời quan tái)
Cũng có lúc người nói là tác giả muốn ẩn mình đi, nhưng người đọc vẫn nhận ra bài thơ nói bằng giọng của nhà thơ (qua tâm sự, tâm thế, bối cảnh, một vài chi tiết liên quan đến tiểu sử tác giả,…). Đó là trường hợp các bài: Cô hái mơ, Anh về quê cũ, Chú rể là anh,… Chẳng hạn, trong bài Anh về quê cũ hay Chú rể là anh, người đọc nhận ra dáng dấp của Nguyễn Bính qua cảm xúc của một khách giang hồ bất đắc dĩ, không nguôi nhớ làng quê của mình. Trong bài Cô hái mơ, nhà thơ lại muốn ẩn mình trong cách xưng gọi theo lối mơ hồ hóa, mọi đường nét trở nên hư ảo như trong một giấc mộng đào nguyên. Người nói ở đây là “một khách thơ” (khổ 1), “ta” (khổ 2,3); người nghe là: “cô hái mơ” (khổ 1, khổ 4), “cô con gái hái mơ già” (khổ 2):
Thơ thẩn đường chiều một khách thơ Say nhìn xa rặng núi xanh lơ Khí trời lặng lẽ và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ Hỡi cô con gái hái mơ già Cô chửa về ư? Đường thì xa Mà cái thoi ngày như sắp tắt Hay cô ở lại về cùng ta? Nhà ta ở dưới gốc cây dương Cách động Hương Sơn nửa dặm đường Có suối nước trong tuôn róc rách Có hoa bên suối ngát đưa hương Cô hái mơ ơi! Chả giả lời nhau lấy một lời Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi...
Thơ Nguyễn Bính trước 1945, dù viết về tình yêu, về nỗi niềm của nam nữ thôn dân hay viết về tâm sự của một chàng trai lang thang trên những miền đất lạ, thì âm hưởng nổi bật và bao trùm trước sau vẫn là nỗi bi thương: nỗi bi thương của con người mộng mơ, mê mải kiếm tìm hạnh phúc mà không thấy đâu; nỗi bi thương của người khách giang hồ ôm mộng lớn, nhưng càng đi càng vỡ mộng; càng xa quê, càng nhớ thương, thăm thẳm nỗi quan hoài. Tất cả những nỗi niềm này cần và đã được biểu đạt một cách sâu sắc bằng chính tiếng nói của nhà thơ. Đơn giản bởi vì tiếng nói của nhà thơ là tiếng nói của người trải nghiệm , thấu cảm, và có khả năng biểu đạt những trải nghiệm này một cách đa dạng, sinh động nhất.
Có nhiều cung bậc cảm xúc phức tạp, nhà thơ phải nói đúng giọng của mình mới đủ rõ và thấm thía. Chẳng hạn: để tả đúng cái cô đơn, trống vắng của tâm hồn trong cung đàn tỳ bà vẳng trên sông lạnh, nhà thơ đã để cho lòng mình lên tiếng cầu xin, nài nỉ người đàn: “Khoan đàn, em hãy gắng say,/ Một đêm, chỉ một đêm nay thôi mà./ Chúng tôi người bến sông xa,/ Giang hồ một chuyến về qua xứ này,/ Phiền em dăm bảy đường tay,/ Một con sông lạnh, vài giây tơ tằm.” Hoặc: “Chén sầu đổ ướt trường giang,/ Canh gà bên nớ giằng sang bên này./ Lạy giời, đừng sáng đêm nay,/ Đò quên cập bến, tôi say suốt đời,/ Chiêu Quân lên ngựa mất rồi...” (Một con sông lạnh).
Một tình huống khác: khi chàng thi sĩ giang hồ muốn kêu to lên một tiếng, muốn tự mình thương khóc với mình, thi sĩ buộc phải nói đúng cái giọng của nhà thơ, không thể mượn giọng người khác: “Hỡi ơi! Trời đất vô cùng rộng/ Nào biết tìm đâu một mái nhà?/Có như mắt Tịch xanh mà uổng/ Đất khách cùng đường ta khóc ta!/ Mưa mãi, mưa hoài, mưa bứt rứt/ Đêm dài dằng dặc, đêm bao la...” (Đêm mưa đất khách).
Nhưng còn bao nhiêu cảnh huống và tình ý khác, nhà thơ cần mượn giọng của người trong cuộc, để họ tự nói lên tâm sự, tình cảnh của mình. Trong những trường hợp này, Nguyễn Bính thường sử dụng phổ biến một trong hai khả năng mượn giọng: hoặc mượn giọng của nhân vật anh trai làng, hoặc mượn giọng của người thôn nữ.
Dựa vào mô hình hoạt động giao tiếp của nhà ngôn ngữ học Roman Osipovich Jakobson, có thể sơ đồ hóa hai kiểu giọng phỏng mượn của Nguyễn Bính như sau (nhân tố VĂN BẢN ở vị trí trung tâm được cụ thể hóa, chữ in đậm trong sơ đồ):
(3) Sơ đồ “mượn giọng” của nhân vật nam (“anh trai làng”), kiểu giọng 3.a.:
BỐI CẢNH
Trong hai sơ đồ này, giao tiếp thi ca diễn ra ở hai tầng bậc: giao tiếp giữa nhà thơ với độc giả là giao tiếp thông qua một cuộc giao tiếp hiện hữu trên bề mặt của văn bản: giao tiếp giữa các nhân vật hư cấu; nhà thơ không nói bằng giọng của mình mà bằng các giọng phỏng mượn của nhân vật.
2. Người đọc dễ dàng lắng nghe hai kiểu giọng nhà thơ phỏng mượn của nhân vật nam, hoặc nhân vật nữ chốn làng quê trong rất nhiều bài thơ của ông. (Xem bảng tổng hợp số 3 dưới đây với lần lượt các kiểu giọng 3.a và 3.b)
Kiểu giọng
|
Ví dụ: một số bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Bính
|
Người nói-người nghe
|
3. Kiểu giọng (3.a):
Giọng nhà thơ mượn của nhân vật nam hư cấu nói với một nhân vật hư cấu khác
|
Tương tư
Chân quê
Người hàng xóm
Truyện cổ tích
Tình tôi
Vu quy
Giấc mơ anh lái đò
Qua nhà
Tiền và lá
|
“tôi” - “nàng”
“tôi” - “em”
“tôi” - “nàng”
“anh” - “em”
“tôi” - “cô”
“tôi” - “nàng”
“tôi” - “cô”
“tôi” - “cô”
“tôi” - “em”
|
4. Kiểu giọng (3.b):
Giọng nhà thơ mượn của nhân vật nữ hư cấu nói với một nhân vật hư cấu khác
|
- Mưa xuân
- Chờ nhau
- Nhớ
- Thời trước
- Lỡ bước sang ngang
- Tỳ Bà truyện (truyện thơ)
|
“em” - “anh” (/“mẹ”)
“em” - “anh”
“em” - “anh”
“em” - “anh”
“chị” - “em”
“thiếp”- “chàng”
|
Việc nhà thơ mượn giọng, mượn điểm nhìn của nhân vật “anh trai làng” nói với “cô gái quê”, có thể không có được cái đa sầu đa cảm, sâu sắc, triết lí theo lối trí thức nghệ sĩ mà kiểu giọng của nhà thơ có thể mang lại, song, theo cách này, lại có được cái nhìn rất thực tiễn, tươi tắn của người trong cuộc, cái chất giọng thô mộc, chân chất cần cho câu chuyện tâm tình của các nhân vật. Nói cách khác, trong những trường hợp này, dường như chỉ có tiếng nói (và cách nói) của “anh trai làng” nói với “cô gái quê” thì những lời giãi bày kiểu Tương tư, Chân quê, Người hàng xóm, Qua nhà,… với bao tâm sự buồn vui thương nhớ hờn trách về chuyện làng xóm, chuyện duyên tình riêng tư,… mới thật và thiết tha, xao xuyến đến như thế. Cũng như vậy, phải bằng giọng nói ấy thì những mộng đẹp kiểu Truyện cổ tích mới vui tươi, hóm hỉnh nhẹ nhàng như thế; và, những lời hờn trách kiểu Tình tôi, Giấc mơ anh lái đò, Vu quy, Tiền và lá,… mới riết róng, chua chát đến thế. Thử lắng nghe và nghĩ xem, câu chuyện sau đây nếu không phải do chính “anh lái đò” bất đắc dĩ bộc bạch thì nhà thơ - một người ngoài cuộc - liệu có thể biểu đạt thấm thía hơn không: “Năm xưa chở chiếc thuyền này,/ Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều./ Để tôi mơ mãi, mơ nhiều:/ “Tước đay se võng nhuộm điều ta đi./ Tưng bừng vua mở khoa thi,/ Tôi đỗ quan trạng, vinh quy về làng./Võng anh đi trước võng nàng.../ Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.”/ Đồn rằng đám cưới cô to,/ Nhà trai thuê chín chiếc đò đón dâu./ Nhà gái ăn chín nghìn cau,/ Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn...” (Giấc mơ anh lái đò).
Tuy nhiên, nhân vật nữ trong thơ Nguyễn Bính không phải là một người phụ nữ chung chung chung mơ hồ. Họ là những cô gái, những người mẹ, người dì, người vợ cụ thể, như bằng xương bằng thịt, trong từng tình huống trải nghiệm, thấu cảm cụ thể của nhà thơ. Vì thế kiểu giọng của nhân vật nữ hư cấu ở đây được nhân lên bằng rất nhiều biến thể. Cũng là giọng thôn nữ đang tuổi yêu đương, nhưng giọng cô gái trong Nhớ khác cô gái trong Mưa xuân hay cô gái trong Chờ nhau; cũng là giọng người nữ từng trải dặn dò con cháu vào cái ngày con cháu đi lấy chồng, nhưng giọng của bà mẹ trong Người mẹ khác giọng của bà dì trong Giọt nến hồng. Và, cùng giãi bày nỗi bất hạnh của mình bằng giọng “đàn bà”, nhưng giọng của người chị dặn em trong Lỡ bước sang ngang khác rất nhiều với giọng của người vợ nói với anh chồng phụ rẫy mình bằng tiếng hát trong Tỳ bà truyện. Bởi, mỗi nhân vật cụ thể có một đời sống, một cảnh ngộ, một nỗi niềm riêng.
Khi vào vai anh trai làng, Nguyễn Bính hẳn không gặp thách thức gì nhiều. Nhưng khi vào vai thôn nữ, thách thức đối với nhà thơ chắc phải nhiều hơn. Thế mà, Nguyễn Bính đã làm được điều kì diệu trong thơ ông. Thơ của chàng thi sĩ trẻ - không hiểu bằng tưởng tượng hay nhờ trải nghiệm mà - bỗng thành, y như thật, một “lời mẹ dỗ con gái trong buồng, trước khi nhà trai đến đón dâu” (Người mẹ), một “lời người dì thủ thỉ dặn dò cháu gái trong đêm tân hôn” (Giọt nến hồng)…, và cả lời của những cô gái quê, mạnh bạo bày tỏ nỗi nhớ người yêu (Nhớ), an ủi, nhắc khéo người yêu tìm giờ khắc gặp nhau sao cho tránh được những lời dị nghị của thôn dân (Chờ nhau).
Trong những giọng nói của nhân vật nữ hư cấu ấy, biết bao cảm thông, thương mến là giọng e lệ kín đáo, nhưng không kém phần thiết tha, buồn tiếc của cô gái “bên khung cửi” bị người yêu lỗi hẹn trong hội chèo đêm xuân. Lỗi hẹn, đành quay về dưới mưa xuân, không chỉ thiếu nữ cảm thấy lạnh, thấy nhớ, mà cả “giường cửi” cũng thấy “lạnh” và cả “thoi ngà” đơn độc, “nhớ tay em”. Những “người phụ nữ im lặng” hàng ngàn năm trong văn học, phải qua việc “mượn lời” trong các bài “khuê oán”, các “khúc ngâm” của nam nhân mới có dịp được lên tiếng. Nay, các cô, các chị, các bà lại có dịp cất tiếng nói trong thơ Nguyễn Bính thời Thơ mới. Trong số họ, có người, do nếp sống phụ thuộc vào quyền sắp đặt của mẹ cha, tiếng nói yêu đương phải nén lại trong vẻ thùy mị nết na như cô gái trong Mưa xuân vừa nhắc trên đây. Song cũng có người mạnh mẽ cất tiếng nói về cảm xúc, về tình cảnh, thân phận của mình. Ví như lời giãi bày nỗi nhớ người yêu cồn cào, không thể kìm nén, một tiếng nói mãnh liệt, nương vào âm hưởng ca dao của cô gái trong những dòng thơ Nhớ này: “Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ/ Em thử quay xem được mấy vòng/ Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ/ Em thử lào xem được mấy thưng!/ Anh ơi! Em nhớ em không nói/ Nhớ cứ đầy lên cứ rối lên/ Từ đấy về đây xa quá đỗi/ Đường đi bằng ngựa hay bằng thuyền?/ Gieo thoi gieo thoi lại gieo thoi/ Nhớ nhớ mong mong mãi mãi rồi/ Thoi ạ làm sao thoi lại cứ/ Đi về giăng mắc để trêu tôi?”
Khi mượn giọng, nhất là giọng phụ nữ, điều thách thức không phải chỉ là tạo được cảm giác giống thật bề ngoài, mà ở chỗ làm sao nhập vào nhân vật để cất lên được những lời gan ruột, tức là cất lên thứ “tiếng nói bên trong”. Nguyễn Bính bước qua thách thức này khá nhẹ nhàng. Bí quyết của ông, nói như Thụy Khuê, là “lấy cảnh quê làm nền để vẽ bi kịch của con người khuất sau, mà luôn luôn là bi kịch của người phụ nữ bị bỏ rơi, bị phản bội, bi kịch của người bạc mệnh”. Mà những bi kịch ngang trái, bạc mệnh kiểu như thế, không phải tìm đâu xa, chính tác giả là người rất mẫn cảm, thậm chí dường như trải nghiệm đến ngóc ngách những nỗi niềm riêng. Đọc bài Lỡ bước sang ngang của ông, nhà phê bình nữ hải ngoại đã phải kinh ngạc thốt lên: “Làm sao một cậu thanh niên chưa đầy hai mươi tuổi đã có thể nằm trong da thịt và tâm hồn người đàn bà hôn nhân ngang trái, để viết nên những hàng: Năm xưa đêm ấy giường này/ Nghiến răng... nhắm mắt... cau mày... cực chưa? (Lỡ bước sang ngang).”
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.
Thụy Khuê: “Nguyễn Bính (1918-1966)”. Tlđd.
|