tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
06.03.2009
Nguyễn Q. Thắng
Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2)

2


Trưng Trắc, Trưng Nhị và hai ông quan dê.


Cảnh khi nãy, Trưng Trắc ngồi may đặng khuây lãng. Trưng Nhị ngồi đọc sách cho Trưng Trắc nghe.


TRƯNG NHỊ, đọc chậm rải. - Mạnh Tử nói: "Ngoài đường có xác chết đói, mà vua lại bảo rằng tại năm mất mùa chớ không phải tại vua. Như thế thì có khác gì đâm chết người mà lại bảo rằng không phải mình giết, là cây gươm giết.


            Nhà vua trong bếp có thịt béo, trong chuồng có ngựa béo, mà dân có sắc đói, ngoài nội có kẻ chết đói, thế có phải là đem giống thú cho ăn thịt người không?"


            Mạnh Tử nói: "Nếu không có của có lương tri mà giữ được lòng tốt, thì chỉ những hạng có (học thức) mới được thế. Còn thường dân thì nếu không có của tất là không có lòng tốt. Đã không có lòng tốt thì phóng túng làm càn, việc gì lại không làm. Đến lúc vướng vào tội thì vua lại theo mà bắt phạt, thế là đánh lừa dân đó."


CON TÌ NỮ vào, nói với Trưng Trắc - Thưa bà, có quan Tuần phủ và quan Án sát đến xin viếng Bà.


Trưng Trắc liếc ngó sắc mặt của Trưng Nhị. Trưng Nhị nổi sắc giận.


TRƯNG NHỊ - Quân khốn! Cho đến lúc này mà chúng nó cũng còn dám mang mặt đến đây.


TRƯNG TRẮC, thở ra. - Đến thế này mà cũng còn chưa hết khổ.


Trưng Trắc như rán ép mình mà bảo con tì nữ:


            Mời hai ông vào đây.


Con tì nữ đi ra. Trưng Nhị kéo cái ghế của mình lại một chỗ góc mà ngồi xem sách. Con tì nữ dắt hai ông quan dê vào, rồi lui ra.


TUẦN PHỦ - Chào Bà.


ÁN SÁT - Chào Bà.


Hai ông ngó thấy Trưng Nhị, muốn chào Trưng Nhị. Nhưng mà Trưng Nhị cứ gục mặt coi sách, như không thấy, không nghe hai ông quan vào.


TRƯNG TRẮC, gượng, rán tiếp rước theo lễ phép - Xin mời quan Tuần phủ và quan Án sát ngồi.


Hai ông quan ngồi.


            Tì nữ, chế trà mau lên.


            Nghe tiếng con tì nữ dạ. Trưng Trắc têm trầu ăn. Hai ông quan bợ ngợ, không biết mở đầu nói chuyện chi. Hai ông ngó nhau. Quan Tuần phủ chúm chím cười, rồi lấy tay thọc quan Án sát bảo nói.


ÁN SÁT - Cảnh đau đớn của Bà, không có cảnh nào đau đớn bằng. Quan Tuần phủ với tôi đến xin Bà cho chúng tôi chia buồn cùng Bà.


TUẦN PHỦ - Quan Án sát với tôi đến xin Bà cho chúng tôi chia buồn cùng Bà.


TRƯNG TRẮC - Tôi rất cám ơn hai quan.


ÁN SÁT - Cháu nó chơi?


TUẦN PHỦ - Cháu nó chơi?


TRƯNG TRẮC - Dạ, nó chơi.


ÁN SÁT - Bữa nay coi Bà ốm hơn khi trước và có sắc mệt.


TUẦN PHỦ - Bà ốm hơn khi trước và có sắc mệt.


ÁN SÁT - Bà cũng nên dằn lòng buồn xuống. Nếu Bà rủi đau thì sợ hại đến cháu.


TUẦN PHỦ - Rủi đau ốm thì sợ hại đến cháu.


TRƯNG TRẮC - Đờn bà gặp cảnh này khó mà tĩnh tâm


TUẦN PHỦ - Thật cũng khó mà tĩnh tâm.


ÁN SÁT - Số mạng của con người là ở nơi Trời định. Mỗi người có số mạng riêng. Cho nên nghĩ lại cũng chẳng nên buồn rầu thới quá. Việc sống chết là việc ai ai cũng phải để tâm đề phòng trước. Nếu muốn sống cho bớt khổ tâm thì phải tính trước rằng những tai nạn nó đến cho mình là vì Trời định không thể lánh được. Sống đây là sống tạm.


TUẦN PHỦ - Sống đây là sống tạm.


Trưng Trắc ngồi nhai trầu, ngó mông ra cửa.


ÁN SÁT - Sống đây là sống tạm. Mà vì con người không tính cho mình là sống tạm, cho nên mắc đau khổ nhiều.


TUẦN PHỦ - Tại vậy mà mắc đau khổ nhiều.


ÁN SÁT - Trời đất kia bốn mùa xây vần mãi mãi. Đến mùa xuân thì bông hoa đua nở, qua đến thu thì lá rụng hoa tàn. Bao nhiêu sự quí báu tốt đẹp của mùa xuân phải tiêu nát ra bụi ra bùn, mà nào có thấy trời đất buồn đâu. Vì, hết xuân này còn xuân khác, cho nên trời đất không buồn.


            Con người là tạo vật của Trời. Nếu muốn ở cho trúng đạo thì phải do theo phép tắc của Trời mà ra.


Trưng Trắc cứ ngồi nhai trầu, ngó mông ra cửa. Trưng Nhị đứng dậy, bỏ cuốn sách xuống ghế, rồi đi ngay lại hai quan dê. Hai quan lật đật đứng dậy chào một cách lễ phép thái quá.


TRƯNG NHỊ - Xin hai quan cứ ngồi.


Quan Án sát với quan Tuần phủ ngồi xuống. Hai quan như bợ ngợ.


            Xin lỗi hai quan. Khi nãy đến giờ tôi có vô phép để tai nghe hai quan nói chuyện. Tôi nghe qua thì đủ biết quan Án sát trí thức cao. Quan Án sát nói ra một lời, chắc là trong lời ấy có ý cao sâu chi.


            Tôi xin hỏi quan Án sát vậy chớ quan Án sát nói: "Xuân này hết, còn xuân khác, cho nên trời đất không bao giờ buồn", rồi quan Án sát lại nói: "Nếu muốn ở cho trúng đạo thì phải do theo phép tắc của Trời mà ở". Quan Án sát nói mấy câu đó là muốn nói gì?


ÁN SÁT - Tôi nói mấy lời ấy là vì không biết dùng lời nào khác mà giải buồn cho bà Thi Sách.


TUẦN PHỦ - Quan Án sát muốn giải buồn cho bà Thi Sách.


TRƯNG NHỊ, nổi giận - Quan Tuần phủ ra lịnh bắt anh Thi Sách. Quan Án sát lên án xử tử anh Thi Sách. Nay quan Tuần phủ với quan Án sát đến đây mà giải buồn cho vợ của anh Thi Sách, nghĩa là gì?


ÁN SÁT - Chúng tôi làm quan, dẫu chức lớn thế nào cũng là dưới tay của Tô Định. Dân Việt Nam ở dưới quyền của nước Tàu, mắc trong luật pháp của nước Tàu định cho dân Việt Nam thì không ai là người Việt Nam mà khỏi mắc trong luật pháp ấy. Điều ấy, lúc Thi Sách còn sống, Thi Sách cũng dư biết. Còn chúng tôi, chúng tôi là người dưới quyền của Tô Định, không thể nào không vâng theo lịnh của Tô Định được. Chúng tôi tuy chức cao quyền lớn, nhưng không phương cứu Thi Sách. Nay quan Tuần phủ với tôi đến đây là như lén đến đặng tỏ tình riêng chia buồn cùng bà Thi Sách.


TUẦN PHỦ - Phải. Phải. Nói như vậy là đúng lắm.


TRƯNG NHỊ - Như hai quan đến lén vì tình riêng, thì tôi được phép hỏi hai quan như hỏi người thường kia, nghĩa là như hỏi người có lương tâm, có đạo đức.


            Anh Thi Sách là người trung chánh, cao thượng thể nào, hai quan cũng có dư biết. Chánh phủ Tàu áp chế dân ta thể nào hai quan cũng đã dư biết. Nào là tiền xâu, tiền thuế, nào là tiền phạt vạ, nào là huê lợi rừng sông, chánh phủ Tàu tiêu xài của dân Việt Nam, mà không thấy chánh phủ Tàu lột ra một chút gì là có lo cho dân Việt Nam, biết thảm thương cho dân Việt Nam làm thân trâu ngựa cho chánh phủ Tàu. Đã đánh đập hút máu của dân, lại thêm dâm dục gạt vợ con của dân đến nhà mà hãm hiếp. Bao nhiêu đấy chưa đủ cho nên còn phải làm điều tồi bại giữa chợ. Anh Thi Sách vì thấy một thằng thơ kí của bọn quan lại Tàu rờ khu rờ vú con gái giữa chợ, nên nóng lòng đánh thằng thơ kí ấy là người Tàu, nên anh Thi Sách phải bị tội tử hình. Còn người Tàu giết người Việt Nam bấy lâu nay là bao nhiêu, sao không thấy ai làm tội người Tàu?


            Người Tàu như thế ấy, ai là người có chút lương tâm cũng không thể hòa hiệp với người Tàu, có đâu lại chịu làm tôi tớ cho người Tàu, cầm quyền trị dân giúp sức cho người Tàu đánh đập hút máu dân Việt Nam, và phá hoại phong tục của mình.


ÁN SÁT - Cô nói vậy là vì không suy xét giùm cho chúng tôi. Chúng tôi có gia đình đông. Con của chúng tôi đông mà lại tới tuổi lớn khôn, phải lo ăn học đặng mai sau làm người cho đứng đắn.


TUẦN PHỦ - Chúng tôi phải lo nuôi vợ, nuôi con.


TRƯNG NHỊ - Người quân tử thà ăn rau uống nước lạnh mà giữ một lòng ngay thẳng cho đến cùng, chớ chẳng bao giờ đồng tâm với bọn tà vạy mà ăn vàng nuốt ngọc. Ngoài cái phương làm quan, người tài trí như hai quan không phương nào khác đặng lo sanh nhai sao? Nhưng mà hai quan vì có tiểu thiếp nhiều quá nên phải lo cho có tiền nhiều đặng đủ nuôi tiểu thiếp. Giữ một đường ngay thẳng cho đến cùng, ấy chẳng phải là làm gương để dạy con sao? Vả lại con cháu nó có cái phần hạnh phúc riêng của nó.


ÁN SÁT - Đờn bà mà lí lẽ thật nhiều!


TUẦN PHỦ - Lí lẽ thật nhiều!


TRƯNG NHỊ - Các ngài chẳng qua là cũng một lũ, một thói với mấy thằng Tàu. Các ngài còn hèn thấp hơn mấy thằng Tàu, vì các ngài phải làm nô lệ cho chúng nó đặng thỏa lòng tàn ác dâm dục của các ngài.


Tuần phủ ngó Án sát.


ÁN SÁT - Cô không sợ thất lễ hay sao?


TRƯNG NHỊ - Hai ông là người vô lễ. Giết chồng người ta là người trung chánh mà không chút nào biết thẹn với lương tâm của mình, lại còn mang mặt đến đây chọc ghẹo người ta. Chúng tôi không phải là con nít mà không biết rằng hai ông giả mặt đến viếng thăm đặng ve chị tôi.


Tuần phủ sượng mặt, ngó Án sát như đợi coi Án sát trả lời thế nào.


ÁN SÁT, cười cười - Chẳng phải một mình bà Thi Sách có sắc mà thôi. Cô có kém chi bà Thi Sách đâu.


TRƯNG NHỊ, nổi giận - Đồ khốn! Bây phải ra khỏi nhà lập tức. Bằng không thì tao bảo mấy đứa tì nữ nó lấy chổi đuổi bây.


Tuần phủ với Án sát xấu hổ, mặt giận đỏ, liền đứng dậy.


ÁN SÁT - Không nơi nương dựa mà không biết thân. Ở trong tay ta mà lại làm dữ với ta.


Hai ông quan dê vừa ra, thì Trưng Trắc khóc ròng.


TRƯNG NHỊ, còn giận - Quân khốn! Thấy người nước mình như vậy mà hết oán giận kẻ ngoại quốc.


            Sao chị còn khóc? Với quân đó mà dùng cách đó, còn chưa vừa lòng mình.


TRƯNG TRẮC - Chị lo sợ cho em lắm. Quân nó là thấp hèn, nhỏ mọn lắm, em ơi. Làm sao cũng không khỏi chúng nó trả thù.


TRƯNG NHỊ - Chị cứ yên tâm. Em đủ sức mà đối đầu với chúng nó.


 


3


Cảnh khi nãy, Trưng Nhị ngồi nói chuyện với một người khách. Người này là Lí Định, chừng 30 tuổi, lúc trước có ra làm quan võ. Vì thấy nhiều điều không vừa lòng, nên xin trả chức về ở nhà quê. Lân la yêu mến Thi Sách vì kính phục tánh tình của Thi sách. Thường hay đến ở nhà Thi Sách, nên coi Trưng Trắc và Trưng Nhị như bà con thân thích lắm.


Mắc trong cái cảnh khổ nhục của nước Việt Nam lúc ấy, mà trai như Lí Định, gái như Trưng Nhị, để ý yêu thầm nhau, là lẽ thường.


Lúc kéo màn lên, Lí Định như bợ ngợ, như đợi Trưng Nhị nói điều chi.


TRƯNG NHỊ - Chị Trưng Trắc với em mắc trong cảnh khổ này, mà anh lại hỏi ý của em về việc ấy, thật là anh không suy nghĩ kĩ cho em về cái cảnh riêng của em ngày nay. Anh mà không suy xét kĩ giùm cho em thì em hết biết trông chờ ai. Anh tính như vậy, em sợ cho thiên hạ sẽ nói anh bây giờ là kém hơn lúc trước.


LÝ ĐỊNH - Em với Trưng Trắc không còn bà con nương dựa. Chị Trưng Trắc buồn rầu, bối rối như người mất hồn. Lại có con thơ. Em là gái chưa chồng. Em lại mới vừa thuật lại cho anh nghe chuyện hai thằng khốn nạn đó nó đến đây mà lộ lòng khốn nạn của chúng nó ra. Nên anh tưởng anh tính như vậy là phải. Anh cũng biết rằng trong lúc này mà bày ra việc cưới hỏi thì thế nào cũng có kẻ hiểu sái mà cười anh.


TRƯNG NHỊ - Có lẽ cũng cười luôn đến em cho em là người vội tính, giỏi dùng dịp hay.


LÝ ĐỊNH - Em dùng chi giọng ấy. Như anh có tính sai, thì em chỉ giùm cho anh. Anh tính vậy là chỉ muốn lĩnh phần bảo hộ chị Trưng Trắc và em mà thôi.


TRƯNG NHỊ - Việc của anh tính đó không vừa lòng em chút nào. Anh đã yêu quí anh Thi Sách là một người quí báu nhứt trong nước Việt Nam ngày nay. Đức Khổng Tử hay khen thầy Nhan Hồi giữ được điều nhơn ba tháng không trái. Còn anh Thi Sách, ảnh mắc trong cảnh áp chế ngày nay, mà đã giữ được nết người quân tử, lại còn dám một mình ra chống với bọn tàn ác, như thế không đáng cho ta cho anh Thi Sách là người anh hùng sao? Quí báu như anh Thi Sách mà phải bị chết cách đó, thì cái thân của chị Trưng Trắc với cái thân của em, dầu anh không lo bảo hộ mà mắc phải trăm sự gian nan, có chi cho rằng đáng tiếc? Bọn quan lại Tàu nó giết anh Thi Sách mà không động lòng dân, thì nghĩa là chúng nó đã giết được cái tinh thần của dân Việt Nam rồi. Điều ấy mới là đáng lo, đáng tiếc.


LÝ ĐỊNH - Có phải em muốn nói anh đã bị quân Tàu nó giết chết tinh thần rồi hay không?


TRƯNG NHỊ - Em không phải muốn nói một mình anh. Nhưng mà em lấy làm lạ, sao anh không có một lời lộ ra là anh có tức giận vì mất anh Thi Sách, là mất một người rất quí báu của xã hội yếu hèn nay cần phải có hằng ngày? Em là đờn bà mà em còn tức giận như thế này. Anh là đờn ông, anh phải tức giận thế nào nữa mới là phải?


Lí Định ngó xuống đất. Lẳng lặng một hồi lâu.


LÝ ĐỊNH - Lúc mới nghe tin anh Thi Sách phải bị tử hình, vì rủi tay đánh chết một thằng thơ kí của bọn quan lại Tàu, thì anh tức giận lắm. Có lẽ lúc ấy anh tức giận hơn em nữa chăng.


            Những lời em mới vừa nói với anh đó, anh đã có tự nói với anh hết. Anh có nói: giết mấy triệu người ngu hèn không làm cho mình đau tiếc, bằng giết anh Thi Sách.


            Nhưng mà, đối với bọn cường quyền, anh đây như gà bị trói.


            Nghĩ như vậy, nên phải gục đầu chịu nhục, nuốt giận rồi giả điếc giả đui, làm cho trong tâm mỗi ngày, mỗi thêm yếu hèn. Cho nên ngày nay, cái tình của anh yêu thương em, và thảm thương cho chị Trưng Trắc, nó lướt nổi cái lòng tức giận của anh vì chuyện của anh Thi Sách. Xin em thứ cho anh.


            Anh ra người yếu hèn như thế này, anh không dám tức giận quân bạo ác, là vì anh không đủ sức làm cho đã lòng tức giận của anh.


Lẳng lặng, Lí Định và Trưng Nhị hai người cũng đều ngó xuống đất. Lí Định mặt buồn lắm.


TRƯNG NHỊ - Như em có lỡ thô kịch với anh. Xin anh rộng lòng đừng chấp nhứt em.


Nín một lát.


LÝ ĐỊNH - Anh tỏ hết cho em biết anh khổ tâm thế nào.


            Lúc anh vì thấy bao nhiêu việc đê tiện tàn ác của bọn quan lại Tàu mà bỏ làm quan xin về làm dân ở chốn thôn quê, là cho đặng xa kinh đô, thiềng thị, đặng tai không nghe, mắt không thấy những điều không vừa lòng.


            Nhờ quen với anh Thi Sách, anh mới bớt chán đời.


            Chừng anh rõ biết em thì anh lấy làm yêu quí em. Em cứu anh tỉnh lại nhiều lắm. Anh đã hết ngã lòng, hết chán đời, mà anh lại còn tưởng anh có thể sống lại một cách vui vẻ như thuở trước. Anh ước mong lập được một cái gia đình với em. Anh cũng còn không tin anh đủ sức thắng nổi điều quấy trong xã hội. Nhưng mà anh tin nơi con cháu của anh ngày sau.


            Rồi, lắm khi anh lại nghĩ: "Mình đây là đã có thân, có biết khôn dại, có biết đau khổ, mà mình còn không trọn phận sự của mình nổi. Mình lại trông mong nơi con cháu về sau, thì lấy gì làm chắc?


            Như con cháu của mình chúng nó cũng yếu hèn, cũng trông mong nơi con cháu của chúng nó nữa, thì biết bao giờ nòi giống của ta vuột khỏi cái ách trâu ngựa?


            Biết bao giờ thở được thanh khí?


            Biết bao giờ trong xã hội điều phải thắng được điều quấy?


TRƯNG NHỊ - Rồi anh tính thể nào đặng giải sự khổ tâm ấy?


LÝ ĐỊNH - Có lương tâm mà không phương thắng nổi bọn vô lương tâm, thì có cũng như không có. Như thế còn lí gì cao thượng đâu đặng sống.


            Nay trong đời của anh có cái tình của anh thương em là quí, nên anh muốn yêu mến trọng thờ em cho ra như người say, cho quên mất cái tánh yếu hèn của anh. Sống vì em cũng đủ cho anh muốn sống.


TRƯNG NHỊ - Anh Lí Định! Anh vì tức giận quá mà không tỉnh trí, mà tưởng mình đã đến nỗi ấy. Anh cũng biết rằng như thật anh đã đến nỗi ấy, thì em không thể đồng tâm, đồng ý với anh.


LÝ ĐỊNH - Anh cũng biết điều ấy. Anh đã nói hết điều tâm sự của anh cho em nghe, là đặng cho em đừng nói oan cho anh nữa. Anh cũng biết hễ nói ra rồi, thì anh hết còn trông mong cho em yêu mến anh được.


Lí Định gục đầu như người thất vọng, như mỏi mệt.


TRƯNG NHỊ - Anh vội nóng, mà cũng vội ngã lòng.


            Như anh thương em, thì xin anh phải nghe em.


            Em biết anh hơn anh biết anh.


            Em tin rằng anh là người đáng cho em quí, đáng cho em thờ.


            Nhơn, trí, dõng. Ba điều của thánh nhơn buộc người quân tử, ba điều ấy anh có đủ. Anh lại có làm quan võ, thông thạo binh thơ, từng cầm binh khiển tướng.


            Từ ngày Tàu lấy nước Việt Nam, những điều bạo ngược tàn ác của người Tàu là như hằng hà sa số. Từ nam chí bắc ai ai cũng đều chán ngán với chúng nó rồi.


            Lúc này mà không tĩnh tâm thì đợi lúc nào.


Lí Định thở ra, rồi ngó mông ra xa, mặt còn buồn, nhưng mà lóng tai nghe Trưng Nhị.


            Nóng lắm thì rối tâm rối trí. Nóng lắm thì mạnh bao nhiêu cũng hóa ra yếu, hay hóa ra dở.


Lí Định ngó Trưng Nhị như lấy làm lạ.


Trưng Nhị ngó ngay vào mắt Lí Định như muốn hiểu biết trong tâm của Lí Định. Vừa ngó vừa bước lần tới.


Lí Định lấy làm lạ, ngó Trưng Nhị chưng hững. Trưng Nhị đi lần tới trước mặt Lí Định, rồi quì trước chơn Lí Định.


                        Tình của anh rất nặng, em đâu dám xấu cùng anh.


                        Xin anh chớ khá ngã lòng.


                        Sống chết đã cho là thường,


                        nếu anh giữ một mực anh hùng,


                        thì em đâu dám chối từ,


                        dẫu làm thân trâu ngựa cho anh,


                        em cũng vui.


Trưng Nhị quì, cúi đầu. Lí Định ngó ngay trước mình, rồi trên mặt nổi ra sắc người quyết định.


Lí Định mắt cũng cứ ngó ngay trước mình, tay mặt thỉnh thoảng đưa lên vuốt đầu Trưng Nhị.


 


4


Phong cảnh nhà quê. Một cái nhà lá của nông phu. Ngoài cửa có một cái lu nước, và một cái gáo nước.


Đồng ruộng minh mông. Ba bốn xóm nhà, năm bảy cái mồ lải rải. Ở xa có núi non. Trời xanh trong, mây trắng như bọt nước.


Một anh nông phu ở trong nhà đi ra, cỡ 50 tuổi, đi bộ thong thả, ra đứng xem trời hướng cảnh.


NÔNG PHU - Sân còn ướt ướt, đi thật mát chơn. Đêm nay trời mưa cũng là lớn. Mới xuống có một đám mưa, mà cây lá coi thật sạch, màu tươi như mới nhuộm. Trời trong xanh, mây trắng như bọt nước. Bữa nay mát mẻ hơn hôm qua trăm phầm.


            Năm nay đã khổ như thế này, nếu rủi thất mùa thì không đủ mà trả xâu đóng thuế. Có đâu dư mà nuôi thân.


Ngó vô nhà mà nói lớn


            Mẹ nó a!


Trong nhà có tiếng đờn bà trả lời:


            Dạ.


            Thằng Nghĩa thả trâu hồi nào?


VỢ NÔNG PHU,  ở trong nhà trả lời ra - Hồi còn mờ mờ mặt đất.


NÔNG PHU - Chắc là có nhờ mẹ nó kêu, nên thằng Nghĩa bữa này mới thức dậy sớm như vậy.


VỢ NÔNG PHU,  trong nhà trả lời ra - Nhờ có cha nó rầy nó hôm qua đó chớ. Nó nói cha nó rầy oan cho nó, nói nó ham chơi, mắc mê chơi nên không lo dời trâu cho thường, cho nên trâu đói. Chớ sự thật thì là vì đồng này ít cỏ. Cho nên hôm nay nó thức dậy sớm đặng đuổi trâu đi ăn xa, coi thử có ở đâu có cỏ nhiều hay không.


NÔNG PHU - Có lúc nào rầy thằng Nghĩa mà nó không nói rầy oan cho nó.


Nông phu nói một mình:


            Trong nhà chỉ có ba thằng con trai. Hai thằng lớn nhờ như tay chơn, mà lại bị: một thằng phải đi lính, một thằng xuống huyện chơi, đi ngang trước cửa nhà quan huyện, rủi quên cúi đầu, bị lính của quan huyện bắt bỏ tù, cho đến nay gần một tháng mà quan huyện chưa thứ tội cho nó.


            Cha chả! Như quan huyện không thứ tội cho nó, thì mời là khổ cho cái thân già này. Mùa màng năm nay lại đến sớm.


Vợ của anh nông phu, độ 50 tuổi, áo dài vạt trước quấn lưng, trong nhà đi ra, hai tay bưng một nồi gạo, ra ngồi bên lu nước, múc nước vo gạo.


            Nầy mẹ nó! Tôi muốn cố ruộng của mình cho rể của quan huyện đặng, trước là để thuê nhơn công phụ giúp lo việc cày cấy, tôi năm nay yếu sức mà hai thằng lớn lại mắc việc gian nan, sau nữa là, sẵn dịp đến vay bạc, mình liều tốn ít nhiều với con gái của quan huyện đặng lo tính cho thằng đó nó ra khỏi tù đi cho rồi.


VỢ NÔNG PHU, ngưng vo gạo, suy nghĩ rồi nói - Như túng thế mà phải đến nỗi ấy, thì cha nó tính thể nào, tôi cũng đồng ý. Nhà mình bấy lâu nay đã giữ được không bao giờ phải mắc nợ, mà nợ thì nó sanh năm đẻ bảy, càng để lâu ngày thì nó càng nặng thêm. Thiếu nợ lại thiếu của con quan, rủi phải trễ nãi thì không phải là chuyện dễ.


            Mồ mả ông bà còn nằm sờ sờ đó. Ông bà đã mấy đời lưu truyền cho con cháu, đặng cho con cháu gìn giữ để nuôi thân, khỏi làm tôi tớ ai.


            Như mình ngày nay không hết sức cẩn thận, rủi sanh ra việc rối lo, thì dưới chín suối có lẽ ông bà giận trách.


            Cha nó cứ suy xét cho kĩ, rồi định sao thì định, tôi đâu dám nghịch ý.


Anh nông phu thở ra.


Kế có một chị buôn bán, có quen, đi đường mệt, ghé vào nhà, trước là nghỉ chơn, sau là viếng thăm.


CHỊ BUÔN GÁNH, gánh gánh đi vô, vừa nói vừa cười - Lâu ngày đến thăm hai ông bà, mà lại trúng nhằm bữa hai ông bà coi như có chuyện gì không được vui.


Chị buôn gánh để gánh xuống, đi ngay lại lu nước lấy gáo mà uống nước.


VỢ NÔNG PHU - Ủa! chị Bảy!


NÔNG PHU - Ủa! chị Bảy!


VỢ NÔNG PHU - Sao mà đã hơn nửa tháng không thấy chị đi đường này?


CHỊ BUÔN GÁNH - Tôi đây còn một chút nữa tưởng là xuống mồ rồi. Con nhỏ của tôi nó có lập một cái tiệm ở dưới huyện. Tôi nhờ xuống ở dưới nhà của nó đặng uống thuốc của thầy giỏi mới là còn sống đây.


VỢ NÔNG PHU - Hèn chi nước da của chị coi còn xấu quá. Chị bán gì đó?


CHỊ BUÔN GÁNH - Tôi xay được một giạ gạo và hái được một thúng rau muống, đem ra chợ đổi đặng mua ăn. Sao mà hai ông bà coi bộ không vui vậy?


VỢ NÔNG PHU - Làm ăn một ngày một khổ. Mình ở chốn quê mùa, tiêu xài không bao nhiêu, mà làm ăn không bao giờ thấy dư.


CHỊ BUÔN GÁNH - Ối! Họ ở chợ họ làm ăn cũng không phải là dễ hơn mình đâu. Tôi có xuống ở dưới huyện gần nửa tháng, nên mới biết. Nhà nghèo buôn gánh bán bưng, bị năm bảy thứ thuế, mà thứ nào cũng nặng. Còn như muốn lập một cái tiệm bực thường thường, thì phải có vốn cho nhiều chớ thể nào ít vốn mà lập được như một năm sáu năm trước. Đã vậy mà lại mấy năm sau đây dân nghèo khổ quá, mua ít, cho nên nghề buôn bán không đặng thạnh. Lính của chánh phủ không bữa nào mà họ không kiếm lí này lẽ nọ mà phạt vạ từ bọn buôn gánh bán bưng cho tới mấy người có tiệm. Thiên hạ than van không kể xiết, mà cũng không thấy lính nới tay.


Hay là chánh phủ Tàu, số của họ là gần bỏ nước này lại cho dân Việt Nam, nên họ lo bốc hốt trước đi như thế ấy.


NÔNG PHU - Tôi cũng suy nghĩ như chị. Đã rút rỉa mà lại còn hà hiếp nhơn dân. Đã bắt con dân đi lính, bắt con dân làm thân trâu ngựa cho mình, mà lại còn...


CHỊ BUÔN GÁNH - Ờ! Thằng Ba chừng nào mãn khóa lính?


VỢ NÔNG PHU - Còn hơn một năm nữa.


            Còn... (vợ nông phu thỉnh thoảng bấm đốt tay mà tính)


            một năm, một tháng, mười sáu ngày nữa.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »