NÔNG PHU - Ối! Có chắc gì đâu mà tính từ ngày. Đến lúc mãn khóa rồi, mà họ muốn bắt lại nữa cũng không làm chi được họ. Lúc này lính lưu hậu kia còn bị bắt đi thay. Nghe nói ở trên xứ mọi có nổi loạn.
CHỊ BUÔN GÁNH - Thằng Ba mắc lính, chắc là anh chị thiếu tay, thiếu chơn. Còn thằng Hai, bữa nay nó đi đâu vắng, mà không thấy nó?
VỢ NÔNG PHU - Nó bị quan huyện bắt bỏ tù gần một tháng nay.
CHỊ BUÔN GÁNH - Ủa! Sao vậy?
VỢ NÔNG PHU - Nó đi ngang trước cửa nhà quan Huyện, quên cúi đầu, bị lính bắt.
CHỊ BUÔN GÁNH - Người ta quên cúi đầu, chớ có phải là trộm cướp gì hay sao mà làm đến thế ấy.
Một anh thợ mộc, độ chừng 40 tuổi, vác trấp, vác cưa bào đi đến.
NÔNG PHU - Ủa! Sao về đó mầy?
CHỊ BUÔN GÁNH - Ủa, Chín! Cha chả, bỏ xứ một năm nay, bây giờ mới chịu về đó a, hả! Sao về đó mầy?
Bộ làm ăn dưới tỉnh không khá hả?
THỢ MỘC - Từ ngày xảy ra cái chuyện của Thi Sách đến nay, người Tàu, bất lựa là bực nào, thảy đều ghét người Việt Nam, mà người Việt Nam mình cũng giận ghét người Tàu. Cái nghề thợ mộc ở dưới tỉnh khá là nhờ làm cho mấy người Tàu. Vì hai bên ghét nhau, nên lúc này dưới tỉnh thợ mộc ít công việc làm hơn lúc trước. Như tôi đây là đứng được theo thợ mộc giỏi, mà coi bộ cực chẳng đã họ mới mướn. Còn như mấy tay thợ dở hơn mà đến xin làm cho họ, thì họ dùng dằng mà lại trả tiền công không đủ nuôi thân.
Ở dưới tỉnh lúc này lộn xộn quá. Lính đánh đập phạt vạ dân. Còn người mình mà xúm ba dụm bảy đặng bắt tì bắt ố chánh phủ thì bị hai ba năm tù là ít. Ối thôi! Thà về nhà quê mà ăn mắm ăn muối, còn sung sướng hơn, khỏi bị giằng thúc nhiếc mắng, khỏi nghe thấy những chuyện oan ức.
Ờ! Dì Bảy, hôm trước tôi có thấy người con gái của dì bị bắt đem xuống tỉnh.
CHỊ BUÔN GÁNH - Nói bậy mà! Chuyện gì mà bị bắt. Nó buôn bán chớ trộm cướp gì của ai sao mà bị bắt?
THỢ MỘC - Bị bắt chung với một đám có hơn trăm người. Tôi có hỏi kĩ lại tại sao mà bị bắt, thì mấy người lính họ nói là vì mấy người đó là đồng ở một huyện, vì buôn bán không khá, nên đồng với nhau đứng đơn xin bớt thuế. Quan huyện bắt hết mà giao cho quan tỉnh.
CHỊ BUÔN GÁNH, khóc, vừa khóc vừa nói. - Người ta xin, có cho thì cho, không cho thì thôi. Chuyện gì lại bắt người ta. Bắt đờn bà rồi lần lần sẽ bắt con nít nữa đa.
THỢ MỘC - Ối! Còn nhiều việc một trăm lần oan ức hơn việc đó nữa kia.
Day lại hỏi anh nông phu.
Ờ! Ở dưới tỉnh họ đồn rằng bà vợ và cô em vợ của Thi Sách đã về đây rồi phải không? Họ nói có ông Lí Định cũng theo cất nhà ở gần hai bà đó nữa?
NÔNG PHU - Hôm bữa Hai Bà mới về, tôi có đến thăm. Lúc Hai Bà mới về, mỗi ngày có thiên hạ đến viếng thăm liền liền. Mà ai đến thăm cũng khóc ròng với Hai Bà.
THỢ MỘC, kéo nông phu ra xa mà hỏi riêng. - Họ đồn nói Hai Bà, và ông không đương dụ lòng dân, và luyện tập binh tướng đặng đánh đuổi chánh phủ Tàu, có hay không?
NÔNG PHU - Như có, sao tôi không hay, không biết chút gì hết? Hay là chánh phủ Tàu thấy dân thương Hai Bà mà lên tiếng trước, đặng đề phòng chăng?
THỢ MỘC - Có biết đâu được. Nghe đồn như vậy thì mình cũng mầng thầm.
Thợ mộc vác cưa, bào, trấp lên vai.
Thôi, tôi gấp về thăm nhà, mà đường cũng còn xa.
NÔNG PHU - Ủa! Sao chúng nó về đây?
Vợ nông phu chưng hửng, thợ mộc và chị buôn gánh thảy đều ngó theo một hướng với nông phu.
Thằng Hai, chừng 25 tuổi; thằng Ba, chừng 20 tuổi. Ăn mặc theo người làm ruộng ở nhà quê. Hai đứa vội vã đi đến, ngồi ngay xuống đất, không chào ai, ngồi gục mặt xuống đất mà thở như người mệt đuối.
NÔNG PHU, sợ hãi. - Chuyện gì vậy?
THẰNG HAI - Mệt quá. Để cho nghỉ... một lát... rồi... nói hết... cho nghe...
Nín một hồi lâu. Hai vợ chồng nông phu, chị buôn gánh, thợ mộc, người này ngó người kia, như cả thảy đều hiểu vì sao thằng Hai, thằng Ba về đó, nhưng mà chưa chắc, nên ngó nhau mà coi có đồng ý với nhau hay không.
THẰNG BA - Anh Hai của con vì sao... bị quan huyện bắt... có lẽ cha cũng đã rõ biết?
NÔNG PHU - Tao có biết.
THẰNG BA - Không phải... là vì... ảnh muốn cứng đầu với quan huyện... cho nên không cúi đầu... khi đi qua trước nha của quan huyện... Là vì ảnh rủi quên đó mà thôi... Ảnh cũng có nói với lính... khi chúng nó bắt ảnh, ...rằng ảnh lỡ quên nên xin dung... Té ra năn nỉ xin thứ cho mấy, lính cũng không tha... Trong lúc bị giam trong khám, ảnh nghĩ: "Dầu đi ngang qua trước nha không cúi đầu... cũng không phải là có tội... cho đến phải ngồi tù"... Ba bữa sau, quan huyện biểu đem ảnh ra xử tội... Ảnh cũng nói với quan huyện rằng lúc ấy ảnh lãng trí mà quên cúi đầu, chớ không phải dám cứng đầu với quan huyện... Quan huyện nói rằng trong giọng nói của anh nghe ra thì cụng có lẽ ảnh nói thật. Nhưng mà quan huyện muốn thử cho chắc, nên buộc ảnh phải đi ngang qua trước nha ba lần, mỗi lần phải cúi đầu tử tế, đặng cho kẻ qua người lại ngó thấy... Té ra cái tâm của ảnh bữa đó nó không cho ảnh cúi đầu nữa. Ảnh lại mắng quan huyện, nói rằng ảnh với quan huyện cả hai đều bị nhục dưới quyền của thằng Tàu, mà quan huyện lại ỷ quyền làm nhục đồng bào thêm nữa, làm cho dân Việt Nam yếu hèn thêm. Quan huyện tức giận mới giản ảnh xuống tỉnh cho quan Án sát xử làm tội. Ảnh xuống tỉnh ngồi tù, ở chung một khám với tôi.
NÔNG PHU, hỏi thằng Ba. - Còn mầy, vì sao mà cũng bị ở tù nữa?
THẰNG HAI - Nó ở lính, người ta cách nó ra cho làm đầu bếp cho quan Án sát. Lâu ngày quan Án sát hay biết nó là người ở đây, và biết nhà mình có quen biết với Hai Bà Trưng. Ở dưới tỉnh thiên hạ đồn rằng Hai Bà Trưng và ông Lí Định về ở đây là có ý chiêu dụ người đặng khôi phục nước nhà, nên quan Án sát mới kêu nó đến mà bảo rằng cho nó khỏi ở lính nữa và cho nó tiền đặng về nhà mua ruộng đất làm ăn. Nhưng mà khi nó về đến nhà thì phải làm thế nào cho được làm người tâm phúc của Hai Bà Trưng, đặng cho biết coi Hai Bà Trưng và ông Lí Định có mưu việc chi không. Nó không chịu lãnh việc ấy nên bị ở tù.
NÔNG PHU - Rồi sao hai đứa bây lại về được đây?
THẰNG HAI - Trốn.
Lính dương theo dấu kiếm bắt chúng tôi. Chúng tôi có ghé ngủ ở nhà của hai người anh em bạn thiết. Hai anh này lấy áo quần của chúng tôi mà mặc. Rồi giả làm hai đứa tôi, chạy trốn đi đường khác, đặng gạt bọn lính đánh dấu theo mà lạc dấu. Thế nào rồi chúng nó cũng biết chúng nó bị mắc mưu mà trở lại đường này. Chúng tôi không dám ở đây lâu.
THỢ MỘC- Chỉ có trốn tại nhà chú thì là tiện hơn hết. Chú ở gần rừng. Như rủi mà chúng no theo được dấu thì chú sẽ đem hai cháu mà giấu trong rừng. Đường rừng đường núi chú thạo lắm.
VỢ NÔNG PHU - Mau mau đi đi hai con.
CHỊ BUÔN GÁNH - Mau mau đi đi hai cháu.
Thợ mộc, thằng Hai, thằng Ba lật đật ra đi.
Vợ nông phu khóc. Chị buôn gánh đã hết khóc, mà lại an ủi lại vợ nông phu. Còn anh nông phu thì như bất tỉnh.
Vái trời cho hai cháu nó lánh khỏi tai họa.
Nín một lát lâu.
Lính đến kia kìa.
Ba anh lính với một ông quản chạy đến.
ÔNG QUẢN, thộp ngực nông phu. - Hai thằng con của ông, chúng nó trốn về đây, bây giờ chúng nó ở đâu? Chỉ cho mau.
NÔNG PHU - Chúng nó có về đây đâu.
ÔNG QUẢN, bốp tai nông phu. - Ông cho tôi là ngu phải không?
VỢ NÔNG PHU - Chúng nó, một đứa thì ở lính, một đứa thì bị quan huyện bắt, ở nhà đây chỉ có hai vợ chồng tôi và thằng em nhỏ của chúng nó thôi.
ÔNG QUẢN - Bà đừng có lẽo lự. Bà muốn bị một bốp tai như lão già này phải không? Hai người không chỉ thì tôi bắt hai người.
Ông quản day lại nói với chị buôn gánh:
Còn chị này, hai thằng trốn đó bây giờ ở đâu, chị chỉ hay là không chỉ?
CHỊ BUÔN GÁNH - Tôi đi ra chợ bán gạo bán rau, mới vừa ghé vô đây bán một ít. Kế đấy quan quản đi đến, chớ tôi có biết chi đâu.
ÔNG QUẢN, nói với lính. Đóng còng chúng nó cho tao.
Lính đóng còng hai vợ chồng nông phu và chị buôn gánh.
Ông quản đi vào nhà khám xét một chặp lâu. Đến lúc ra, ra dấu biểu lính đi theo. Ba thằng lính xô đẩy ba người bị bắt chạy theo ông quản.
5
Phong cảnh rừng. Cây cối to.
THỢ MỘC, mặc sắc phục quan quản, nhắm nhía áo quần của mình, đi lên đi xuống mà sửa cách đi của mình lại cho đứng đắn theo như các quan võ.
- Bây giờ có ai nhìn ra mình làm nghề thợ mộc cho được. Lúc trước cầm đục cầm bào, bây giờ cầm gươm cỡi ngựa. Cái sắc phục quan quản này càng xem đi nhẩm lại, lại càng thấy oai nghi. Mình nhắm nhía mình đây mà thấy còn vừa lòng thay, huống chi là đờn bà con gái.
Từ ngày mình đi theo Hai Bà và quan soái Lí Định đến nay, mỗi ngày đều mỗi thấy có việc làm cho mình vui lòng mãi. Thiệt là không dè cái thằng thợ mộc này mà ngày nay làm được tới chức quan quản mà lại quan quản của một toán lính - Ôi thôi! - Giỏi thật vô song.
Nói với mấy người xem hát:
Lính của tôi luyện hai tháng giỏi bằng lính của chánh phủ Tàu luyện ba năm. Lính của tôi lẹ làng, tỉnh táo, sức khỏe. Chúng nó bắn tên thật là giỏi. Chim bay qua mà thằng nào cũng bắn trúng được hết. Nếu chim bay mà chúng nó còn bắn được, thì lính Tàu cái thây chúng nó đò sộ hơn mấy trăm con chim, có lẽ nào không được mỗi tên một chú lính Tàu. Có lẽ để nửa lính của tôi bắn xỏ xâu lính Tàu cũng được nửa kia, một mũi tên xỏ xâu hai ba thằng lính Tàu.
Còn bọn mã kị của quan Nguyên soái tập - ối thôi! - chúng nó giỏi không thể nói được. Cỡi ngựa làm sao mà, cho ngựa chạy sãi rồi thòng mình xuống với bắt gà chạy ngang qua, hay là lượm tiền dưới đất cũng được; vừa cưỡi ngựa vừa bắn tên cũng được, mà bắn cũng bá phát bá trúng.
Trở lại nói với mình
Binh lính như thế ấy mà đánh đuổi không được quân Tàu ra khỏi nước hay sao?
Các quan trên coi bộ lao nhao lo lắng, có lẽ đợi không bao nhiêu ngày nữa thì sẽ tới việc. Hả! Hả! Hả! Vui lòng quá! Thỏa chí quá!
Chợt có Lí Định đi đến, có thằng Ba theo sau. Lí Định mặc sắc phục Nguyên soái, thằng Ba mặc sắc phục quan quản.
LÝ ĐỊNH- Bộ hôm nay có quá chén hay sao mà vui vẻ dữ vậy?
Thợ mộc hoảng hốt, sửa tướng, đứng lại một cách nghiêm chỉnh. Thằng Ba cười cười.
THỢ MỘC - Tôi thấy binh lính của mình tập luyện thật là mau giỏi. Lại có tài bắn tên, có tài cưỡi ngựa. Tôi thấy binh lính của mình giỏi hơn binh lính của Tàu bội phần. Tôi chắc rằng mình sẽ đuổi thằng Tàu dễ như trở bàn tay, nên tôi vui trong lòng mà thố lộ ra thể ấy.
LÝ ĐỊNH - Binh lính của mình tập luyện mau, lại có tài bắn tên cưỡi ngựa, là vì bao nhiêu sự oan ức, bao nhiêu điều nhục nhã nó đã đầy trong tâm của chúng nó, là vì quân Tàu tàn ác như thế ấy, số mạng của chúng nó là cùng rồi. Trời không thể trái đạo mà để cho quân Tàu làm điều tàn ác lâu dài nữa.
Thôi, quan quản lại với thằng Ba chạy kiếm một cái bàn với ba cái ghế đem đây. Một lát sẽ có Hai Bà đến.
THỢ MỘC - Dạ.
Thợ mộc và thằng Ba chạy kiếm bàn ghế. Lí Định đi qua đi lại suy nghĩ.
Thợ mộc và thằng Ba khiêng bàn và ba cái ghế vào.
Dọn dẹp chỗ ngồi vừa xong, thì Hai Bà đi đến. Trưng Trắc đi trước, Trưng Nhị theo sau.
Trưng Trắc và Trưng Nhị ăn mặc theo võ. Trưng Nhị lộ ra sắc người chắc mình lạ thường. Hết thảy đều đứng nghiêm trang mà chào Hai Bà. Hai Bà ngồi. Trưng Trắc mời Lí Định ngồi.
TRƯNG NHỊ - Sao? Có việc chi không vừa lòng anh hay không?
LÝ ĐỊNH - Vừa lòng lắm. Binh lính đã giỏi, mà tinh thần lại mạnh mẽ lắm.
Thấy rõ rằng là Trời giúp sức cho mình.
Anh có nghe theo em mà sửa đổi cách ăn mặc của binh lính lại.
Sắc phục của binh lính của mình thật là nhẹ nhàng hơn sắc phục của binh lính Tàu nhiều lắm.
Thằng Hai đi vào có dắt theo một thằng lính. Thằng Hai mặc sắc phục quan quản. Thằng lính đi đến trước mặt Hai Bà và Lí Định, rồi quì mà thưa.
THẰNG LÍNH - Chúng tôi có vâng theo lịnh của Nguyên soái mà đuổi ông già ấy ra xa vòng binh. Nhưng mà ông ta không chịu đi, cứ quì lạy năn nỉ chúng tôi, xin chúng tôi bẩm lại với Nguyên soái rằng ông ta muốn gặp mặt Nguyên soái đặng nói chuyện chi cần kíp lắm. Chúng tôi túng thế phải xúm nhau lại ba bốn đứa khiêng ông ta ra xa vòng binh gần một dặm mà bỏ. Đến lúc chúng tôi trở về, thì ông ta lóc cóc chạy theo. Chúng tôi đòi bắn ông ta, thì ông ta biểu chúng tôi như có nỡ lòng thì cứ bắn, ông ta cũng không phiền trách. Túng thế, chúng tôi trói ông ta lại, rồi cho một đứa giữ ông ta đặng đợi lịnh Nguyên soái định cho ông ta thể nào.
Lí Định suy nghĩ. Ai ai cũng ngó Lí Định, đợi coi Lí Định định thế nào về chuyện ông già.
LÝ ĐỊNH - Bịt mắt ông ta lại, rồi dắt vào đây.
Thằng Hai và thằng lính đi ra. Lí Định nói với Trưng Trắc và Trưng Nhị:
Tôi muốn biết coi lão già này muốn nói điều chi. Có lẽ ông ta là kẻ do thám của chánh phủ Tàu.
Thằng Hai và thằng lính dắt lão già vào, mở cái khăn bịt mắt ông già. Mở khăn ra mắt rồi, ông già thấy không và Hai Bà Trưng thì lật đật quì lạy, lạy một lạy, hai lạy, ba lạy, bốn lạy, cứ lạy hoài.
LÝ ĐỊNH, nạt - Thôi. Muốn nói gì thì nói cho mau đi, đặng ta định tội cho.
ÔNG GIÀ - Trăm lạy quan Nguyên soái, ngàn lạy quan Nguyên soái. Trăm lạy Hai Bà, ngàn lạy Hai Bà.
LÝ ĐỊNH, nạt - Muốn nói điều gì, nói cho mau đi.
ÔNG GIÀ - Tôi có ba thằng đệ tử. Bấy lâu nay, tôi nhờ chúng nó như tay chơn. Nay chúng nó đã đồng rủ nhau mà theo quan Nguyên soái.
THẰNG LÍNH, lẹ miệng - Rồi ở nhà không còn ai đặng nuôi ông ăn ở không cho mập phải hay không?
LÝ ĐỊNH, nạt thằng lính - Đừng có thất lễ. Để cho ta nghe coi lão già này muốn việc gì.
ÔNG GIÀ, chỉ thằng lính - Còn cha mẹ của thằng này chỉ có một mình nó mà thôi. Kẻ ít trí không suy ra xét rộng, nên cứ lo sợ cho con mà khóc hoài.
THẰNG LÍNH, tức giận, quì xuống nói với Lí Định. - Xin Nguyên soái thứ tội thất lễ của con. Thằng cha già này nhiều chuyện quá, buộc con phải thưa Nguyên soái rõ. Cha mẹ của con là người ngu dốt yếu hèn. Như chánh phủ Tàu bắt con đi lính cho chánh phủ Tàu thì cha mẹ của con cũng cứ khóc; rồi thì phải sao hay vậy. Nay con theo làm tôi cho Nguyên soái, cha mẹ của con cũng không biết theo ai là phải, theo ai là quấy, cứ lo sợ cho con, nên cứ khóc. Con đã có thân đặng làm người, mà con cũng là quá tuổi lớn khôn, định phải quấy là phận sự của con. Con lại có dư tiền được chút ít, tiền ấy con đã để lại hết cho cha mẹ của con đặng khỏi lo đói rách. Chuyện nhà của con mà ăn thua gì đến thằng cha già này mà nó đến đây nói bá láp?
Thằng lính ngó ông già mà nói:
Nếu tôi biết trước ông đến đây mà nói bậy thì tôi đã giết ông khi nãy rồi.
LÝ ĐỊNH - Để cho lão nói hết câu đã, rồi ta sẽ định tội cho lão.
Thằng lính đứng dậy.
Trên mặt ai ai cũng có sắc giận lão già.
Trưng Nhị chăm chỉ ngó lão già.
ÔNG GIÀ - Lượng trên cho kẻ ngu này hỏi vài điều, rồi như lượng trên định cho kẻ ngu này phải chết thì kẻ ngu này cũng không dám nói là oan.
Tôi là người tu hành. Tôi cũng đủ sức mà một mình nuôi lấy thân tôi. Không phải là tôi vì tham sống mà sợ mất ba đứa đệ tử của tôi. Tôi vì thương chúng nó, mà sợ cho chúng nó không suy nghĩ kĩ trước khi quyết định việc gì.
Cha mẹ của thằng này(chỉ thằng lính), tuy ngu dại thế nào, song cái tình của cha mẹ thương con thế nào cũng là một cái tình đáng cho ta quí trọng. Phật Thích ca kia trong mấy kiếp đều có đem thân hi sanh đặng cứu vớt đồng loại chúng sanh, nhưng mà Phật dám hi sanh như vậy là vì có cái lợi lớn nên mới bỏ điều cần nhỏ. Như việc làm của quan Nguyên soái ngày nay là một việc giết người vô ích, thì có phải là quan Nguyên soái thêm đau khổ cho nhơn loại không?
Lí Định, Trưng Trắc nghe lão già nói, để ý suy nghĩ. Mấy người kia thấy Lí Định và Trưng Trắc suy nghĩ, thì cũng đổi sắc không biết chắc vậy chớ lão già nói như vậy là phải hay là quấy. Chỉ có một mình Trưng Nhị chăm chỉ ngó lão già, rồi ngó xem sắc mặt mọi người chung quanh mình.
Ông già thấy lời nói của mình làm động được Lí Định và Trưng Trắc thì nói nối:
Thế lực của chánh phủ Tàu đã tạo lập ra để mà gìn giữ non sông này là đồ sộ thế nào, quan Nguyên soái cũng dư biết. Chánh phủ Tàu có bao nhiêu binh lính, thâu bao nhiêu sưu thuế, được bao nhiêu lương phạn! Số binh lính của Nguyên soái, tôi chắc rằng thế nào cũng là ít hơn bội phần. Dẫu tài thế nào cũng khó mà thắng nổi. Trứng đem chọi đá là chỉ cho đặng đã nư giận mà thôi. Bao nhiêu người liều mình đó thì chết là yên phận. Còn bao nhiêu kẻ yếu nhát phải sống ở lại thì chắc là phải chịu nhiều điều nhục mạ của bọn tàn ác nó oán giận thêm. Rốt lại có phải là việc của quan Nguyên soái tính đó là tai họa cho dân không?
TRƯNG NHỊ, tức giận nạt lão già. - Nín
Cả thảy đều ngó Trưng Nhị.
Đắp lũy cho cao, đào hào cho sâu, mà không lấy được lòng thiên hạ, thì cũng không có gì là chắc. Thế lực của chánh phủ Tàu lớn thật, nhưng mà toàn dân Việt Nam đều đã chán ngán với người Tàu rồi.
Đừng có giả màu bác ái mà đến đây làm yếu lòng người.
Những người yếu tánh, hễ mất con, mất cháu, thì đau đớn thật nhiều. Nhưng mà họ đau đớn là vì họ không suy nghĩ xa. Sư đau đớn của họ không sâu sắc gì, nên dễ nguôi ngoai. Còn những kẻ quyết sống là đặng làm cho điều phải nó thắng điều quấy thì một phút nào sống mà phải chịu cho điều quấy nó đè ép, nó buộc phải đồng lõa với nó, thì một phút ấy là một phút đau khổ vô cùng. Sự đau khổ của bọn này không thể nào giải được, mà lại quí báu hơn sự đau đớn của bọn yếu hèn khóc vì mất con mất ruộng. Làm việc phải, dẫu thất bại đi nữa, cũng là hơn ngồi đó mà chịu nhục, hơn ngồi đó ngó người ta làm đặng đến sau chia hưởng công việc làm của người ta.
Công bình, tương ái là cái đạo đời đời của nhơn loại.
Ngươi không phải vì lòng bác ái nó giục ngươi đến đây. Ngươi không phải là sống đặng thờ phải, ghét quấy. Ngươi tham sống, chỉ tham sống không mà thôi. Bao nhiêu lời nói của ngươi đều là lí lẽ để giấu cái lòng yếu hèn của ngươi. Ngươi đã không biết ngươi có tội với nòi giống, có tội với lẽ phải vì, ngươi yếu hèn mà kẻ tàn ác được thêm thế lực. Ngươi lại dám đến đây mà làm yếu lòng người.
ÔNG GIÀ - Dạ... Dạ... Dạ... Xin lượng trên xét lại cho kẻ ngu dại nhờ.
LÝ ĐỊNH, nổi giận, đập bàn, nạt. - Ngươi còn muốn nói điều chi nữa hết?
ÔNG GIÀ - Dạ, dạ. Xin lượng trên rộng xét, thứ tha cho kẻ ngu dại. Kẻ ngu dại vì không thấy rõ, không xét xa...
LÝ ĐỊNH - Ngươi muốn đến đây là vì có ý làm cho yếu lòng binh lính của ta. Có lẽ là chánh phủ Tàu sai ngươi đến đây.
ÔNG GIÀ - Dạ, dạ, không phải.
LÝ ĐỊNH - Toàn cả dân Việt Nam sẽ một lòng với ta. Binh lính của ta cũng đều chắc sự ấy.
THỢ MỘC, THẰNG HAI, THẰNG BA, TÊN LÍNH, nóng theo với Lí Định, đồng nói một lược. - Dẫu trong mấy triệu đồng bào không đồng tâm giúp sức, chúng tôi cũng thề sống chết mà rửa nhục cho nòi giống, và trừng trị quân tàn ác. (vừa nói, vừa ngay tay ra trước mình mà thề.)
Trưng Nhị, Trưng Trắc đứng dậy. Lí Định cũng đứng dậy theo. Thợ mộc, Hai, Ba và tên lính đứng nghiêm trang như chào. Trưng Trắc, Trưng Nhị đi vô. Cả thảy đều đưa theo ít bước.
Hai Bà đi vô mất, thì Lí Định day lại mà nói với thợ mộc, Hai, Ba, và tên lính:
LÝ ĐỊNH - Ngày của chúng ta trông đợi gần đến rồi. Bốn năm ngày nữa thì sẽ dời binh.
Thợ mộc, Hai, Ba và tên lính đều ngó ông già, rồi ngó Lí Định, như muốn hỏi phải xử tội lão này thế nào.
LÝ ĐỊNH - Còn lão già này, thì cứ làm tội nó theo pháp luật.
Lí Định đi được độ năm bước, thằng Ba chạy theo hỏi:
THẰNG BA - Bẩm Nguyên soái, tội của lão già này cho là về khoản tội gì?
LÝ ĐỊNH, đứng lại suy nghĩ - Phản quốc.
Rồi Lí Định đi vô.
6
Trong trại của Nguyên soái Lí Định. Một cái bàn, trên bàn ấy có một tấm địa đồ trải ra, cây gươm của Lí Định dằn tấm địa đồ. Ba cái ghế.
Lí Định đi qua đi lại, mặc sắc phục Nguyên soái.
LÝ ĐỊNH - Trưng Nhị thật là lạ thường. Một trăm lí lẽ hay, một ngàn lí lẽ hay cũng không làm yếu đức tin của Trưng Nhị được.
Việc binh lính là việc của mình. Mình đã mấy năm tra khảo binh thơ, trong nước này nghĩ cũng không ai giỏi binh thơ hơn mình được. Mình lại đã có quen thạo với việc cầm binh khiển tướng.
Hai đạo binh này có giỏi thật. Rất lẹ, day động rất dễ. Còn lính, nếu chiết ra mà dụng từ người thì một tên lính có thể khiến nổi một ngàn tên dân, nên dễ cho mình đến sau đi đến đâu luyện binh thêm đến đó. Từ các quan cho đến hạng lính, người nào coi cũng là chắc mình, cũng là can đảm.
Nhưng mà sự can đảm của mỗi người, biết được nay cũng còn chưa chắc được mai thay. Huống chi là một đạo binh. Đám đông người thường hay hoảng hốt dại dột.
Còn binh lính người Tàu không biết sẽ ra thể nào. Đã biết rằng trong binh lính của chúng nó, Tàu có kèm lính Việt Nam vào, mà những lính Việt Nam theo Tàu cũng đã chán ngán với người Tàu. Nhưng mà mấy người Việt Nam đi lính cho Tàu đó còn yếu hèn quá, còn ngu dại quá, còn khiếp nhược quá, có chắc gì là họ dám phản Tàu mà theo việc nghĩa đâu.
Nếu tính theo phần chắc, thì thật là không ai dám khởi binh.
Nhưng mà không có lí lẽ nào lướt nổi đức tin của Trưng Nhị. Cãi với Trưng Nhị, nghe lí lẽ của Trưng Nhị trong một lát thì nghe ra là Trưng Nhị phải. Rồi mình cũng tin chắc như Trưng Nhị, cũng chắc rằng không thể nào thất bại được. Trong binh lính, trong các quan cũng có giờ lo sợ cho mình không đủ sức, cũng có khi không dám chắc mình. Mà Trưng Nhị đi nói chuyện với các quan với binh lính trong giây lát, thì họ đều tưởng rằng họ sang phạt Tàu cũng được, huống gì là đánh lấy nước Việt Nam này lại.
Trời sanh Trưng Nhị có một cái tinh thần thật là lạ thường. Chống cãi với Trưng Nhị cho mấy rồi rốt lại cũng thấy mình quấy.
Nín một lát. Đi qua đi lại mà suy nghĩ.
Ối, mà cũng không cãi chống nữa làm gì.
Sống làm người chỉ có hai cửa mà thôi: Phải hay quấy. Mà thế nào cũng phải theo việc phải cho đến cùng, không thể nào theo điều quấy được.
Sống làm người chỉ có hai cửa, là: sống và chết. May thì sống, rủi thì chết. Chết vì lẽ phải lại là ngàn phần quí hơn sống mà cũng như chết.
Không thắng thì thất, không thất thì thắng. Mà dẫu thất cũng không xấu nhục.
Ối, có hai cửa mà cứ bàn tới tính lui, lưỡng lự mà khổ tâm vô ích, lại lộ ra là mình còn kém Trưng Nhị.
Hả! Hả! Hả! Ngộ thật! Sống làm người cũng giống như đánh bạc. Đánh bạc chỉ có hai cửa: ăn, thua. Sống làm người cũng chỉ có hai cửa: sống chết; phải, quấy... Mà nếu không chọn lựa, không quyết định, thì lại sanh ra: vinh, nhục, cao, hèn. Cũng là hai cửa.
Nhưng mà có chỗ này là khác nhau, là: Cửa huề của người cờ bạc lại là cửa thua; còn cửa huề của người quyết định sống đặng làm phải lại là cửa thắng.
Trưng Trắc và Trưng Nhị, mặc sắc phục võ, đi tới trước cửa trại. Lí Định lật đật chạy ra rước vào. Trưng Trắc và Trưng Nhị vô ngồi, trên mặt có sắc vui như người mới được điều chi vừa ý.
TRƯNG NHỊ, nói với Trưng Trắc - Mấy lời của chị nói ra khi nãy làm cho cảm động các quan và quân lính nhiều lắm.
TRƯNG TRẮC, nói với Lí Định. - Tiếc cho quan Nguyên soái khi nãy không được thấy lòng dạ của đạo binh của chúng tôi.
TRƯNG NHỊ, nói với Lí Định.- Chị Trưng Trắc khi nãy có đứng lên diễn giảng cho quân lính nghe, giục lòng quân lính nhiều lắm.
TRƯNG TRẮC, nói với Trưng Nhị. - Nhờ có em khươi lòng chị. Em làm cho chị nhớ đến chuyện cũ mà đau lòng. Khi nãy nhờ chị đau đớn trong lòng quá, nên sự đau đớn của chị nó tràn ra ngoài lời nói, mà làm cho cảm động quân binh.
LÝ ĐỊNH - Xin chị nói lại cho em nghe những lời hay của chị khi nãy.
TRƯNG TRẮC - Tôi không có nói chi nhiều. Tôi chỉ nhắc chuyện chết oan của anh Thi Sách. Tôi nói rằng anh Thi Sách, là vì thấy việc trái mắt, không chịu nổi, nên mới bị chết như vậy. Trước chuyện của anh Thi Sách, biết bao nhiêu người cũng đã bị chết oan vì tay bạo ác của bọn Tàu. Nhưng mà trước chuyện của anh Thi Sách, mắt của tôi còn u ám trong gia đình, tâm của tôi còn mắc trong cái ngục tư kỉ. Tôi chỉ biết thương chồng, thương con là hơn hết. Tôi cũng có khi suy nghĩ đến bao nhiêu việc oan ức, bất bình trong xã hội. Nhưng mà cái lòng yếu hèn của tôi nó cứ lo bo bo giữ vẹn của riêng của tôi mà thôi, cho nên Trời mới khiến cho anh Thi Sách là người từ nam chí bắc ai ai cũng đều quí, lại là người yêu quí của tôi, khiến cho ảnh phải bị chết oan như vậy, đặng trước là làm động lòng cả dân Việt Nam, sau là đặng phạt tôi cho tôi phải nhớ đến bao nhiêu gia đình kia cũng đã bị đau khổ như tôi. Vì vậy cho nên tôi không dám lỗi với Trời một lần nữa. Cho nên, tuy xót lòng vì nỗi con thơ, song cứ giao con cho cha mẹ lo nuôi, đặng đồng tâm hiệp lực với bao nhiêu đồng bào muốn diệt quấy giúp phải, trước là trừng trị kẻ tàn ác mà đánh lấy giang san này lại, sau là trả thù cho chồng và làm gương để lại cho con.
Tôi chỉ nói có bao nhiêu đó thôi. Có nhờ Trưng Nhị nói nối theo mới làm cho cảm động quân binh đến thế ấy.
Nghe một tiếng sấm sét lớn, ba người giựt mình, nhưng mà không để ý, tưởng là trời chuyển mưa.
LÝ ĐỊNH, nói với Trưng Nhị, vừa nói vừa cười cười. - Anh đã lãnh chức Nguyên soái gồm quyền coi cả hai đạo binh. Em là người dưới quyền, phải cho anh rõ biết những công việc làm của em. Vậy chớ khi nãy em diễn giảng điều chi với quân binh?
Trưng Trắc và Trưng Nhị cười cười.
TRƯNG NHỊ - Em nói: Mình bắt được một con chim con, con chim mẹ bay theo kêu la, mình không nỡ bắt con chim con được. Mình đánh bẫy được con chim trống, con chim mái bay theo kêu la, mình cũng không nỡ bắt con chim trống được. Mà người Tàu lại nỡ giết chồng của kẻ yếu, giết cha của trẻ thơ. Trong bầu trời nay con người không thể tàn ác hơn người Tàu được.
Em nói: Trong nhơn loại đâu đâu cũng thờ thiện ghét ác, cho đến kẻ gian ác kia mà còn phải giả màu thiện, mượn lời lành đặng che giấu điều ác của mình. Người Tàu không còn biết phân biệt thiện ác. Người Tàu quên là có Trời. Người Tàu cho đến không còn như đứa gian ác kia giả màu thiện mượn lời lành. Người Tàu làm điều ác một cách rất tàn khốc, không kể đến bao nhiêu lời kêu la, than trách.
Em nói: Chim kia líu lo, vui giỡn với tạo hóa mà không bao giờ đói, không bao giờ lạnh. Con người lại có hai tay, biết cày biết dệt. Trên hoàn cầu này biết bao nhiêu là đất trống lập được ruộng lúa vườn dâu. Con người không đến nỗi phải bị đói bị lạnh. Người Tàu cai trị nước này, dân Việt Nam không phải dân biếng nhác, mà sao lại có kẻ chết đói người chết lạnh?
Em nói: Trời đã có sắp đặt cho dân Tàu một khoảnh đất to trân mặt đất này đặng sanh sản cày cấy nuôi trăm họ. Người Tàu nói tiếng Tàu, có phong tục riêng, đồng vui đồng buồn với nhau. Dân Việt Nam cũng có một khoảnh đất của Trời cho để nuôi trăm họ. Người Việt Nam nói tiếng riêng, có phong tục riêng, đồng vui đồng buồn với nhau.
Dân Tàu có một vị thiên trị võ trị, dân Việt Nam cũng có một vị thiên tử võ trị. Hai vị thiên tử cũng đồng là người của Trời định. Dân Tàu và dân Việt Nam như con một cha.
Nhưng mà Trời đã định cho ai có nhà nấy, cớ sao người Tàu lại sang cướp nước của dân Việt Nam? Lấy xâu thuế, cướp đoạt huê lợi của non sông này. Lại bắt người làm trâu ngựa phá rừng, giết mỗi năm không biết là bao nhiêu người của dân Việt Nam. Lại còn bắt lặn sông lặn biển mò châu tìm ngọc cho người Tàu.
Người Tàu cãi lịnh Trời, cho nên người Tàu ở bên Việt Nam như cây trốc rễ, mà lại thúi trong ruột thúi ra.
Em nói: Trai gian trá, gái bán thân là vì bị nghèo túng. Cha ép con làm nô, mẹ ép con làm đĩ, vợ bỏ thằng nghèo theo thằng có của. Em kiện anh, con mong cha chết, cũng là vì bị nghèo túng. Người Tàu không thờ thiện ghét ác, vô luân lí, vô đạo đức thì còn chi mà dạy người biết liêm sỉ, nên cao thượng?
Người Tàu chỉ biết ham giàu háo sắc, thì người Tàu phải bóc lột của dân, đoạt con cướp vợ của dân. Người Tàu phải dùng bọn đê tiện. Người Tàu phải trừ bọn trung chánh. Người Tàu phải muốn cho dân yếu. Người Tàu phải muốn cho dân nghèo. Người Tàu phải muốn cho dân ngu hèn.
Cho nên nếu người tàu ở lâu trong xứ này, thì dân Việt Nam trong tâm trong trí sẽ không còn chút gì là xứng đáng với cái danh con người nữa.
Em nói: Bao nhiêu tình cha con, bao nhiêu tình chồng vợ, bao nhiêu tình anh em, bao nhiêu tình bầu bạn, bao nhiêu tình đồng bang đồng xứ, bao nhiêu điều trông mong vọng ước trong lòng, bao nhiêu công đức của ông bà để lại, bao nhiêu đức lớn của ông bà quí trọng bấy lâu, bao nhiêu đạo lí của thánh nhơn trong mấy ngàn năm nhọc công chỉ đường cho nhơn loại, bao nhiêu điều vọng ước cho nhơn loại còn sanh sanh nối nối trong mấy ngàn năm nữa.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.
|