Nhắc đến Nguyễn Bính là người ta nhớ ngay đến thơ ông, những bài thơ đẹp “như lụa” đã nằm trong “ổ cứng” ký ức của bao nhiêu thế hệ người Việt. Nhưng trong gia tài văn chương của Nguyễn Bính, người nghệ sĩ đầy tài năng và cá tính ấy còn có một “ngăn” chứa các tiểu thuyết khá nhất quán với cảm hứng và giọng điệu nơi ông, chỉ khác tên gọi thể loại. Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Bính, dễ nhận thấy trong quá trình sáng tác, những gì không diễn tả hết trong thơ, ông đã “nhờ” đến văn xuôi. Và điều gây ấn tượng ở đây, là những nhan đề tiểu thuyết khá độc đáo gợi nhớ cá tính chủ thể sáng tạo cùng cá tính văn chương Nguyễn Bính: Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội, Ngậm miệng, Mưa xuân và Không nhan sắc.
Cách đây hơn mười năm, tiểu thuyết Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội và Ngậm miệng đã được đưa vào mục từ trong cuốn Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỷ 19 đến 1945), tập 1. Trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết của Nguyễn Bính tưởng khá lặng lờ nhưng nếu đi sâu vào thế giới nghệ thuật tiểu thuyết mới thấy cái duyên riêng cuả thi nhân trong thể hiện cuộc sống và tâm hồn của một lớp văn nghệ sĩ đương thời, cùng dấu ấn văn hóa, không gian văn hóa Việt trên những trang viết của ông, nổi bật ở quá trình thơ hóa tiểu thuyết.
Ngày nay trong nghiên cứu trường hợp tác giả, tác phẩm, chúng ta hay bàn đến sự tương tác, giao thoa thể loại, mà tiểu thuyết của Nguyễn Bính không là ngoại lệ. Xét về đặc trưng thể loại, thơ và văn xuôi là “cặp đối lập đầy xung khắc” nhưng không vì thế mà chúng loại trừ nhau tạo nên những sinh thể riêng biệt. Trong quá trình vận động và phát triển của thể loại nói chung hay của một hiện tượng sáng tác nói riêng, giữa thơ và văn xuôi vẫn có sự tương tác, thẩm thấu lẫn nhau. Đặc biệt với trường hợp Nguyễn Bính, sự thâm nhập giữa thơ và văn xuôi là một mối “giao duyên” tự nguyện, kết hợp giữa ý thức và bản năng. Bởi xưa nay thơ ca là một dòng chảy lan thấm vào cội nguồn, vào tâm thức người Việt. Mỗi con người, mỗi nhà văn Việt Nam tự căn cốt đã tiềm ẩn một nhà thơ trong mình. Chất trữ tình đã xâm nhập vào văn xuôi với những màu sắc, hương vị khác nhau tạo nên dấu ấn và hiệu ứng thẩm mỹ mới trong sáng tác của nhà văn, mà tiểu thuyết của Nguyễn Bính là hiện tượng tiêu biểu. Trong tiểu thuyết Nguyễn Bính dồi dào chất liệu cái tôi. Cái tôi tham gia vào cấu trúc tiểu thuyết, không phải là cái tôi tự sự khách quan mà là một hình tượng cái tôi độc đáo giàu nội cảm và đầy suy tư. Cái tôi ấy không thể chỉ bó hẹp trong khuôn khổ của thơ mà đôi lúc phải vượt thoát khung trữ tình mới có thể chuyên chở ý tưởng, tình cảm luôn ở trạng thái dâng trào của một thi nhân giàu cá tính và ít nhiều “kỳ dị”, Nguyễn Bính phải “lấn sân” sang địa bàn của tiểu thuyết. Trong tâm thế sáng tạo của ông có sự tương hợp nào đó khiến các bài thơ đều như một sự gợi ý, một liên thông khơi mạch tiểu thuyết. Những câu thơ trong bài Vẩn vơ: “Lâu nay tôi thấy ở lòng tôi/ Như có tơ vương đến một người/ Người ấy nhưng mà tôi chả nói/ Tôi đành ngậm miệng nữa mà thôi/ Tôi quen ngậm miệng với tình xưa/ Tình đã sang sông đã tới bờ/ Tình đã cho tôi bao oán hận/ Và đem đi cả một thuyền mơ”. Tình huống “ngậm miệng” trong thơ đã thành tên khai sinh tiểu thuyết Ngậm miệng, thuật lại thiên tình sử của tác giả với người con gái tên Oanh. Tình yêu đơn phương của nhân vật Bính thực chất là những giấc mộng tình được trữ tình hóa, cường điệu hóa: “Tôi muốn tình yêu của tôi phải thế nào để xứng đáng được nàng (Oanh- NBT) ban hạnh phúc, chứ tôi cũng yêu nàng theo cách trăm nghìn người khác yêu nhau, thì tôi van nàng, hạnh phúc ấy nàng đừng ban cho tôi. Cho nên, tôi phải đành ngậm miệng đợi chờ”. Cấu trúc nội tại của Ngậm miệng gồm 16 đoản khúc thể hiện “thiên tình sử” với lời đề tựa:
“Oanh ơi! Thiên tình sử này tôi viết cho nàng, tôi viết vì nàng, dù suốt đời tôi không nói với nàng một câu thì nó sẽ thay tôi mà nói với nàng. Tôi sẽ sung sướng khi thấy nàng yêu nó, dù suốt đời tôi không được nàng yêu”. Cấu trúc đó hút vào tiểu thuyết Ngậm miệng các dạng thức trần thuật: bài thơ đầu của nhân vật gửi cho mối tình đầu: “Cô em đương độ tuổi xuân tươi/ Mái tóc đen kia buông quá dài/ Như đóa hồng tươi cô hé miệng/ Mỉm cười vì chửa biết yêu ai”; truyện ngắn thổ lộ mối tình câm: “Cho nên tôi chỉ biết yêu nàng trong giấc mơ, nói những lời yêu đương với nàng trong những vần thơ thầm kín. Nhưng như thế, không làm cho tôi bớt đau khổ được chút nào. Đặt giữ bên lòng hình ảnh một người và những nhớ thương yêu dấu, lấy đó làm hạnh phúc, làm chân ái tình chăng? Chao ôi! Tôi không có cao thượng như ai thế được. Cái hy vọng tuyệt đích, cái hy vọng mà tôi đặt trước mọi hy vọng, là làm sao tôi tỏ cho nàng biết rằng tôi xứng đáng được yêu nàng, và nàng sẽ phải yêu tôi”; những trang nhật ký, cùng những bức thư giãi bày, phơi mở tâm cảm với người bạn: “ Vả lại còn phương kế gì hơn phương kế ngậm miệng nữa? Mở miệng bây giờ là thừa, ngậm miệng mới là thượng sách. Năm năm ngậm miệng chứ mười năm em cũng cam lòng. Vì anh ơi! Không yêu Oanh thì em lấy gì mà sống được? Em còn biết lấy gì mà theo đuổi sự nghiệp bây giờ? Không yêu Oanh thì cả một cuộc đời ngã xuống , cả tương lai chìm đi, cả một đám tang đưa đến bãi tha ma tẻ lạnh”. Tất cả như một cách giãn nở tránh sự đơn điệu trong bút pháp trần thuật của Nguyễn Bính mà vẫn “xuyên văn bản”.
Từ những câu thơ trong Mưa xuân: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ/ Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay” cũng đã cung cấp ý tưởng cho tiểu thuyết Mưa xuân. Người đọc nhận thấy những hình ảnh, từ ngữ của bài thơ đã ùa vào tiểu thuyết cùng tên của Nguyễn Bính: “ Trời mưa…trời mưa xuân, hoa xoan tím vẫn tầm tã rụng.” Điểm nhấn tạo nên cái động trong không gian tĩnh lặng của thơ là hội chèo, và tín hiệu ấy đã khiến không gian trong tiểu thuyết Mưa xuân cũng bắt đầu cựa quậy, khuấy động: “Mưa xuân đổ bụi xuống êm êm. Trời mưa chóng tối, nhá nhem rồi. Gà mái đã gọi con lên chuồng thì tiếng mõ đã từ xóm này lan ra xóm khác, rồi mau thưa trong mưa xuân, để mời nam phụ lão ấu ra đình hát tối nay”.
Rồi những câu thơ, ý thơ trong Viếng hồn trinh nữ: “Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh/ Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ/ Tôi thấy quanh tôi và tất cả/ Kinh thành Hà Nội quấn khăn sô… Sáng nay vô số lá vàng rơi/ Người gái trinh kia đã chết rồi/ Có một chiếc xe màu trắng đục/ Hai con ngựa trắng bước hàng đôi/ Đem đi một chiếc quan tài trắng/ Và những vòng hoa trắng lạnh người/ Theo bước những người khăn áo trắng? Khóc hồn trinh nữ mãi không thôi”…, cũng theo vào tiểu thuyết Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội dưới dạng văn xuôi: “ Điệp không nói gì, chàng đang tưởng tượng đến đám ma người yêu mà bùi ngùi. Một chiếc xe tang trắng đi từ từ, đi âm thầm bởi những bước đi uể oải của hai con ngựa trắng có khoác áo trắng viền đen. …Những vòng hoa không cầm hết được để xung quanh áo quan phủ khăn trắng.” Có thể nói trong thơ và tiểu thuyết Nguyễn Bính có sự liên thông, tạo liên tưởng. Những gì người đọc nhận biết trong tiểu thuyết dường như đều khởi thủy từ cảm xúc thơ của Nguyễn Bính, rồi thơ của ông lại chứa đựng tiếng nói của người xưa qua ca dao dân ca. Trong sáng tạo nghệ thuật, đúng như Bakhtin đã viết: “Từ phát ngôn đơn giản nhất cho đến những tác phẩm phức tạp nhất của khoa học hay diễn ngôn văn học, không phát ngôn nào tồn tại một mình, cô lập như một ốc đảo. Mọi lời văn dường như sống ở biên giới giữa văn cảnh của mình với văn cảnh người”.
Sự xâm nhập của thơ vào văn xuôi đã tạo nên dòng văn xuôi trữ tình đặc sắc gắn liền với tên tuổi Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn…và ngày nay có thể kể đến Nguyễn Bính với các tiểu thuyết giàu chất thơ của ông. Điểm nổi bật trong nhãn quan thơ của Nguyễn Bính là hiện thực của mộng mơ, hoài niệm, và tiếc nuối. Trong Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội, nhân vật Điệp đang lâm vào trạng thái thất vọng cô đơn bởi mối tình đơn phương với một người con gái học trò ở Hà Đông: “ Chàng đem hết cả tuổi trẻ ra mà yêu, yêu say sưa, yêu tha thiết, yêu tuyệt vời. Nhưng chàng thấy cô ta còn trẻ dại quá! Không hiểu nổi tấm tình yêu mãnh liệt của chàng ra, nên chàng đành yêu thầm kín trong năm sáu năm trời. Chỉ vì chàng không thổ lộ, mà cuộc tình duyên ấy thành ra lở dở. Người con gái ấy đi lấy chồng. Chàng buồn khổ mất một dạo”. Đến với Hồng Hương, người con gái làm thơ, quê ở sông Thương cũng không thành (Em tôi be bé làm thơ/ Tôi lo tiền cưới bao giờ cho xong). Điệp bắt đầu vơ vẩn, “như một thằng điên giữa kinh thành Hà Nội”. May thay trong tình cảnh ấy Điệp gặp Tuấn, cũng làm thơ, làm báo và cũng từng yêu một người con gái tên Khanh nhưng rồi cô đã đi lấy chồng. Nếu biết là cô đã lấy chồng, Hỏi rằng người ấy có buồn không? Tuấn buồn, thất tình. Những tương đồng ấy khiến “ Dây thân ái giữa hai người từ đấy càng thêm khăng khít. Một tâm hồn thơ đến với một tâm hồn thơ thì họ hiểu nhau rất chóng và yêu nhau rất bền”. Chỉ có tâm hồn nghệ sĩ hơi “điên điên” như hai nhân vật Điệp và Tuấn mới có thể nghĩ ra tình huống cả hai cùng yêu một người con gái tên là Hoàng Lan, 17 tuổi, đã nằm yên dưới mộ, bởi đó là thiếu nữ trinh trắng. Theo hai người ở đời mỗi người có một ý thích: người thích giang hồ, kẻ thích làm thơ, người thích đến với người đã chết. Người chết có linh hồn và họ yêu linh hồn của người mệnh yểu. Bởi với họ, người chết là trong trắng nhất, hoàn mỹ nhất: “Nếu không có một sáng chủ nhật đẹp trời, Tuấn và Điệp ngẫu nhiên vớ được một linh hồn để tìm ra lẽ sống, để không đi với trụy lạc nữa thì thật là oan uổng cho hai cuộc đời. Từ ngày được tấm linh hồn ấy, hai chàng không thể nghĩ đến chơi bời nhảm nhí nữa. Hai chàng đã sống rất hiền lành chăm chỉ để mà yêu.
Linh hồn đó là linh hồn Vương Thị Hoàng Lan.
Khi chỉ là linh hồn thì tất không xấu, không già, không tầm thường, không đen bạc nữa. Hai chàng yên tâm mà yêu, mãn nguyện mà yêu. Hai chàng đã tìm thấy một tình yêu trong trắng và vĩnh viễn”.
Trong tiểu thuyết Nguyễn Bính sự dung hợp, phối trộn thể loại thể hiện ở những trích dẫn thơ, sử dụng điệp ngữ, tái lặp ngôn từ với những hồi nhớ, hoài niệm, những giấc mơ, tưởng tượng vừa có ý nghĩa như một thủ pháp vừa cho thấy sự kết nối về văn hóa. Nhìn từ ngữ cảnh văn hóa văn học hôm nay, có thể nhận ra cảm quan văn hóa sinh thái trong tiểu thuyết của ông. Nổi bật ở không gian sinh thái tự nhiên và không gian sinh thái tâm linh.
Ở không gian sinh thái tự nhiên, Nguyễn Bính đã gửi gắm tình yêu của mình với không gian đồng bằng Bắc Bộ, không gian làng quê Việt cách đây hơn nửa thế kỷ. Trong tiểu thuyết Nguyễn Bính trải rộng một miền thiên nhiên thân thiết, quấn quyện, tạo nên mối quan hệ hòa đồng, thân ái với con người. Dậu, cô gái trong Không nhan sắc, mới làm dâu nhưng bị chồng ruồng bỏ vì kém nhan sắc. Ở đây diễn ra một sự tương phản. Dậu bị chồng quay lưng lại (tạo khoảng cách giữa người với người) thì thiên nhiên lại là đồng minh của cô: “Cái vui được trở về nhà, được sống trong bầu không khí đầm ấm thưở xưa làm nàng mất hết sự buồn rầu. Tuy xa nhà có hai ngày mà nàng coi như xa nhà lâu lắm. Giàn thiên lý vẫn nhiều hoa thơm, vườn cau nhà vẫn cao và thẳng như khí tiết người quân tử, nước ao vẫn trong cho cầu ao soi bóng, và đôi chim bồ câu vẫn quấn quýt lấy nhau. Dậu hái một chùm hoa thiên lý gài trên mái tóc, nàng sực nhớ có một hôm đi lễ chùa làng, được sư thầy ban lộc cho một bông hoa huệ, nàng cũng cài vào vành khăn như thế. Tất cả cảnh vật đều thân mật với nàng, âu yếm với nàng nhiều lắm, làm cho nàng ngây ngất say sưa”.
Những trang miêu tả nông thôn Bắc Bộ một thời trong tiểu thuyết Mưa xuân như một bức tranh với sự phối màu đầy ấn tượng: “Có những cánh đồng lúa rất xanh, bao bọc những làng xa làng gần. Có những trận mưa nghiêng nghiêng, không ướt áo nhưng mau mau. Có những trận gió nhẹ mà lạnh, làm rụng nhiều hoa xoan tím trên những con đường làng, hằn những vết chân người đi lễ. Cỏ hai bên đường xanh non như đồng lúa, xanh non như lũy tre, xanh non như da trời. Màu trắng nhờ của mưa, phơi phới trong màu xanh non của cảnh vật, làm dịu hẳn khí trời. Một con ngòi trong vắt, trông suốt đáy, có điểm nhiều chùm hoa bèo tây, lá xanh non, lá xanh non, hoa tím sặc sơ, nước lành lạnh se sắt da non của mấy cô gái đương thì, men bậc đá xuống rửa đôi chân nho nhỏ”. Không chỉ là màu sắc thiên nhiên mà còn là hương vị của thiên nhiên như quấn quýt, thấu cảm với tấm lòng trinh nữ: “Mùi hoa cau thơm ngát bỗng thoảng đến, làm Thao say say ngây ngất, nàng ngước mắt nhìn lên. Từng chùm hoa cau vừa thoát khỏi bẹ bèn, nở tung ra, trinh tiết, màu trắng nõn như màu gạo nếp thơm giã kỹ. Lòng Thao cảm thấy thèm muốn băng khuâng…Nàng có cái ao ước được ôm chặt chùm hoa cau ấy vào ngực, áp sát vào má, hoặc được gối lên đầu giường ngủ của mình”. Trong tiểu thuyết Nguyễn Bính, thiên nhiên và con người như sống trong nhau, luôn đồng cảm và thấu hiểu, tạo nên sự cân bằng, hòa điệu giữa sinh thái và con người, mà ở thời đại nào, tọa độ nào, con người luôn mơ ước về một không gian tự nhiên đáng sống như vậy.
Trong văn chương hôm nay, vấn đề sinh thái, môi trường sinh thái, quan hệ giữa con người với tự nhiên trở thành vấn đề quan thiết, nẩy sinh từ tác hại và chiều hướng ngày càng xấu đi của môi trường sinh thái đã ít nhiều tác động đến đời sống con người. Trong ngữ cảnh ấy, lật giở những trang văn của Nguyễn Bính, người đọc như tìm thấy một không gian tự nhiên để trú ngụ, để tìm lại chính mình. Người đọc không chỉ được nương tựa, hòa mình vào không gian thiên nhiên mà còn được trải lòng, được dưỡng tâm để tìm thấy sự an yên trong không gian tinh thần, không gian tâm linh mang cảm thức văn hóa Việt trong tiểu thuyết Nguyễn Bính. Là người sinh ra và lớn lên ở làng quê Bắc Bộ, Nguyễn Bính thuộc hiểu phong tục truyền thống nơi này: “Mỗi niên thường lệ, cứ từ mồng năm đến mồng tám tháng hai thì làng Thiện Vịnh vào đám tế thần. Năm nào cũng có chèo hát thâu đêm. Từ mồng bốn, dân làng đã kéo lên trước lên trước cửa đình, trong một thửa ruộng lúa xanh, một lá cờ đại rủ lòa xòa. Gió xuân nhẹ, mưa xuân nhẹ. Gió xuân cùng với dải cờ cùng bay theo mưa xuân.”… Ngày ngày trong đình “rung lên từng hồi trống tế và đêm đêm rung lên những tiếng trống chèo”. Ở thôn quê, vui nhất là thời gian dân làng vào đám. Hội chèo diễn ra có vài ngày, để hòa vào không gian ấy, con người cũng như hân hoan mới mẻ hơn với trang phục truyền thống: “Thao thay quần áo, nàng đeo yếm trắng, tua yếm có đeo bùa, mặc quần nái nhuộm sồi, áo đồng lầm và khăn mỏ quạ, thắt lưng màu hoa lý có buộc dây xà ích bạc rất chùng. Nàng không quên đeo đôi khuyên vàng mà chỉ ngày đình đám tết nhất nàng mới giở ra” (Mưa xuân). Trong Không nhan sắc, chỉ vài dòng thể hiện tâm trạng của người con gái lên xe hoa vẫn nhớ khôn nguôi mẹ già và người thân cũng đã hiện rõ thời khắc tâm linh quấn quyện không gian tâm linh: “Chắc chiều nay, giờ này, ở trong cái làng La thân yêu ấy, mẹ ta đang thư thả đi hái từng chùm hoa thiên lý, thư thả dâng lên điện Phật, thư thả lên đèn hương, thay dầu nước mới, rồi kính cẩn ngồi xếp bằng tròn trước điện, lần tràng hạt và tụng kinh.”
Đọc lại thơ văn Nguyễn Bính, hơn một lần nhận ra sự gặp gỡ giữa thơ và tiểu thuyết của ông. “Nàng thơ” bật đèn xanh cho “chàng văn” đi tiếp trên hành trình sáng tạo. Bài thơ Tết của mẹ tôi diễn tả từ khâu chuẩn bị: “Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/ Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều/ Sân gạch tường hoa người quét lại/ Vẽ cung trừ quỷ, giồng cây nêu/ đến lúc đón năm mới: Sáng ngày mồng một sáng tinh sương/ mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường/ Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi/ Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương”. Cái không khí náo nức của những ngày giáp Tết trong bài thơ nói trên đã tràn vào tiểu thuyết Mưa xuân, “không còn gió rét mà chỉ còn gió lạnh, không có mưa dầm nữa mà chỉ có mưa xuân” đã như thấu hiểu tâm hồn của một cô gái đang yêu và sắp về nhà chồng, sửa soạn mâm cỗ theo phong tục xưa nay: “Gần xa đã lác đác có pháo đốt giao thừa, rồi đến bốn bên hàng xóm đốt pháo tưng bừng rộn rã, nghe đến vui! Thao bưng cỗ lên nhà thờ, nhà thờ đèn nến vẫn sáng trưng từ tối. Nàng thành kính thắp hương cắm vào các bát hương. Tất cả đồ thờ đều được lau chùi bóng lộn, có cành bích đào hoa nở đỏ ối; có mũ ông công sặc sỡ đủ màu, mặt gương long lanh. Mùi hương thơm sực nức quyến quyện, làm cho cảnh nhà thờ đầm ấm lạ thường và tĩnh mịch thêm lên”. Trong những trang văn của Nguyễn Bính thiên nhiên luôn hài hòa với con người. Sáng mồng một tết mở ra một ngày vui, một năm vui với Thao và gia đình nàng: “Sáng mồng một tết, có hai vợ chồng chưa cưới gặp nhau, nhìnnhau và chào nhau. Thật là đẹp ngang với ngày mồng một tết”. Những hình ảnh “mưa xuân nhỏ”, “mưa xuân rắc bụi”, “mưa xuân ấm, bay nhè nhẹ” cứ vương vất, giăng mắc trong không gian và trong lòng người, như một thủ pháp tái điệp trong văn phong Nguyễn Bính.
Trong bốn tiểu thuyết của Nguyễn Bính, không khó nhận ra Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội và Ngậm miệng mang bóng dáng Nguyễn Bính và những nhân vật liên quan từng là những nguyên mẫu trong đời thực. Yếu tố tự truyện do vậy hiển lộ đậm nhạt trong hai tiểu thuyết này. Trong Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội nhân vật không lấy tên thật nhưng với các chi tiết đời tư của Điệp, Tuấn người đọc nhận ra Nguyễn Bính và bạn thân của ông là nhà thơ Thâm Tâm. Còn trong Ngậm miệng, Bính là nhân vật chính. Với Mưa Xuân và Không nhan sắc là những chuyện thoát ra khỏi chất liệu cái tôi nhưng ngôn ngữ và giọng điệu vẫn rất Nguyễn Bính. Có thể nói, bên cạnh Nguyễn Bính với những vần thơ đã đi vào kho tàng thơ ca Việt Nam hiện đại, còn có một nhà văn Nguyễn Bính, với bốn cuốn tiểu thuyết đã có mặt trong Tuyển tập Nguyễn Bính. Sự hội ngộ thơ văn cho thấy đầy đủ hơn sự nghiệp văn chương Nguyễn Bính. Hơn nữa đọc tiểu thuyết Nguyễn Bính trong cái nhìn hôm nay sẽ góp phần phủ bụi thời gian, làm hiển lộ những trang văn xuôi “đầu mùa” mà không hề xưa cũ của ông.
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.
www.trieuxuan.info
|