Hào 1 dương
Ra khỏi cửa để cùng chung với người thì không có lỗi. NHL giảng: Hào dương này như người quân tử mới bắt đầu ra đời, đã muốn đồng (cùng chung) với người khác, thì có gì đáng trách đâu? Trình Di phân tích lời Tượng: Ra cửa cùng người ở ngoài, đó là sự cùng đã rộng, không có thiên tư. Người ta cùng nhau thường có hậu bạc, thân sơ khác nhau, tội lỗi do đó mà ra. Đã không bè đảng thiên lệch với ai, thì còn ai trách được nữa?
Toán Hà Lạc giải: Cải cách tốt.
MHC: Khoan dung, chí công vô tư.
MKHC: Rời quê cha, hoặc đến ở nhà vợ, hoặc làm khách buôn, tăng ni.
Vận Năm- Giới Quan: Vào trung tâm, thăng chuyển. Giới Sĩ: Ra trường, tốt nghiệp, được tiến cử. Người thường: Cùng bạn (đường xa) kinh doanh được lợi, hoặc đi xa, hoặc tu tạo nhà cửa, hoặc đi nhờ cửa nhà khác.
Người xưa có thơ rằng:
Lòng đây việc đấy hòa đồng
Cửa ngoài gặp bạn nên công rõ ràng
Hào 2 âm
Cùng người trong họ, trong tông phái, xấu hổ. NHL giảng: Hào này tuy đắc trung, đắc chính, nhưng ở vào thời Đồng nhân nên cùng chung với mọi người, mà lại chỉ ứng hợp với riêng hào 5 ở trên, như chỉ cùng chung với người trong họ, trong đảng phái của mình thôi, thế là hẹp hòi, đáng xấu hổ. Theo Trình Di: Hào 5 ở quẻ Đồng nhân không tượng cho bậc nguyên thủ. Bởi vì gần gũi riêng tây thì không phải đạo làm vua. Cho nên các quẻ lấy sự trung chính ứng nhau làm hay, mà ở quẻ Đồng nhân thì là đáng tiếc. PBC phụ chú: Trên toàn quẻ thì đức Văn Vương phát minh nghĩa Đại đồng, nói rằng Cùng người rộng lớn, tốt; còn lời, nghĩa cho từng hào thì lại răn bảo những người làm cách Tiểu đồng (trái với đại đồng) nói rằng Cùng người trong tông phái, thẹn. Nghĩa quẻ, nghĩa hào đắp đổi cho nhau, chúng ta học Dịch phải nhận kỹ cả hai bên.
Toán Hà Lạc giải: Có sánh vai với người, nhưng không tốt.
MHC: Tài cao đức trọng, nhưng thiên lệch. Đứng đầu khoa bảng hoặc làm khoa trưởng, hoặc là người thân, tay trong của chính quyền.
MKHC: Làm khách ở nơi rừng núi, nhờ vả thân thích.
Vận Năm- Giới Quan: Địa vị cục bộ. Lộc bình thường. Giới Sĩ: Thi đỗ văn bằng nhỏ. Người thường: Nhiều việc lưỡng lự, bạn bè ngờ nhau, bo bo nơi gần, lạnh lùng nơi xa; đeo tiếng thị phi.
Người xưa có thơ rằng:
Yêu một người ghét một người
Ghét yêu lẩn quẩn thiệt thòi danh thơm
Hào 3 dương
Núp quân ở rừng rậm (mà thập thò); lên gò cao, ba năm chẳng hưng vượng được.
NHL giảng: Hào này muốn hợp với hào 2 (âm) ở dưới, nhưng nó quá cương (dương ở ngôi dương) lại bất đắc trung, như một kẻ cường bạo, trong khi đó, 2 đã ứng hợp với 5 ở trên, 3 sợ 5 mạnh nên không dám công kích 2, chỉ núp trong rừng, rình trộm, rồi thập thò lên đồi cao mà ngó (3 ở trên cùng quẻ nội, nên có tượng như vậy), do đó ba năm cũng không tiến (hưng vượng) lên được. PBC phụ chú: Lời hào này miêu tả tình trạng kẻ tiểu nhân thiệt là đúng. Muốn tranh người mà lại lo sức mình địch không nổi. Biết sức mình địch không nổi, nhưng vẫn cứ lo rình cướp người. Trong quẻ Đồng nhân mà có lời hào này, chúng ta nên biết rằng: làm đồng nhân thiệt là khó. Toán Hà Lạc giải: Chẳng có phận thì cầu cạnh sao được.
MHC: Cậy mạnh, sinh thế, muốn cái này, thích cái kia, chí hướng bất định, nên nhiều lo sợ, tấm lòng nan trắc, hoặc làm quân đi xa, hoặc ở ẩn nơi rừng rậm, gò cao.
MKHC: Phóng đãng, phạm pháp, nhiều tai họa.
Vận Năm- Giới Quan: Phòng giáng chức. Giới Sĩ: Có cơ hội được lên cao (Hào xấu mà dự đoán tốt, đây thuộc lẽ biến dịch, tùy người mà đoán định). Người thường: Nghi ngờ, cạnh tranh, trong vinh có nhục. Đại khái, mọi việc nên đề phòng.
Người xưa có thơ rằng:
Đấm đá chi, chỉ mất công
Về nhà hưởng phúc, bên sông gió lành
Hào 4 dương
Cưỡi lên tường đất rồi mà không dám đánh, thế thì tốt. NHL giảng: Hào này cũng là dương cương, bất trung, bất chính, cũng muốn hợp với hào 2, chèn ép 3 mà cướp 2, (hào 3 ở giưã 2 và 4 cũng như bức tường ngăn cách 2 và 4, 4 ở trên 3 như đã cưỡi lên bức tường đó), nhưng tuy cương mà ở vị âm, còn có chút nhu (mềm) nên nghĩ lại, không thể chèn ép 3 được, như vậy không nên, cho nên lời hào bảo "thế thì tốt" (do biết trở lại phép tắc). PBC phụ chú: Xem truyện Tàu, người nước Tấn lấy binh lực nạp tên Tiệp Tri về nước Trâu, ép nước Trâu lập Tiệp Tri làm vua, nhưng vì nghĩa con thứ không thể đoạt được, phải chịu lui mà chẳng nạp (chính là ứng nghiệm với hào này). Toán Hà Lạc giải: Biết lấy điều nghĩa mà chế tài cái thế lực.
MHC: Biết cơ mà thoát, biết đủ mà không tham. Hoặc giữ chức trấn thủ biên thành, hoặc giàu có ở nhà lớn tường cao.
MKHC: Cũng được người trên tin dùng, người dưới phục vụ.
Vận Năm- Giới Quan: Có công tu bổ thành trì, cơ sở. Giới Sĩ: Chưa có công trạng gì, nhưng có dịp được vinh hoa. Người thường: Có sự nghi kị, đấu tranh, trong vinh có nhục.
Người xưa có thơ rằng:
Công phạt chỉ hại, nên lùi
Gia đình tươi sáng, tin vời bên sông
Hào 5 dương
Cùng với người, trước thì kêu rêu, sau thì cười; phải dùng đại quân đánh, rồi mới gặp nhau. NHL giảng: Hào này dương cương, trung, chính, ứng hợp với hào 2, thật là đồng tâm, đồng đức, tốt. Nhưng giữa 5 và 2 còn có hai hào 3 và 4 ngăn cản, dèm pha, phá rối, nên mới đầu phải kêu rêu (hô hào), phải dùng đại quân dẹp 3 và 4, rồi 2 và 5 mới gặp nhau mà vui cười. Công việc hòa đồng nào mới đầu cũng phải vượt qua những thử thách như vậy. Toán Hà Lạc giải: Trước bực mình, sau mới gặp, cũng phải mượn đến sức mạnh mới xong.
MHC: Dù tài đức, danh lợi, nhưng trước khó sau dễ. Hoặc làm tư lệnh quân đội, hoặc giữ chức trung cấp trong dinh, phủ.
MKHC: Gian nan, hình thương, mãi sau mới gặp dịp, nhưng phúc ít, họa nhiều.
Vận Năm- Giới Quan: Trước bị cách giáng, sau mới khởi lên được. Giới Sĩ: Trước vất vả, sau mới gặp dịp. Người thường: Trước khó sau dễ, buồn vui bất thường.
Người xưa có thơ rằng:
Dùng quyền, người chửa thuận tòng
Khi thêm sức mạnh, thành công đến liền
Hào 6 dương
Cùng với người ở cánh đồng ngoài đô thành, không hối hận. NHL giảng: Cánh đồng ngoài đô thành thì không rộng bằng cánh đồng ở thôn quê. Hào này tuy ở cuối quẻ Đồng nhân, không có hào nào ứng với nó, cho nên chí hướng chưa được thực hiện như mong muốn, chỉ mới như cùng với người ở cánh đồng ngoài đô thành thôi, chưa ở giữa đồng nội rộng lớn được. Toán Hà Lạc giải: Đứng riêng, tự thu (hoạch), cũng có điều sở đắc.
MHC: Tâm quảng đại, có tài đức, giàu sang.
MKHC: Là tăng ni ở ngoài thành, là khách buôn chưa toại ý.
Vận Năm- Giới Quan: Thường đi quận xa. Giới Sĩ: Khó gặp cơ hội tốt. Người thường: An thường thủ phận, sinh nhai đạm bạc.
Người xưa có thơ rằng:
Nhân tình cách trở nhiêu khê
Phương Nam tìm đến bạn bè hay hơn
14- HỎA THIÊN ĐẠI HỮU
1 1 1 1 0 1
(Possession de ce qui est grand)
Đại Hữu là Sở hữu rất lớn, là Có Lớn (Học Năng dịch là Khoan, là Rộng lớn). Tượng quẻ: Lửa ở trên Trời.
Có lớn thì rất hanh thông.
NHL giảng: Ly ở trên Càn là Lửa ở trên Trời, chiếu sáng mọi vật, như vậy là Có Lớn. Ly lại có nghĩa là văn minh, Càn là cương kiện. Quẻ gồm cả văn minh (phát triển bên ngoài) và cương kiện (hàm súc bên trong) cho nên rất hanh thông. Theo PBC quân tử ở về thời Đại Hữu cần có phương pháp thống trị cho rất hay. Vì ở trong lúc ấy, cuộc sống có kẻ ác kẻ thiện, nếu chẳng phân biệt xử trí tất đến nỗi thanh trọc, hỗn hào, thị phi điên đảo, mà nghiệp đại hữu trở nên gây cuộc đại loạn. Quân tử vì lo như thế, nên hễ người nào ác tuy chưa rõ, trước phải ngăn đón ngay, hễ người nào, thiện còn ẩn ức, gấp lo biểu dương ngay, làm như thế để thông thuận mệnh tốt của trời. Hai quẻ Đồng nhân và Đại Hữu nối tiếp nhau và hoàn thiện cho nhau. Khi chưa đồng nhân thì phải phân chia loại, tộc (giống, loài) để phân biệt ra được thiện, ác. Khi đã phân biệt được thiện, ác rồi, tất phải đón ngăn (át) cái ác, biểu dương (dương) cái thiện, mới làm nên được đồng nhân, mà giữ gìn được đại hữu. Loại, biệt là quy mô; át, dương là thủ đoạn (phương pháp); đồng nhân, đại hữu là mục đích. Lời Tượng: Lửa ở trên trời là quẻ Đại Hữu. Người quân tử coi quẻ này mà ngăn đón điều dữ khi nó chưa phát hiện, biểu dương điều lành khi nó còn mập mờ để thuận mệnh tốt của Trời.
Toán Hà Lạc giải: Đại hữu là Sở hữu rất lớn, là Có Lớn, còn hiều là có lòng khoan dung, rộng lớn. Tượng quẻ là Lửa ở trên Trời. Người quẻ Đại hữu là người bên ngoài thì phát triển mạnh mẽ, bên trong thì chứa chất hàm súc, nên dễ có cuộc sống giàu sang và phong phú, tiến bộ. Có lúc như bánh xe lớn, chở nặng, đi chốn nào cũng được, sẵn sàng gánh vác công việc to lớn, nặng nhọc. Có lúc như phúc trời ban xuống. Là người có uy danh, có lòng chí thành, được tin dùng, giàu sang, có thể mở tiệc lớn mời các bậc đại nhân, nguyên thủ, không phải ai cũng làm được như thế. Nhưng chính vì thế mà người quẻ Đại Hữu cần rất đề phòng trở nên kiêu mãn, ham giàu quên nghĩa, không biết chịu cực nhọc nên gặp tai họa. Người xưa khuyên người quân tử được quẻ Đại Hữu phải biết ngăn cái dữ (của bản thân) khi nó còn mầm mống, phát hiện cái tốt khi nó còn mập mờ hé lộ, làm như thế mới là thuận mệnh trời. Người quẻ Đại Hữu thuận với ngành nghề thiên văn, khí tượng, nghệ thuật điện ảnh, tài chính, ngân hàng, kinh doanh, công nghiệp. Việc nghiên cứu lý luận, triết học đòi hỏi cái nhìn bao quát, khái quát từ trên xuống cũng hợp với người quẻ Đại Hữu. Quẻ Hỗ của Đại hữu là Trạch Thiên Quải. Quải là quả quyết. Người quẻ Đại Hữu cũng là người có tính quả quyết, cương quyết diệt trừ kẻ tiểu nhân, lối sống tiểu nhân, thấp kém. Nguyệt lệnh thuộc tháng 1. Những tuổi Giáp hoặc Nhâm: Tý, Dần, Thìn; Kỷ: Dậu, Mùi, Tị lại sinh tháng 1 được quẻ này là thuận hành với quy luật của trời đất, có giàu sang, phú quý. Tuổi Ngọ, Mùi được quẻ Đại Hữu là cách quý hiển Thái Dương Đương Thiên (vầng Thái Dương trên trời).
Người xưa có thơ rằng:
Bụi đời đắm đuối bao phen
Gặp dê, hội mới, mới lên dần dần
Lo sao chân thực mọi phần
Gặp người mộc khẩu ân nhân đây mà
(Gặp Dê: năm Mùi vận hội lên. Về hai câu thơ 3,4, Học Năng ghi chú: Yểu cầu chân dữ thực / Mộc khẩu thị ân nhân. Chữ Mộc trên, chữ Khẩu dưới là chữ Hạnh. Vậy tại sao không dịch Gặp người đức hạnh ân nhân đây mà (?). Sợ rằng hai chữ Mộc Khẩu còn hàm ý gì chăng?)
|
Hào 1 dương
Chưa làm việc gì tai hại, chưa có lỗi, nhưng phải (cẩn thận) cư xử như gặp lúc gian nan thì mới khỏi lỗi. NHL giảng: Đại Hữu là Có Lớn. Hào 1 như con một nhà giàu, còn trẻ, chưa làm gì tai hại thì chưa có tội, nhưng vì là con nhà giàu, ít người ưa, nếu lại kiêu căng, xa xỉ, thì sẽ gây oán ghét, cho nên Lời hào khuyên sống như trong cảnh gian nan thì mới khỏi tội. PBC phụ chú: Lời hào dạy người lấy tâm lý mà chống với hoàn cảnh.
Toán Hà Lạc giải: Đã giàu có, không nên quá ham, chịu cực nhọc thì tránh được tai họa.
MHC: Tài đức chưa đắc dụng, thừa của mà thiếu danh.
MKHC: Nhục nhã, gian nan, cố giữ cho khỏi tội lỗi.
Vận Năm- Giới Quan: Tri cơ, lui ngay, chớ tham lộc vị. Giới Sĩ: Đừng vội tiến. Người thường: Kẻ dưới lăng loàn người trên. Có sự tai biến, cố kiên trì giữ gìn thì khỏi đổ vỡ.
Người xưa có thơ rằng:
Giàu sang mặt kiêu đầy
Rèn lòng kính mới hay.
Hào 2 dương
Xe lớn chở nặng, đi chốn nào (ý nói làm gì) cũng được. Không có lỗi. NHL giảng: Hào này tốt nhất trong quẻ: dương cương mà đắc trung, vừa có tài, vừa khiêm tốn, được hào 5 âm ở trên ứng hợp, như được nguyên thủ hết sức tin dùng sẽ thành công, cho nên ví với cỗ xe lớn chở nặng, đi đường xa, đâu cũng tới được. PBC phụ chú: Hào này là hào tốt nhất trong quẻ Đại Hữu, mà lời đoán thánh nhân chỉ Không có lỗi mà thôi, chẳng cho chữ tốt, lành. Đó mới biết thánh nhân chẳng bao giờ dạy người quá đắc ý, cũng chẳng bao giờ dạy người quên nghĩa vụ. Một hạng người như 2 dương, tài cao hơn hết thiên hạ, gánh nặng hơn hết thiên hạ. Tuy "Xe lớn chở nặng", cũng chỉ là vừa trọn nghĩa vụ mình thôi. Vậy nên, lời hào chỉ có mấy chữ Không có lỗi. Lời hào này xem trong sử Đông Tây có ông Y Doãn ở Tàu và ông Ca-mi-lơ ở I-ta-li-a đúng được như hào 2 dương này. Ông Y Doãn nguyện giúp vua Thang mà nói rằng: Ta quyết khiến cho vua ấy làm được như vua Nghiêu, Thuấn, khiến cho dân ấy được như dân đời Nghiêu Thuấn. Ông Ca-mi-lơ làm tướng nước I-ta-li-a (phiên âm tiếng Hán là Gia Phú Nhĩ, ở Ý Đại Lợi), kinh dinh cho nước thống nhất, cường thịnh, ông trọn đời không lấy vợ. Người ta hỏi ông, ông trả lời rằng: Nước Ý là vợ của tôi. Sức lớn gánh nặng như hai ông ấy thiệt là Xe lớn chở nặng.
Toán Hà Lạc giải: Làm thành việc lớn.
MHC: Có tài đức. Thời loạn lập công to.
MKHC: Hưởng phúc, thọ. Giàu có, chẳng lo sợ gì.
Vận Năm- Giới Quan: Được phong tướng. Xuất quân, lập công trạng. Giới Sĩ: Tiến tới, thành danh. Người thường: Kinh doanh lợi lớn. Người già giảm thọ.
Người xưa có thơ rằng:
Cao minh, khoan hậu thành to
Gái trai tiến bộ chẳng lo ngại gì
Hào 3 dương
Như bậc công hầu mở tiệc mời thiên tử. Hạng tiểu nhân không đương nổi việc đó. NHL giảng: Hào 3 này dương cương, đắc chính, đứng trên cùng quẻ nội, cho nên ví với một bậc công (tương đương cấp chính phủ bây giờ), ở vào thời Đại Hữu tất có nhiều đất đai, của cải, nên bậc nguyên thủ cũng nể, tới dự tiệc do vị công đó đãi. Nhưng phải là người quân tử, có đức hạnh, không kiêu, mới làm như vậy được; còn hạng tiểu nhân, thấy thiên tử tới nhà mình, càng kiêu căng, xa xỉ, thì không đương nổi danh dự đó, mà chỉ hại thôi.
Toán Hà Lạc giải: Ông lớn được cấp trên tin dùng.
MHC: Tài cao đức lớn, tận tụy làm việc nước.
MKHC: Tham, có hại. Thành khó, bại dễ.
Vận Năm- Giới Quan: Làm nổi trọng trách. Giới Sĩ: Đỗ hạng ưu. Người thường: Tai nạn, gian nan, trì trệ. Lăng loàn, nhờn người trên.
Hào 4 dương
Đừng làm ra vẻ thịnh vượng (khoe của, sống rất sang) thì không có lỗi. NHL giảng: Hào này ở địa vị cao, gần hào 5 mà bát trung, bất chính, e có họa đến nơi, nên Lời hào khuyên phải khiêm tốn, tiết kiệm. Toán Hà Lạc giải: Chức vị lớn mà biết dẹp bớt sự kiêu mãn của mình thì giảm lầm lỗi.
MHC: Không kiêu dâm. Minh triết. Trước sau tốt lành.
MKHC: Tham nhỏ chóng đầy. Coi chừng bị họa chiếm đoạt chức vị.
Vận Năm- Giới Quan: Giữ yên chức vị thì không ai đụng chạm đến. Giới Sĩ: Đợi thời thì không bị tước đoạt. Người thường: An phận. Đau mắt.
Người xưa có thơ rằng:
Gặp người tên chữ Thảo đầu
Đường mây chỉ nẻo nhẹ cầu công danh
Hào 5 âm
Lấy lòng tin, chí thành mà giao thiệp, và phải có uy thì tốt. NHL giảng: Hào này ở vị chí tôn, được cả 5 hào dương theo, nên phải đem đức tin và lòng chí thành mà đối đãi với người dưới. Nhưng vị là âm nên ngại rằng quá nhu, nên Lời hào khuyên phải có chút uy mới được. Toán Hà Lạc giải: ở ngôi trên, phải có uy để trị dân.
MHC: Ân uy đi đôi, xa gần đều thuận, lập công to, hưởng phú quý.
MKHC: Ủy mị, để bị khinh nhờn, làm ơn nên oán.
Vận Năm- Giới Quan: Tri cơ thì nên thoái. Giới Sĩ: Thừa cơ nên tiến. (Cùng một hào mà kẻ nên thoái, kẻ nên tiến, tùy từng người) Người thường: Xem thời mà động tĩnh, nhưng không nên kiêu mãn mà chịu tai vạ.
Người xưa có thơ rằng:
Dưới trên giữ tín đừng sai
Vốn mềm phải cứng cho “oai” việc làm.
Hào 6 dương
Tự trời giúp cho, tốt. Không có gì là chẳng lợi. NHL giảng: ở thời Đại Hữu, thịnh trị, hào dương cương này ở trên cùng mà chịu hạ mình theo hào 5, chỉ vì 5 có đức thành tín; như vậy là giàu mà không kiêu, tuy thịnh mà không đầy tràn, nên được trời giúp cho, hóa tốt, chứ lẽ thường hào cuối cùng Đại Hữu đã đến màn cuối, khó mà tốt được.
Quẻ này khuyên chúng ta sống trong cảnh giàu có nên khiêm, kiệm; giao thiệp với người nên chí thành. PBC nhận xét rằng trong 64 quẻ, không quẻ nào tốt đều như quẻ này. Hào 1, 2, 3 đều không có lỗi, hào 4 được hanh thông, hào 5 tốt, hào 6 còn tốt hơn nữa "không có gì là chẳng lợi". Ngay đến quẻ Càn, quẻ Thái, hào cuối cùng cũng xấu, kém quẻ này. Đại Hữu chính là thời thịnh trị sau thời Đại đồng.
Toán Hà Lạc giải: Biết khéo xử ở thời Đại Hữu nên trời cũng giúp cho.
MHC: Làm lớn mà vẫn khiêm nhường, trời cũng thương, phú quý lâu bền.
MKHC: Là kẻ sĩ có đạo đức, phong hậu, bình tĩnh, không bị tai họa.
Vận Năm- Giới Quan: Ngồi vững vàng. Giới Sĩ: Tiến, thành danh. Người thường: Kính trên, được che chở. Nhà nông thịnh vượng.
Người xưa có thơ rằng:
Thiên thời địa lợi hanh thông
Hoa đèn tươi sáng tốt không nghi ngờ.
15- ĐỊA SƠN KHIÊM
0 0 1 0 0 0
(Humilité)
Khiêm là thoái (Thoái nhượng, Lùi nhường bước, Nhún nhường). Tượng quẻ là trên Đất dưới Núi.
Nhún nhường, hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới cuối. NHL giảng: Trên là Đất, Dưới là Núi. Núi cao, Đất thấp, Núi chịu ở dưới Đất là cái tượng nhún nhường, khiêm hạ. Vì vậy mà được hanh thông. Quẻ này chỉ có mỗi một hào dương, dùng nó làm chủ quẻ. Lời Tượng: Trong Đất có núi là quẻ Khiêm. Người quân tử coi đấy mà bớt chốn nhiều, bù chốn ít, để cho sự vật được cân bằng.
Toán Hà Lạc giải: Khiêm là Thoái (Thoái nhượng, Lùi nhường bước, Nhún nhường). Người được quẻ này là người tuy có ngôi vị cao, danh giá cao nhưng luôn biết nhường nhịn, càng nhường nhịn càng tỏ phẩm giá của mình. Người quẻ Khiêm tuy khiêm nhường nhưng không phải chịu thua người, mà đấy chính là cách để vượt khó khăn, như người khiêm nhường mà có thể vượt sông lớn. Phan Bội Châu lấy ví dụ như người lên đò sang sông, nhường người lên trước, mình lên sau. Khi đò quay mũi lại hóa ra mình lên bờ trước. Khí chất thiên nhiên tạo nên cảm xúc và thiên hướng nghề nghiệp của người quẻ Khiêm là Đất và Núi. Người quẻ Khiêm nhậy cảm với những công việc đồng ruộng, sơn lâm, trang trại, thổ nhưỡng, những hoạt động văn hóa xã hội, văn học, nghệ thuật, thiên hướng làm chuyên môn hơn là quản lý chỉ huy, với tính nhu thuận của Đất và tính cao rộng, trọng hậu của Núi. Cũng rất nhậy cảm với tính sáng tạo, bao dung của Đất và tính ngăn trở, ngừng của Núi. Quẻ Hỗ của Khiêm là Lôi Thủy Giải. Giải là giải quyết, giải tỏa, giải tán. Tiềm ẩn bên trong người quẻ Khiêm là tính không khoan nhượng. Người quẻ Khiêm cũng đồng thời là người có chí và có khả năng giải quyết những khó khăn, giải tỏa, giải tán những vấn nạn trong cuộc đời, thậm chí khi cần thì sẵn sàng sống ly thân, ly tán, ly hôn. Nguyệt lệnh thuộc tháng 9. Những tuổi Bính: Thìn, Ngọ, Thân; Quý hay Ất: Sửu, Hợi, Dậu, lại sinh tháng 9 được quẻ này là cách công danh, phú quý.
Người xưa có thơ rằng:
Lẽ đời lo ngại nhiễu phiền
Tấm gương rọi chiếu nhỡn tiền hư không.
(Như tấm gương cho mọi người đều thấy cuộc đời không là gì cả, khiêm nhường mà hay)
|
(còn tiếp)
Nguồn: Khám phá một tia sáng văn hóa phương Đông. Xuân Cang. NXB Văn học sắp phát hành.
|