tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
11.08.2018
Thái Phan Vàng Anh
Tự sự trong thơ trữ tình Nguyễn Bính


“Hôm nay dưới bến xuôi đò/ Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau/ Anh đi đấy, anh về đâu/ Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…”; “Láng giềng đã đỏ đèn đâu?/ Chờ em ăn dập miếng giầu em sang… Em nghe họ nói mong manh/ Hình như họ biết chúng mình với nhau”. Những câu thơ gắn liền với tên tuổi Nguyễn Bính dung dị mà sâu lắng. Những bài thơ trữ tình đậm chất “kể” khiến thơ Nguyễn Bính dễ đi vào lòng người, đồng thời làm cho thơ ông trở nên “quê mùa” trong tiến trình Thơ mới. Trong thành tựu thơ Việt nửa đầu thế kỉ XX, thơ Nguyễn Bính không có những cách tân đột biến. Tuy vậy, người thi sĩ làng quê vẫn định hình một chất giọng riêng. Tự sự trong thơ trữ tình chi phối cấu trúc thơ Nguyễn Bính và khu biệt phong cách nhà thơ. Nhiều người thuộc thơ, mê thơ Nguyễn Bính. Song cũng không ít người khó đón nhận kiểu thơ “kể chuyện” của thi nhân. Bởi lẽ, trong tiếp nhận chung, thơ gắn với trữ tình, thiên về gợi, tả cảnh, tả tình; còn nói chuyện, kể chuyện thường thuận hơn với văn xuôi, trụ cột của kiểu văn tự sự. Tuy vậy, “không quen” mà vẫn thuộc, rồi từ thuộc thành ra yêu, thích, đó chính là sự chuyển đổi “thái độ” của không ít độc giả khi tiếp xúc với thơ Nguyễn Bính. Sau hơn 80 năm[1] kể từ khi Nguyễn Bính gia nhập vào phong trào Thơ mới, trong tầm đón của lớp độc giả mới thế kỉ XXI, chất “chân quê” của thơ Nguyễn Bính (một phần do giọng điệu tự sự) vẫn còn hấp dẫn. Căn nguyên của cái hay, cái “bắt nhớ” của thơ Nguyễn Bính phải chăng cũng là từ đó?


1. Cảm hứng tự sự trong tứ thơ trữ tình


Đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của chữ quốc ngữ và sự bùng nổ của báo chí, in ấn, văn hóa “đọc thầm” đã thay thế dần văn hóa “đọc to” khiến truyện thơ không còn được yêu thích và phổ biến như trước. Tuy vậy, quán tính nghe thơ có “chuyện” vẫn còn ẩn sâu trong tiềm thức của kiểu người đọc cũ lẫn độc giả tân thời. Nguyễn Bính đáp ứng được mong mỏi này của những người đọc thơ, nghe thơ, nhờ những bài thơ trữ tình giàu chất tự sự. Dường như, Thơ mới với trường hợp của Nguyễn Bính, vừa có mới mà không xa lạ, lại vừa có lạ từ những tứ thơ, những cách diễn đạt rất quen? Trong Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử), Nguyễn Bính gần với dân gian hơn một phần ở lối tự sự hình thành một cá tính sáng tạo.


Trong sự dung hợp thể loại, yếu tố tự sự đậm nét trong thơ Nguyễn Bính. Nếu thơ trữ tình tái dựng đời sống từ thế giới chủ quan, cảm xúc, tình cảm bộc lộ qua cái tôi tự biểu hiện thì Nguyễn Bính nói đến “tình” từ “chuyện”. Cái tôi trữ trình trong thơ Nguyễn Bính không chỉ đồng nhất với cái tôi thi nhân mà còn là cái tôi trữ tình nhập vai (quan Trạng, anh lái đò, anh khóa, cô hái dâu…). Thơ Nguyễn Bính thường có “cốt truyện” với một hệ thống đầy đủ sự kiện, nhân vật, không gian, thời gian... trong mạch vận động tuyến tính. Ngoài diễn ngôn của nhân vật trữ tình (thường kiêm luôn vai kể), Nguyễn Bính thường sử dụng và thi hóa đối thoại trong thơ, làm nên tính “đa thanh” vốn không phải là đặc trưng nổi bật của thơ trữ tình. Nhiều bài thơ của ông có thể tóm tắt và kể lại (Lỡ bước sang ngang, Người hàng xóm, Bước đi bước nữa, Hà Nội ba mươi sáu phố phường, Những bóng người trên sân ga, Viếng hồn trinh nữ, Lòng mẹ...). Tất nhiên, tỉ lệ “chuyện” được kể vẫn đảm bảo để thơ Nguyễn Bính là thơ trữ tình chứ không trở thành truyện thơ, một sự kết hợp đặc thù của thể loại tự sự và hình thức văn vần.


Khảo sát hệ thống nhan đề thơ Nguyễn Bính như một mã kí hiệu, có thể thấy dấu hiệu tự sự không hẳn nằm ở tên các bài thơ. Nhà thơ thường gây bất ngờ khi bắt đầu câu chuyện thơ từ những tín hiệu gợi những hình dung về miêu tả, bộc lộ cảm xúc (Người con gái ở lầu hoa, Áo đẹp, Dối lòng, Khăn hồng, Dòng dư lệ, Cô hái mơ, Tương tư…); song mạch thơ lại được triển khai theo dòng sự kiện gắn với các đối tượng (mẹ, chị, em, cô hàng xóm…) vốn là nguyên cớ cảm xúc của chủ thể trữ tình, cái tôi tác giả. Phải chăng bởi tâm sự của tôi không chỉ bắt nguồn từ tôi, từ khách thể phi nhân, mà còn là từ những chủ - thể - tha- nhân, nên thơ Nguyễn Bính là những đối thoại tâm tình thay vì những độc thoại trữ tình như thơ của nhiều thi nhân khác? Cảm xúc của tôi, “chuyện” của tôi thường liên đới đến “chuyện” của người khác, khiến “kể chuyện” trở thành một nhu cầu, một đòi hỏi tất yếu của thơ trữ tình Nguyễn Bính. Nói cách khác, Nguyễn Bính ít khi bộc lộ tâm tình mà không nhắc đến “chuyện”. Chuyện ngày xưa dồn trong mạch cảm xúc hôm nay - “Sông Ngân nước chảy hững hờ, Ngưu Lang ngồi khóc bên bờ sông Ngân (…) Mênh mang một dải Ngân Hà, Tình sao không phụ mà ra phụ tình!” (Chức Nữ Ngưu Lang). Chuyện “năm mười bảy tuổi, chị đi lấy chồng” như đi vào cõi chết lồng chứa chuyện về thân phận đàn bà, kể cả cái lỡ bước… thị thành của chính nhà thơ: “Chị tôi nước mắt đầm đìa, Chào hai họ để đi về nhà ai..., Mẹ trông theo, mẹ thở dài, Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran, Tôi ra đứng ở đầu làng, Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa ”(Lỡ bước sang ngang). Nguyễn Bính còn tạo ra “truyện kể” như một cái cớ để tỏ tình. Truyện cổ tích là một bài thơ rất giàu chất “chuyện”: chuyện vua nước Bướm kén nhân tài,  gả con gái yêu cho bướm Thám hoa; chuyện “Một hôm hai vợ chồng quan Thám/ Mê mải xem hoa lạc chốn về”…, may nhờ một bà Tiên hiện ra, đưa về nhà Tiên ở tạm… Với nhiều sự kiện, nhiều tình huống, kể lại chuyện cổ tích là cách để chủ thể trữ tình đưa ra lời ngỏ bất ngờ: “Đêm ấy chăn êm cùng gối êm/ Vợ chồng ăn bánh với bà Tiên/ Ăn xong thoắt chốc liền thay lốt/ Chồng hoá thành anh, vợ hoá em”. Cổ tích và hiện đại. Ảo và thực. Chuyện gợi chuyện, chuyện gợi tình. Lời muốn nói ngay từ dòng đầu tiên của bài thơ: Em ạ! Ngày xưa vua nước Bướm… chính là anh với em đã có duyên chồng vợ từ kiếp trước. Có thể nói, cảm hứng trữ tình đã vời đến cảm hứng tự sự như một tiền đề của thủ pháp. Thơ trữ tình mà có thể tóm tắt được nội dung, diễn biến câu chuyện, đấy quả cũng là một cái duyên, cái tài của Nguyễn Bính.


Nhân vật trữ tình, xưng “tôi” kiêm luôn vai kể và tự kể chuyện mình là một kiểu tự sự thường thấy trong thơ Nguyễn Bính. Tôi, cô gái xấu đọa đày trần gian tự kể về phận gái mười hai bến nước- “Mỗi lần tôi quá ưu buồn/ Đọc thơ tưởng những linh hồn phiêu lưu/ Chiều qua, cũng một buổi chiều/ Bò xoài, khăn mặt dở thêu, thở dài/ Tôi như là nhớ một ai/ Tuy chưa một bóng qua trời tôi đâu”(Mười hai bến nước). Tôi, cậu nhóc quê kể về những ngây thơ ngập cảm tình đầy luyến tiếc- “Hai đứa ôm nhau đánh giấc dài/ Bất đồ ngủ đến sáng ngày mai/ Chị Nhi cứ chế làm sao ấy/ Hai đứa nhìn nhau ngớ ngẩn cười” (Hoa với rượu). Tuy vậy, nhiều nhất vẫn là tôi, gã trai quê Nguyễn Bính kể về tình tôi với đủ cung bậc cảm xúc (Tình tôi, Chuông ngọ, Tương tư, Đàn tôi, Giối giăng, Khăn hồng, Nhặt nắng, Vẩn vơ, Vâng, Giấc mơ anh lái đò, Người hàng xóm …). “Chuyện” của chính chủ thể trữ tình được kể lại để diễn đạt đến tận cùng những ngổn ngang cảm xúc. Tôi, người lạ, kể về cái chết của hồn trinh: “Sáng nay vô số lá vàng rơi, Người gái trinh kia đã chết rồi!, Có một chiếc xe màu trắng đục, Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi, Đem đi một chiếc quan tài trắng, Và những vòng hoa trắng lạnh người”(Viếng hồn trinh nữ). Chất truyện trong thơ Nguyễn Bính là hệ quả của những chuỗi sự kiện không đứng yên mà luôn vận động, biến đổi. Mạch vận động của sự kiện và hành động của nhân vật trữ tình trong bài thơ Mưa xuân đã tạo nên một điển hình về tâm trạng như thế: Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ ® Em xin phép mẹ, vội vàng đi® Em mải tìm anh chả thiết xem® Chờ mãi anh sang anh chả sang® Mình em lầm lụi trên đường về® Em giận hờn anh cho đến sáng… Nước mắt tràn ra, em ngoảnh đi… Nồng độ cảm xúc tăng cấp theo các hành động, biểu hiện tâm trạng. Mặt khác, nhờ “chuyện”, những trạng thái cảm xúc mỏng mảnh, tinh tế được bộc lộ tự nhiên. Ngay những bài thơ chỉ kể về tâm trạng của chính cái tôi tác giả, cảm hứng tự sự cũng khá rõ khi nhà thơ có ý thức nói to lên cảm xúc, đo đếm cảm xúc bằng nhịp điệu của thời gian - “Ngày qua ngày lại qua ngày, Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng… Tương tư thức mấy đêm rồi, Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!” (Tương tư). Chất mơ hồ, lấp lửng của nhiều câu thơ Nguyễn Bính cuốn hút người đọc chính ở lối tự sự có duyên này. “Lòng thấy giăng tơ một mối tình… Hình như hai má em bừng đỏ, Có lẽ là em nghĩ đến anh” (Mưa xuân). Có lẽ, tự sự trong thơ Nguyễn Bính bắt nguồn từ những khát khao diễn giải cảm xúc. Và thơ Nguyễn Bính gần gũi, dễ hiểu, dễ nhớ ít nhiều là bởi cảm hứng tự sự này.


2. Mã văn hóa trong những câu chuyện của cảm xúc


Thơ Nguyễn Bính gắn liền với “chuyện” của quê hương, dân tộc trong những biến thiên, chuyển động của lịch sử. Tâm trạng lưỡng phân của một thi nhân Thơ mới, vừa muốn níu giữ văn hóa truyền thống, vừa “sầu đô thị” lại không cưỡng được văn hóa thị thành khiến nhiều bài thơ của Nguyễn Bính là “tâm trạng lồng tâm trạng”, “chuyện lồng chuyện”, tự sự đan xen trữ tình - “Bỏ lại vườn cam bỏ mái tranh/ Tôi đi dan díu với kinh thành”… ; “Hôm qua em đi tỉnh về/ Đợi em ở mãi con đê đầu làng/ Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/ Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi”. Tâm trạng lưỡng phân này không chỉ thuộc cá nhân Nguyễn Bính. Đó cũng là tâm trạng chung của những cái tôi lãng mạn vừa chối bỏ vừa “dan díu” kinh thành. Khoảng trống chênh vênh giữa hai đối cực làm nên chất hoài vọng trong thơ Thế Lữ - “Năm năm theo tiếng gọi lên đường, Tóc lộng tơi bời gió bốn phương”; để rồi chênh vênh tâm trạng: “Rủ áo phong sương trên gác trọ, Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang” (Giây phút chạnh lòng). Không tính đến hệ thống biểu tượng hàm ẩn nhiều mã văn hóa trong thơ Nguyễn Bính, yếu tố kể, lời tự sự khiến nỗi niềm hoài vãng (một cảm thức chủ đạo của Thơ mới) trở đi trở lại, day dứt hơn. Chân quê là một trong những bài thơ đã từ câu chuyện của cảm xúc để trăn trở về một câu chuyện văn hóa, về sự xâm lấn của đô thị trước nông thôn. Sự thay đổi của cô gái khi đi tỉnh về với khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm… không chỉ là những mất mát trực tiếp của gã trai chân quê, mong muốn mọi thứ cứ “giữ nguyên quê mùa” mà còn là khát vọng níu kéo những giá trị truyền thống của tác giả Nguyễn Bính khi hiện đại hóa, đô thị hóa đã là một câu chuyện hiển nhiên, tất yếu. Lời hỏi, lời cảm thán “Nào đâu cái yếm lụa sồi? Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân? Nào đâu cái áo tứ thân? Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?” hay “Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi! Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh!”… không chỉ có chức năng bộc lộ cảm xúc mà còn góp phần kể chuyện, lí giải cảm xúc. Chuyện đổ vỡ, hụt hẫng của một chàng trai khi thấy người yêu thay đổi đã trở thành chuyện của những đổi thay giá trị, đổi thay văn hóa. Hay chuyện “Ngự Viên ngày trước không còn nữa/ Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên” cũng không chỉ là chuyện thương hải tang điền mà còn là chuyện thời thế, phận người- “Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng!/ Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên/ Tôn nữ ngồi đan từng chiếc áo/ Dân thường qua lại lối đi quen” (Xóm Ngự Viên).Trong những cảm xúc riêng - chung ấy, bất chấp đúng - sai, tất yếu hay không tất yếu, sự mất mát của cảm xúc là câu chuyện được hiển lộ rõ nhất.


Sự chồng lấn giữa các kí hiệu văn học và kí hiệu văn hóa trong thơ Nguyễn Bính khiến ngay cả khi nhà thơ chỉ tả, hiệu ứng của “kể” cũng ít nhiều được xác lập. Các mã văn hóa “tự động” được hiển lộ và trở thành một diễn ngôn chủ đạo của thơ ông. Xuân về vốn là chuyện của cảm xúc tức cảnh sinh tình và hầu như chỉ được tả chứ không kể, song vẫn là một câu chuyện văn hóa khác. Dường như Nguyễn Bính chỉ thong thả kể những điều mình thấy, tuần tự theo đúng sự vận động của làng quê khi chớm xuân. Nhà thơ chỉ mới khẽ thốt lên Đã thấy xuân về với gió đông, bức tranh xuân đã ngay lập tức được hiển thị qua lớp lớp hình ảnh mang đậm văn hóa Bắc Bộ: “Thong thả dân gian nghỉ việc đồng/ Lúa thì con gái mượt như nhung/ Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng/ Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng/ Trên đường cát mịn một đôi cô/ Yếm đỏ khăn thâm trảy hội chùa/ Gậy trúc giắt bà già tóc bạc/ Lần lần tràng hạt niệm nam mô” (Xuân về).  Trong sự vận động thơ từ “cũ sang mới”, yếu tố tự sự cùng lưu dấu trong một số nhà Thơ mới - đặc biệt là các nhà thơ lãng mạn (ít chạm tới tượng trưng và siêu thực). Tuy vậy, cách kể của Nguyễn Bính khác với Nguyễn Nhược Pháp (Sơn Tinh Thủy Tinh, Chùa Hương, Mỵ Châu) hay Vũ Đình Liên (Ông đồ, Chiều xuân). Nhà thơ không đứng ngoài quan sát và ghi chép, lí giải những vận động, biến chuyển của lịch sử, xã hội qua những thay đổi văn hóa. Nguyễn Bính không hẳn chỉ kể lại, viết lại chuyện lịch sử, truyền thuyết bằng thơ như Nguyễn Nhược Pháp với giọng dí dỏm, tinh nghịch: “Nhưng có một nàng mà hai rể/ Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều”; “Thủy Tinh năm năm dâng nước bể/ Đục núi reo hò đòi Mỵ Nương/ Trần gian đâu có người dai thế/ Cũng bởi thần yêu nên khác thường!”(Sơn Tinh Thủy Tinh). Kể về những phôi phai văn hóa, giọng điệu thơ Nguyễn Bính vừa thoáng ngậm ngùi như Vũ Đình Liên (Mỗi năm hoa đào nở/ lại thấy ông đồ già ® Năm nay đào lại nở/ không thấy ông đồ xưa/ những người muôn năm cũ/ hồn ở đâu bây giờ (Ông đồ); vừa có vẻ quyết liệt- “Van em em hãy giữ nguyên quê mùa!”. Con người luôn mang tâm trạng “lỡ bước…, tha hương, sầu đô thị” này có vẻ không chấp nhận bất kì một đổi thay nào làm mai một đi những vẻ đẹp truyền thống, nhưng trong tận bề sâu tâm trạng là nỗi bất lực đành phải “van em” hay mặc cảm “dan díu với kinh thành”.  Vì vậy, trong giọng tự sự, nhà thơ không giấu được niềm tự hào với vẻ đẹp của hội làng, trống chèo, tích cũ… hay nét đẹp chân quê của những người phụ nữ tròn áo tứ thân, mịn quần lĩnh tía, chùng khăn lụa sồi, tóc thẳng đường ngôi, ấm hơi trầu quế, thơm mùi hương nhu…. “Khen ai nhuộm nhiễu Tam Giang/ Đánh dây xà tích cho nàng chơi xuân…/ Khen ai áo kép, quần hồ/ Hội làng mê mải sớm trưa đi về/ Khen ai e ấp tình quê/ Bút hoa chưa thảo, gương thề còn nguyên” (Tiếng trống đêm xuân). Có thể nói, Nguyễn Bính không chủ tâm kể những câu chuyện văn hóa. Nhà thơ chỉ diễn giải những cảm xúc mãnh liệt về những lớp phông văn hóa luôn phủ quanh những câu chuyện về xóm giềng, quê hương, gia đình, bè bạn… Kể chuyện mà như là không kể, không chú tâm kể mà “chuyện” vẫn cứ hiện lên qua các mã văn hóa, hệ biểu tượng, những liên tưởng, cảm thán của thi nhân. Tự sự từ chính những tâm tình, hay trữ tình bằng lời tự sự chính là điểm đặc biệt của phong cách thơ Nguyễn Bính.


3. Thi hóa đối thoại trong lời mạch trữ tình


Chất tự sự trong thơ Nguyễn Bính còn thể hiện rõ qua ngôn ngữ, giọng điệu, đặc biệt là lối kể bằng lời thoại. Kể bằng lời thoại là một trong những biện pháp trần thuật được sử dụng trong văn xuôi. Lời thoại trong thơ thường hiếm hơn, bởi thơ trữ tình phần lớn chủ yếu cất lên giọng đơn thanh của cái tôi trữ tình, một hóa thân khác của tác giả. Thơ Nguyễn Bính, thật đặc biệt, vượt ra khỏi khung khổ trữ tình, đan xen, trộn lẫn lời thoại với nhiều đối tượng tham gia giao tiếp. Từ góc độ mĩ học, lời thoại mở rộng nội cảm, là một yếu tố làm nên tính thẩm mĩ của thơ Nguyễn Bính. Nhiều bài thơ của Nguyễn Bính cho thấy thơ không còn xa lạ với ngôn ngữ hội thoại vốn dĩ được xem thuộc về văn xuôi. Nguyễn Bính gây ấn tượng ở cách đưa lời nói thường nhật vào thơ mà không phá hỏng mạch trữ tình. Đây là cách nhập vai rất đạt của nhà thơ qua lời thoại của cô gái quê chất phác tảo tần- “Kẻo không rồi chúng bạn cười, Rằng tôi nhan sắc cho người say sưa, Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa, "Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng" (Thời trước). Tôi - anh lái đò - kể về giấc mơ vinh qui bái tổ, câu chuyện về giấc mơ của anh lái đò lồng trong câu chuyện về một chuyến sang ngang qua lời thoại gián tiếp: “Đồn rằng đám cưới cô to, nhà trai thuê chín chiếc đò đón dâu, Nhà gái ăn chín nghìn cau, Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn… Lang thang tôi dạm bán thuyền, Có người trả chín quan tiền, lại thôi!” (Giấc mơ anh lái đò). Trong một bài thơ khác, thuật lại lời mẹ dặn dò con gái cũng là cách để Nguyễn Bính nói về “lòng mẹ” trong khoảnh khắc tiễn con qua nhà người. Cấu trúc của bài Lòng mẹ đơn thuần là lắp ghép những lời mẹ dặn con gái (16/20 câu thơ là lời thoại giàu sắc thái của người mẹ) “Gái lớn ai không phải lấy chồng/ Can gì mà khóc, nín đi không!/ Nín đi, mặc áo ra chào họ/ Rõ quí con tôi! Các chị trông!” (Lòng mẹ) [2]. Những chỉ dẫn hành động, chỉ dẫn lời thoại cũng là những dấu hiệu để nhận diện lời kể trong thơ Nguyễn Bính: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ/ Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay” hay “Em giận hờn anh cho đến sáng/ Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì/ “- Thưa u họ hát...” rồi em thấy/ Nước mắt tràn ra, em ngoảnh đi” (Mưa xuân). Những dấu câu chỉ dẫn lời  thoại (dấu hai chấm, dấu gạch ngang, dấu ngoặc kép), những từ gợi mở giao tiếp, biến lời kể thành lời thoại khiến “chuyện” của các nhân vật trữ tình trở nên sống động: “Có lần tôi thấy hai cô gái, Sát má vào nhau khóc sụt sùi, Hai bóng chung lưng thành một bóng, "Đường về nhà chị chắc xa xôi?"; Có lần tôi thấy vợ chồng ai, Thèn thẹn chia tay bóng chạy dài, Chị mở khăn giầu anh thắt lại: "Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!"; Tái dựng, lắp ghép những mẩu đối thoại/ lời thoại trong thơ để ngụ tình không phải là điều dễ dàng. Trong Thơ mới, một vài lời thoại được đưa vào đúng chỗ đã vịn giữ được bài thơ. Trường hợp Nguyễn Nhược Pháp - “Lầu son nàng ngoái trông lần lữa, Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương, Quỳ lạy cha già lên kiệu bạc, Thương người, thương cảnh xót lòng đau, Nhìn quanh, khói toả buồn man mác, Nàng kêu: "Phụ vương ôi! Phong Châu!”; “Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu/ Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhòa/ (Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu/ Nhưng thật dễ thương): “Ôi! Vì ta!” (Sơn Tinh Thủy Tinh). Trong thơ Nguyễn Bính, nhiều tiếng nói cùng vang lên, hòa lẫn vào nhau. Thơ mà đa thanh như tiểu thuyết, rõ ràng, không phải là cách lựa chọn của đa số các nhà Thơ mới, và không phải nhà thơ nào cũng làm được.


Ngoài đối thoại, một trong những dấu hiệu để nhận diện câu kể trong thơ Nguyễn Bính là các từ ngữ chỉ thời gian vận động. Bởi lời kể luôn hướng đến những sự kiện trong một khoảng thời gian đủ dài, khác với lời tả vốn chú ý đến đến sự vật, sự kiện trong thời gian của khoảnh khắc, của một thời điểm. Chẳng hạn, trong bài Giời mưa ở Huế, chủ đích của Nguyễn Bính có lẽ là miêu tả và cảm thán về mưa Huế - “Giời mưa ở Huế sao buồn thế!/ Cứ kéo dài ra đến mấy ngày/ … Trường Tiền vắng ngắt người qua lại/ Đập Đá mênh mang bến nước đầy/ Đò vắng khách chơi nằm bát úp/ Thu về lại giở gió heo may”... Tuy vậy, trong tiết trời lạ lùng của Huế đến mức Nguyễn Bính phải bốn lần thốt lên Giời mưa ở Huế sao buồn thế!, để khắc sâu cái buồn tê tái của những ngày tháng lênh đênh với kiếp giang hồ, thi nhân đã không quên “kể” những sự kiện cộng hưởng thêm, làm cho lòng người thêm da diết - “Chúng tôi hai đứa xa Hà Nội/ Bốn tháng hình như kém mấy ngày/ Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh/ Để rồi nằm mốc ở nơi đây”… Cái khoảnh khắc buồn “hôm nay” đã có những dự phần của bốn tháng kém mấy ngày trước đó. Câu chuyện “hôm qua… uống rượu say” cũng là chìa khóa dẫn dắt cho những tâm sự chất chứa được thốt lên - “Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ/ Đôi lòng hòa một vị chua cay/ Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ/ Cha mẹ chiều chiều... con nước mây”. Kể về các sự kiện trong những ngày “Giời mưa xứ Huế”, suy đến cùng, chính là cách để thi nhân tự vấn về sự lỡ làng, lênh đênh của phận người, và cũng để khắc ghi những kỉ niệm khó phai trong cuộc đời phiêu bạt: “Mai đây bỏ Huế rồi quên Huế/ Quên được làm sao bữa rượu này”. Ở nhiều bài thơ, chất tự sự và trữ tình hòa lẫn nhờ cách tác giả liên hệ giữa bây giờ và ngày xưa, kết nối hai khoảng thời gian cách biệt: “Ngày xưa dệt cửi, chăn tằm/ Em còn bé lắm, mười lăm tuổi đầu/ Bây giờ cắt cỏ, chăn trâu/ Bây giờ em đã làm dâu nhà người/ Buồn thôi chả biết nói cười/ Đắng cay sống những ngày dài như năm” (Làm dâu). Có thể nói, sự vận động của thời gian, gắn liền với chuỗi sự kiện… thường chỉ có thể được nhắc đến bằng lời kể. Phải chănglời tự sự, mạch tự sự xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Bính là bởi thi nhân cần bám víu vào chuyện của quá khứ, của hôm nay và cả của ngày mai để ngụ tình?


***


Không thể dùng lí thuyết nào để tham chiếu, đóng khung thơ Nguyễn Bính. Thơ Nguyễn Bính là đời ông, là thân phận của thi nhân, của tha nhân. Bằng cái tôi trữ tình nhập vai, với chất tự sự (không làm nhòa đặc trưng thơ trữ tình), những câu chuyện về đời, về mình, về thời đại… trở nên gần gũi, truyền cảm. Thơ Nguyễn Bính không có những khoảng trống, vùng lặng cần thiết của ngôn ngữ thi ca, bởi “chuyện” hay “tình” đều được nhà thơ nói rõ, kể thật, đôi lúc dông dài. Tuy vậy, thơ Nguyễn Bính có nhiều lí do để được yêu thích, được nhớ lâu. Ngoài thể thơ lục bát truyền thống vốn gần gũi, quen thuộc; sự giàu có vỉa tầng văn hóa dân tộc, còn là ở chỗ thơ Nguyễn Bính có “chuyện” để kể, để nghĩ, để nhớ. Nhìn lại Thơ mới, nhìn lại một thế hệ làm nên sự chuyển đổi thơ Việt những năm 30 củathế kỉ XX, có thể nói Nguyễn Bính riêng đến duy nhất. Sự hòa kết giữa cảm xúc trữ tình với tứ thơ và ngôn ngữ thơ giàu chất tự sự làm nên nét duyên của thi sĩ “chân quê”.


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] “Nguyễn Bính bước chân vào thi đàn Việt Nam khoảng năm 1935 - 1936, được tặng giải khuyến khích về thơ của Tự Lực văn đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi (theo Nguyễn Tấn Long: Việt Nam thi nhân tiền chiến toàn tập. Nxb. Văn học, 2000, tr.245).




[2] Trong Giăng lưới bắt chim (Nxb. Hội Nhà văn, 2006, tr 195) nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã lắp ghép lời thoại trong bài thơ Lòng mẹ thành một văn bản truyện ngắn - kịch - tản văn. Điều đó chứng tỏ tính cốt truyện đậm nét trong thơ của Nguyễn Bính.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »