tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
13.08.2018
Phạm Phi Na
Tỳ bà truyện nhìn từ phía truyện thơ nôm bình dân


Trong sự nghiệp sáng tác của thi sĩ Nguyễn Bính có truyện thơ Tỳ bà truyện, tác phẩm đạt giải nhất Nam Xuyên năm 1944, có lẽ đây là một truyện thơ hiếm hoi được sáng tác bởi một thi sĩ nổi tiếng của phong trào Thơ mới. Tiếp cận tác phẩm, chúng tôi nhận thấy Tỳ bà truyện có những nét tương đồng với truyện thơ Nôm bình dân đồng thời cũng có những nét riêng mang dấu ấn sáng tạo của Nguyễn Bính. Bài viết tập trung làm rõ nét tương đồng cũng như những sáng tạo riêng của Nguyễn Bính ở Tỳ bà truyện so với truyện thơ Nôm bình dân của dân tộc ta.


1. Tỳ bà truyện và truyện thơ Nôm bình dân, những nét tương đồng


Tỳ bà truyện là một truyện thơ được một nhà thơ trong phong trào Thơ mới sáng tác nhưng về cơ bản tác phẩm vẫn mang những đặc điểm vốn có về nội dung và hình thức của thể loại truyện thơ Nôm, đặc biệt là truyện thơ Nôm bình dân. Ta có thể nhận thấy những điểm tương đồng ấy như sau:


Thứ nhất, Tỳ bà truyện vẫn xoay quanh đề tài tình cảm gia đình, trung hiếu tiết nghĩa mà chủ yếu là đề cao đức hạnh của người phụ nữ Triệu Ngũ Nương. Nguyễn Bính dành phần lớn tác phẩm khắc họa mối tình của Thái Bá Giai với Triệu Ngũ Nương. Từ lúc Ngũ Nương về làm vợ Bá Giai, tình cảm vợ chồng vô cùng thắm thiết: "Chàng đọc sách, thiếp xe tơ/ Đêm đêm trăng sáng làm thơ đầu giường". Không chỉ vậy, Ngũ Nương với cương vị là dâu con trong gia đình họ Thái, nàng đã hết sức chăm chỉ chăm lo cho gia đình chồng:


Nhà thanh đắp đổi bữa thường


Quản chi nắng sớm, chiều sương phai nhòa


Tròn nội trợ, vẹn tề gia


Ra đường vội vội, về nhà chăm chăm


Người phụ nữ ấy còn biết gạt chuyện nhi nữ thường tình, khuyên chồng lai kinh ứng thí. Nàng đã chăm lo chu toàn hành trang để Thái sinh yên dạ đi thi. Từ khi từ biệt chồng, Ngũ Nương luôn một lòng mong nhớ, lo lắng không yên. Rồi khi nàng lên kinh tìm chồng, biết được Thái sinh đã có vợ khác là con gái nhà quan cao sang quyền quý còn chàng thì cũng áo mão cân đai rỡ ràng, Ngũ Nương tuyệt vọng lặng lẽ bỏ đi. Sự ra đi của nàng như một sự hi sinh sau cùng để cho chồng mình tròn hạnh phúc. Rõ ràng đối với chồng, nàng đã một mực thủy chung trọn đạo vợ hiền.


Với chồng, Ngũ Nương trọn đạo vợ hiền, với cha mẹ chồng nàng cũng trọn lòng dâu thảo. Từ lúc Thái sinh cưới nàng về làm vợ, Ngũ Nương đã phải tần tảo sớm hơm lo cho gia đình. Khi chàng đi thi, nàng vẫn một lòng phụng dưỡng cha mẹ chồng. Gặp lúc thiên tai, đói kém Ngũ Nương vẫn một mực chăm lo chu toàn cho song thân:


Ngũ Nương mới thực lo phiền


Nhà nghèo lại gặp truân chuyên thế này


Bao nhiêu của cải riêng tây


Nàng đem bán rẻ từng ngày ăn đong


Gắng cho cha mẹ yên lòng


Đến khi Thái công rồi Thái bà qua đời, nàng đều lo tròn phận sự mặc dù đang trong tình cảnh vô cùng túng thiếu. Để có tiền lo ma chay cho Thái bà, Ngũ Nương đành phải:


Một mình tính đó toan đây


Chỉ duy còn mớ tóc mây đáng tiền


...


Cắt lòng một lưỡi dao đưa


Than ôi! Đôi ngả tóc tơ chia lìa


Rõ ràng, sáng tác Tỳ bà truyện, Nguyễn Bính đã khắc họa được một tấm gương trung trinh, hiếu thảo của Ngũ Nương, một nhân vật hiện thân cho vẻ đẹp của người phụ nữ vốn rất gần gũi truyền thống dân tộc.


Thứ hai, tác phẩm được kể theo trình tự thời gian, người kể chuyện đóng vai trò kể lại câu chuyện đã xảy ra ở thời quá khứ. Kết cấu truyện vẫn theo khuôn khổ của các truyện thơ Nôm bình dân, mở đầu truyện Nguyễn Bính đã mào đầu bằng hai cặp lục bát:


Ngẫm xem từ trước đến giờ


Việc đời thật biến như cờ thất tinh


Kim năng ngữ, kiếm dục minh


Ngán cho thế sự nhân tình bấy nhiêu!


Nó như lời bàn luận khái quát, sau đó câu chuyện được kể theo lời kể của người kể chuyện với trình tự thời gian. Truyện bắt đầu từ việc giới thiệu gia đình họ Thái rồi đến chàng thư sinh Thái Bá Giai, tiếp đến là Ngũ Nương. Câu chuyện cứ thế tiếp diễn theo chuỗi sự kiện: Thái Bá Giai cưới Ngũ Nương; Ngũ Nương khuyên chồng đi thi tạo lập công danh; Thái Bá Giai lên kinh ứng thí đỗ Trạng nguyên được bổ làm quan rồi làm con rể quan Thừa tướng, quên bỏ mẹ cha, vợ hiền; Ngũ Nương ở quê nhà thay chồng chăm lo cho cha mẹ chồng đến khi hai vị mãn phần rồi lên kinh tìm chồng; biết chồng đã đổi thay, Ngũ Nương lặng lẽ bỏ đi trong đau khổ. Với chuỗi sự kiện như thế, rõ ràng câu chuyện đã được người kể chuyện thuật lại. Việc thuật lại như thế tạo nên một khoảng cách nhất định giữa người kể chuyện và câu chuyện và do đó những biến cố có tính kịch tính để đẩy câu chuyện lên cao trào dường như chưa có. 


Thứ ba, nhân vật chính được đặt trong những biến cố để bộc lộ sự tích cực của nó. Cũng giống như các truyện Nôm bình dân, Tỳ bà truyện đã đặt nàng Ngũ Nương - nhân vật trung tâm của truyện - vào những biến cố để nàng bộc lộ phẩm chất của mình. Biến cố thứ nhất, đôi vợ chồng trẻ vừa cưới nhau được hai tháng, tình cảm đang rất nồng đượm. Thái Bá Giai quyến luyến vợ hiền không muốn đi thi. Ngũ Nương phải gạt tình riêng, khuyên chồng lên kinh tìm kiếm công danh. Biến cố thứ hai, Ngũ Nương ở quê nhà vừa phụng dưỡng cha mẹ chồng vừa ngày đêm trông ngóng tin chồng và phải đối mặt với thiên tai, mất mùa. Biến cố thứ ba, Ngũ Nương lên kinh tìm chồng thì mới hay người chồng nàng hết mực yêu thương đã phụ bạc nàng. Mỗi biến cố xảy ra là mỗi lần Ngũ Nương phải hành xử với các biến cố ấy. Cách hành xử ấy giúp chúng ta nhận ra phẩm chất của nàng, một thiếu phụ trọn lòng trung trinh, hiếu hạnh và giàu đức hi sinh, vị tha, độ lượng.


Thứ tư, Tỳ bà truyện có nhiều hình ảnh ước lệ, ngôn ngữ giàu màu sắc tượng trưng. Mặc dù đây là truyện thơ được viết vào thời kỳ rực rỡ của Thơ mới nhưng đọc truyện ta luôn bắt gặp những hình ảnh ước lệ. Khung cảnh ngôi nhà của Ngũ Nương được diễn tả: "Nhà ai vách trúc, vườn lan/ Thường nghe văng vẳng tiếng đàn bay ra". Tiếng đàn tỳ bà của Ngũ Nương cũng được miêu tả đầy ước lệ. Lúc Thái sinh đi ngang nhà Ngũ Nương nghe trộm tiếng tỳ bà thì:


Tiếng đâu thắm ngọc tươi hoa


Tiếng đâu nắng xế, trăng tà, mưa khuya


Tiếng đâu chắp nối chia lìa


Ngựa lên ải quạnh, chim về rừng xa


Khi Ngũ Nương trải bao biến cố, lặn lội tìm chồng thì tiếng đàn lại:


Tiếng đàn đậm nhạt mây bay


Nhặt thưa gió quyện vơi đầy triều âm


Bỗng không vò võ cung Hằng


Bỗng không nổi sóng đất bằng cung Ngô


Bỗng không cát trắng đất Hồ


Bỗng không nước đục đôi bờ sông Ngân


Rõ ràng những hình ảnh ước lệ ấy đã góp phần đắc lực cho việc diễn tả nhân vật cũng như sự việc.


Bên cạnh những hình ảnh ước lệ, Nguyễn Bính cũng khéo léo vận dụng nhiều ngôn ngữ tượng trưng khiến cho tác phẩm của một nhà Thơ mới rất gần gũi với ngôn từ của truyện thơ Nôm bình dân nói riêng và của văn chương trung đại nói chung. Đây là ngôn ngữ miêu tả vẻ đẹp nàng Ngũ Nương:


Liễu điều thua vẻ thướt tha


Đây là đâu?Phải đây là Đào Nguyên?


Cõi trần mà có người tiên


Nõn nà như huệ, dịu hiền như lan


Đây là ngôn ngữ tả cảnh trời vào thu:


Mặt đường thêm nhặt lá ngô


Bãi nằm xe cát đò đưa lạnh chèo


Khắp trời gió lộng vi veo


Sương mai dưới núi, nắng chiều trên sông


Diễn tả tình cảnh xa cách vợ chồng thì:"Hỡi ôi! Kẻ Việt người Tần/ Trông ra chỉ thấy mấy lần non xanh".


Như vậy, với bốn đặc điểm cơ bản đã trình bày như trên, chúng tôi cho rằng Tỳ bà truyện mang đầy đủ phẩm chất của một truyện thơ Nôm bình dân.


2. Tỳ bà truyện và truyện thơ Nôm bình dân, những sáng tạo của Nguyễn Bính


Phần trên, chúng tôi đã đề cặp đến những điểm tương đồng của Tỳ bà truyện với truyện thơ Nôm bình dân. Tuy nhiên, với tài năng của mình, Nguyễn Bính cũng để lại dấu ấn riêng của mình trong tác phẩm. Những điều ấy tạo nên nét riêng cho một truyện thơ được viết bởi cảm quan của của một nhà Thơ mới.


Thứ nhất, Nguyễn Bính đã dụng công đưa yếu tố tính dục vào tác phẩm như một điểm nhấn cho tư tưởng khai phóng con người ở thời kì văn học lãng mạn. Đây là điểm sáng tạo rất nổi bật và làm nên sự khác biệt rõ rệt giữa Tỳ bà truyện và truyện thơ Nôm bình dân. Khảo sát các truyện thơ Nôm bình dân, chúng tôi nhận thấy cảnh ái ân vợ chồng không mấy khi được đề cập tới, mặc dù các tác giả luôn khắc họa tình yêu thắm thiết của họ. Trong khi đó, Nguyễn Bính lại luôn mô tả tỉ mỉ những cuộc yêu đương trong truyện thơ của mình. Đây là cảnh ái ân giữa Thái Bá Giai và Ngũ Nương:


Mắt ngà men rượu yêu đương


Thái sinh dần rõ Ngũ Nương nõn nà


Tóc nhung viền suốt thân ngà


Nhụy hồng e ấp, tình hoa đầu mùa


Rùng mình như nếm mơ chua


Cái tê tái muốn vỡ bờ hợp hoan


Nóng sôi ý phượng tình loan


Hỡi ôi! Bó thắt đôi làn cánh tay


...........


Mày cau đôi má chín nhừ


Tân nương ứa lệ, hoen mờ mắt xanh


Thoắt mà đêm đã tàn canh


Sáng bong bóng cá, qua mành mưa bay


Nhành hoa tươi ngại ánh ngày


Tiếng gà ướt mượt, giọng đầy nước mưa


Đây là cảnh ái ân của Thái sinh với vợ sau là Ngọc Nương:


Ngọc Nương môi mọng yên chi


Áo xiêm tuần tự biệt li thân ngà


Cổ tay nõn tháo vòng ra


Rút trâm tóc xổ màu da thêm hồng


Đường cong, ôi! Những đường cong


Đến đong đưa, đến não nùng, đến hay


Cao cao thôi lại dày dày


Trắng trong màu tuyết tròn đầy gương nga


...


Cành tơ nõn, búp xuân tròn


Mày cong nét liễu, môi son hình thuyền


Cảnh tràn đầy sắc dục. Vậy những cảnh ấy có làm dung tục? Có tạo nên những vết đen cho câu chuyện? Chúng tôi cho rằng, Nguyễn Bính đã không dung tục khi miêu tả những cảnh ấy. Có lẽ ông chỉ đang miêu tả những con người như bản chất mà nó vốn có: nhu cầu tính dục. Hơn nữa những cảnh ấy đã được thể hiện trong những khung cảnh thật trang trọng. Trước khi ân ái, nàng Ngũ Nương đã tâm sự nhiều lẽ với Thái sinh. Trong không gian của phòng hoa chúc nàng đã tính đến chuyện sau này: "Trước là phụng dưỡng song thân/ Sau là sửa túi nâng khăn cho chàng/ Mong sao trọn nghĩa đá vàng/ Lấy chồng thì gánh giang san nhà chồng". Cho nên cái việc ái ân kia cũng đã là một phần của thủ tục hôn nhân, một minh chứng cho lứa đôi bền chặt. Còn ở cảnh ân ái giữa Thái sinh với Ngọc Nương về bản chất cũng là cảnh hoa chúc, loan phụng hòa minh. Nó còn góp phần lý giải cho việc bội ước của Thái sinh sau đó. Chúng tôi cho rằng, với con mắt của một nhà Thơ mới, Nguyễn Bính đã đưa hơi thở mới mẻ vào khuôn khổ truyện thơ làm cho câu chuyện trở nên ấn tượng với người đọc.


Thứ hai, nhân vật được xây dựng có tích cách rõ nét, nhân vật được khắc họa nhiều qua lời đối thoại và độc thoại. Trong tác phẩm các nhân vật nhất là nhân vật chính được tác giả chú tâm khắc họa tính cách rất rõ nét. Nhân vật Ngũ Nương là nhân vật trung tâm của truyện lại được giới thiệu một cách gián tiếp qua nhân vật Thái sinh. Mở đầu câu chuyện, tác giả giới thiệu gia cảnh và nhân vật Thái Bá Giai. Khi chàng thư sinh Bá Giai đi học, tình cờ nghe được tiếng đàn mới tìm hiểu người đánh đàn là ai, từ đó Ngũ Nương mới xuất hiện. Cách giới thiệu nhân vật như thế rất tự nhiên mà lại mới mẻ (so với truyện Nôm bình dân). Suốt truyện, nhân vật Ngũ Nương luôn được miêu tả là một phụ nữ hết mực thương chồng, hết lòng hiếu thảo với cha mẹ chồng và rất giàu đức hi sinh. Tính cách ấy ở nàng đã được bộc lộ rõ qua diễn tiến câu chuyện. Một mặt nàng khuyên chồng đi thi để tìm kiếm công danh nhưng khi tiễn chồng ra đi nàng lại buồn bã, sầu thương và có lúc thầm trách hành động khuyên chồng đi thi của mình. Có thể thấy, Nguyễn Bính đã thật sự thành công trong việc khắc họa nhân vật tính cách.


Nhân vật tính cách khác cũng là một thành công trong việc tạo dựng nhân vật theo nét riêng của Nguyễn Bính là Thái Bá Giai. Đây là nhân vật chính của truyện. Nhân vật này có sự thay đổi về tính cách. Lúc đầu là một thư sinh nặng tình với vợ, nhưng khi tới chốn phồn hoa, gặp bả vinh hoa nhất là trước quyền thế của quan Thừa tướng họ Ngưu chàng đã trở thành kẻ phụ bạc và bất hiếu. Để giữ vững địa vị của mình chàng đành giấu nhẹm chuyện gốc tích gia đình bằng cách nói dối là cha mẹ đã qua đời từ lâu cũng như giấu biệt chuyện đã có vợ là Ngũ Nương, tuy nhiên trong tâm Thái Bá Giai vẫn luôn có gì đó dằn vặt vì sự gian dối, phụ bỏ cha mẹ và Ngũ Nương. Nếu đối chiếu với truyện thơ Nôm bình dân, nhân vật Thái sinh là một sáng tạo lớn của Nguyễn Bính vì các nhân vật trong truyện thơ Nôm đều là nhân vật thống nhất về tính cách.


Cũng liên quan đến nhân vật, chúng tôi cho rằng Tỳ bà truyện có lẽ đã khắc họa tích cách, tâm lý nhân vật bằng lời thoại của chính nó nhiều hơn là lời kể của người kể chuyện và hành động nhân vật. Điều này giúp cho nhân vật tự bộc lộ bằng diễn ngôn của mình có nghĩa là các nhân vật đã được khắc họa rất gần với con người thực thụ ngoài xã hội.


Thứ ba, tác phẩm không kết thúc có hậu như truyện thơ Nôm bình dân mà là một kết cục đau thương cho nhân vật trung tâm (nàng Ngũ Nương) để góp phần tô đậm thêm nỗi đau cũng như sự cao cả của người phụ nữ. Kết thúc có hậu đã là mô típ quen thuộc trong thể loại truyện thơ nói chung, truyện thơ Nôm bình dân nói riêng. Nó góp phần truyền tải đạo lý ở hiền gặp lành vốn có từ truyện cổ tích của dân tộc ta như Thoại Khanh sau bao vất vả lại đoàn tụ cùng Châu Tuấn (truyện Thoại Khanh Châu Tuấn), Phạm Tải với Ngọc Hoa (truyện Phạm Tải Ngọc Hoa), Tống Trân với Cúc Hoa (truyện Tống Trân Cúc Hoa),... Nhưng ở Tỳ bà truyện, Nguyễn Bính đã lựa chọn kết thúc với hình ảnh nàng Ngũ Nương đau khổ vì nhận ra sự phản bội của chồng mình và "Từ lưu lạc với cây đàn/ Chẳng còn ai thấy bóng nàng Ngũ Nương"... Việc lựa chọn kết thúc đắng lòng này đã phá vỡ kết cấu vốn có của truyện thơ Nôm đồng thời góp phần thể hiện dấu ấn của tác giả. Nguyễn Bính là nhà thơ có nhiều cảm tình với phụ nữ. Thơ ông luôn dành nhiều trang cho phụ nữ, nhưng thường là những người phụ nữ có số phận hẩm hiu như cô gái trong Lỡ bước sang ngang hay Cô hàng xóm,... Cho nên, cái kết của Tỳ bà truyện như góp thêm một Ngũ Nương vào hàng ngũ những nhân vật phụ nữ bất hạnh của Nguyễn Bính, đồng thời cái kết đó cũng khắc sâu thêm đức hi sinh cao cả của người phụ nữ chấp nhận đau thương một mình hơn là gây thêm rắc rối cho người chồng cũ. Xét ở góc độ đó, tính nhân văn của câu chuyện là rất cao.


Như vậy dù là một truyện thơ nhưng Tỳ bà truyện lại mang hơi thở của sự mới mẻ cũng như mang đậm dấu ấn sáng tạo của thi sĩ Nguyễn Bính.


Trong các trước tác của Nguyễn Bính, Tỳ bà truyện dường như chưa được độc giả cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm đến. Sơ bộ tiếp cận tác phẩm từ góc độ đối chiếu với truyện thơ Nôm bình dân, chúng tôi cho rằng tác phẩm này vẫn có một vị trí riêng rất đáng ghi nhận trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính cũng như vị trí của nó trong sáng tác văn chương giai đoạn 1930- 1945 ở nước ta.


Phạm Phi Na


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »