8
Một cái bàn. Trên bàn có trải một tấm địa đồ, trên tấm địa đồ có một cây gươm dằn và một con roi mây nhỏ. Mã Viện, độ 70 tuổi, ngồi chống tay lo, châu mày.
Thằng hề ở ngoài đi vô, vừa đi vừa suy nghĩ, mặt buồn, tay xách một con chim chết. Thằng hề thấy Mã Viện đương suy nghĩ, nó đứng lại ngó Mã Viện một hồi lâu.
THẰNG HỀ, nói với Mã Viện. - Bữa nay tôi tưởng là một mình tôi buồn, té ra Nguyên soái cũng buồn.
Mã Viện cứ chống tay suy nghĩ, như không nghe. Thằng hề nói nối:
Tôi biết tại sao nguyên soái buồn, tại sao Nguyên soái lo. Tại con chim này phải hay không?
MÃ VIÊN, lấy cây roi mây nhỏ trên bàn, cầm chỉ dọa thằng hề mà nói như nói với một con chó cưng của mình. - Lại đằng góc kia ngồi yên đi. Nếu mầy đứng đó nói bậy thì phải đòn mười roi.
THẰNG HỀ - Nguyên soái với tôi cũng đồng buồn vì con chim này (nó đưa con chim lên). Vì sao tôi lại có tội, phải bị đòn, còn Nguyên soái lại không có tội?
MÃ VIÊN, chúm chím cười, hạ roi xuống. - Tại sao con chim chết đó làm cho mầy buồn?
THẰNG HỀ, nắm cái đầu con chim đưa lên cho Mã Viện coi. - Có chi đáng buồn hơn nữa không? Nguyên soái coi kĩ nơi đầu đây, coi có gớm ghê hay không? Con mắt này khi nãy còn sáng, còn tươi. Chim này nhờ mắt ấy mà sống, mà vui, mà thấu rõ ơn dày của trời đất. Bây giờ con mắt này bị viên đạn trúng, giập, máu chảy đông đầy chung quanh. Con chim này tốt đẹp quá, ngộ nghĩnh quá. Không thể nào con chim này sống lại được.
Thằng hề vùng khóc thiết tha, vừa khóc vừa nói:
Tôi muốn thấy con chim này vui vẻ, bay nhảy, líu lo, hiệp bầy với những chim còn sống trên mặt đất này, mà con chim này không thể sống lại được. Tôi muốn nghe con chim này kêu một mình trên nhành, kêu như vui mầng, kêu như khen như nhớ những bao nhiêu công ơn của trời đất, mà con chim này không thể nào sống lại được.
MÃ VIÊN - Thôi, nín đi. Để tao bảo lính bắt sống một con chim khác cho mầy.
THẰNG HỀ - Nguyên soái cho tôi một ngàn con chim sống khác, tôi cũng không hết buồn vì con chim này. Nguyên soái thường nói không có việc gì mà Nguyên soái không làm được, đâu Nguyên soái làm cho con chim này sống lại coi có được hay không? Nguyên soái đánh thắng mấy trăm trận, giết mấy trăm ngàn người dễ như chơi, đâu Nguyên soái làm cho con chim này sống lại coi có dễ như giết mấy trăm ngàn người không?
MÃ VIÊN - Đi. Đi vô trong góc kia ngồi chơi một mình đi. Tao sợ cho mầy bữa nay không khỏi bị đòn.
THẰNG HỀ - Con chim này, sống, ăn trái choán chỗ của trời đất không bao nhiêu, không hiểu vì sao lính của Nguyên soái lại nỡ lòng giết chết đi?
MÃ VIÊN - Thằng lính nào giết chết con chim đó?
THẰNG HỀ - Tôi không biết tên nó. Tôi cũng không nhớ mặt nó.
MÃ VIÊN - Kiếm cho ra thằng lính đó rồi biểu nó phải làm cho con chim đó sống lại.
THẰNG HỀ - Tôi không biết nó ở đâu mà kiếm. Tôi cứ buộc Nguyên soái mà thôi. Vả lại nếu Nguyên soái không cứu sống con chim này được, thì cả binh lính của Nguyên soái cũng không cứu được.
MÃ VIÊN, cười cười - Mầy thương con chim đó lắm sao?
THẰNG HỀ - Không thương làm sao khóc được?
MÃ VIÊN - Mầy thương con chim đó hơn thương tao, à?
THẰNG HỀ - Thương Nguyên soái là khác, thương con chim này là khác?
MÃ VIÊN - Khác là sao?
THẰNG HỀ - Mỗi khi tôi đói bụng thì tôi thương Nguyên soái, vì Nguyên soái nuôi tôi. Còn con chim này, nó không có quen với tôi, nó cũng không làm ơn cho tôi, nhưng mà nó đồng sống, đồng vui, đồng khổ với tôi trên mặt đất này, nên tự nhiên trong lòng tôi phát ra thương nó.
MÃ VIÊN - Nếu không phương làm cho nó sống lại được, thì lo chôn cất nó đi.
THẰNG Hề - Tôi muốn đặt tên nó một cái tên thật tốt, rồi tôi sẽ đem chôn. Nguyên soái muốn cho tôi đặt cho nó tên chi?
MÃ VIÊN - Ối, tao mắc việc lắm, không rảnh mà lo việc con chim của mầy.
THẰNG HỀ - Mắc việc gì? Việc ấy trọng hơn việc này, à? Tôi biết mà, việc khởi đánh Trưng Trắc, Trưng Nhị chớ việc gì. Một bực tài như Nguyên soái mà lại đem tài chống với hai người đờn bà. Nguyên soái không sợ thiên hạ cười hay sao?
MÃ VIÊN - Vì hai đứa giặc ấy là đờn bà, mà thằng Tô Định lại để cho đến nỗi thua chúng nó, cho nên xấu hổ lây cho đến cả nước Tàu, từ Thiên tử cho đến thứ dân, vì nước Tàu là một nước đã mấy ngàn năm lẫy lừng danh tiếng, làm chúa trong thiên hạ.
Mã Viện còn sống đây, nếu Mã Viện không trừng trị hai con giặc này, thì Mã Viện bị một phần xấu hổ rất lớn trong việc tồi bại của Tô Định.
THẰNG HỀ - Sự xấu hổ là việc của con người, lẽ phải quấy là của Trời. Dân Tàu từ thiên tử cho đến thứ dân, phải trọng lẽ phải của Trời trước hết. Như Trưng Trắc và Trưng Nhị làm theo lẽ phải của Trời, thì có nên trọng cái lẽ phải của Trời hơn cái danh của thiên tử, hay là trọng cái danh của thiên tử hơn lẽ phải của Trời?
MÃ VIÊN, lật đật ngó chung quanh mình, thấy không có ai, cười cười mà nói.
- May cho mầy! Nếu có các quan nghe được câu đó thì mầy phải bị án tử.
THẰNG HỀ - Tôi có nói quấy hay sao?
MÃ VIÊN, nói hơi ngập ngừng. - Không phải là mầy nói quấy. Nhưng mà...
THẰNG HỀ - Nhưng mà không nên nói vậy, vì Trời ở xa, còn thiên tử ở gần.
MÃ VIÊN - Nầy, vậy chớ mầy không phải là người Tàu hay sao?
THẰNG HỀ - Tôi là người Tàu. Nhưng mà một trăm người đờn bà Việt Nam đánh đuổi một trăm quan Tô Định, tôi cũng không xấu hổ lây. Vả lại, nếu đã thắng được hơn mấy trăm trận, mà rủi thất một trận thì cũng không thể cho là xấu hổ được; huống chi là quan Tô Định bị thua chớ không phải là Nguyên soái. Hay là Nguyên soái yêu quí quan Tô Định mà muốn trả thù cho quan Tô Định?
MÃ VIÊN - Tô Định là một thằng ngu ngốc, lại là một thằng hèn. Nó liếm chơn tao như con chó kia, mà tao cũng không thương nó được. Nhưng mà thế nào nó cũng là người Tàu, lại là một người thay mặt cho thiên tử.
Mã Viện biết mình không cần phải trả lời với thằng hề làm chi. Nhưng mà những lí lẽ của thằng này như buộc Mã Viện phải đối lí. Mã Viện như có hơi giận, nói từ tiếng với thằng hề.
Nước Tàu làm thầy của nước Việt Nam, đem đạo đức, đem học thức của mình mà mở tâm mở trí cho dân Việt Nam, lại đem cách cày cấy của mình mà dạy dân Việt Nam khai phá đất nước của nó. Công ơn của nước Tàu cao tợ núi, sâu tợ biển. Dẫu dân Tàu có làm điều chi hiếp dân Việt Nam, dân Việt Nam cũng phải nhỏ nhẹ mà năn nỉ xin chánh phủ Tàu suy xét lại cho. Có đâu trò lại dám đánh thầy, con trở lại đánh cha. Ấy là nói theo lễ nghĩa. Dân Việt Nam là dân không biết lễ nghĩa. Với kẻ dã man thì chỉ dùng cách thô bạo mới là dạy nó được.
Nước Việt Nam là nước gì? Còn nước Tàu là nước gì? Một trăm nước như nước Việt Nam mà tiêu mất đi, cũng không hại gì đến nhơn loại. Còn như nước Tàu mà tiêu diệt đi thì còn gì là đạo đức, còn gì là văn minh? Dân Việt Nam là một dân tộc nhỏ hèn, mà lại dám động đến cái oai nghi võ lực của nước Tàu, dám không kính cái danh của nước Tàu là một cái danh trong thiên hạ dân nào cũng phải sợ, phải phục, phải kính.
Mã Viện đứng dậy, đi qua đi lại mà nói một mình. thằng hề cứ ngó theo Mã Viện.
Mã Viện còn sống đây mà dân Việt Nam lại dám thất lễ với nước Tàu. Dân ngu! Không biết rằng làm như vậy là như đem trứng chọi đá. Bây không muốn nhỏ nhẹ đến kêu nài cầu xin ta. Bây muốn dùng gươm mà chống với ta. Bây dùng gươm thì bây phải chết vì gươm. Ấy là lẽ công bình.
THẰNG HỀ - Lẽ công bình đó là của Nguyên soái, chớ không phải là của Trời.
Mã Viện lấy roi đưa lên đánh thằng hề; thằng hề, khiếp sợ, né mình, đưa hai tay lên đầu mà đỡ roi. Mã Viện ngưng roi lại, không đánh.
MÃ VIÊN - Đi vô trong góc kia ngồi chơi. Nếu mầy nói bậy nữa, mầy sẽ bị đòn nặng.
Thằng hề đi vô trong góc ngồi, tay cứ cầm con chim. Mã Viện đi qua đi lại, mặt có sắc lo tính, suy nghĩ.
THẰNG HỀ, buồn, ngồi nói một mình. - Tôi không nói công bình. Tôi nói tương ái. Không có tương ái thì không thể công bình được. (Nó vuốt ve con chim).
Chim ơi, tao thương mầy lắm, chim ơi. Tao không phải thương mầy như anh cày ruộng thương cặp trâu của ảnh. Tao không phải thương mầy như anh chủ nhà thương con chó của ảnh. Thương mầy, là vì lắm khi mầy phải đói, lắm khi mầy bị lạnh; mà chẳng bao giờ mầy than van, cứ vui vẻ, cứ líu lo. Có đau ốm thì rũ thì buồn, chớ cũng không than không trách. Không cướp phá ai, không mưu hại ai, không lường gạt ai. Lương tâm trong sạch - mà thảm thương thay! - ngày đêm lại phải rối lo, phải hồi hộp, phải cẩn thận như kẻ gian tham, như bọn mưu ác, vì, ngày thì sợ chim to, tối thì sợ thú dữ. Đã vậy lại phải sợ ná, sợ tên. Trong bọn đi săn, không phải vì không cơm không rau mà phải giết chim cho đỡ đói; vì muốn ăn miếng lạ thích mùi ngon mà không kể gì là ác; cũng có kẻ hoặc muốn thử tài, hoặc kiêu ngạo muốn cho người phục mình có tài bắn giỏi. Chim ôi, chim không bao giờ ác, sao con người lại ác với chim?
Một tên lính dắt một ông quan võ vào. Thằng lính đứng lại tại cửa, còn quan võ thì đi ngay vào quì xuống trước mặt Mã Viện
MÃ VIÊN, hỏi quan võ - Sao? Thể nào? Nói. Nói cho mau.
QUAN VÕ - Bẩm Nguyên soái, tôi vâng lịnh của...
MÃ VIÊN - Đừng nói dông dài. Sao? Bọn đi thám bên quân giặc đã về chưa?
QUAN VÕ - Dạ, về rồi.
MÃ VIÊN - Sao? Nói cho ta biết những điều ta biểu phải dọ thám đó.
QUAN VÕ - Lương phạn dự bị của quân giặc đủ được nửa năm. Binh lính và các quan bên đó coi bộ tài sức không kém bên mình mấy. Nhưng mà số binh lính, phần thì hẹp ngày giờ, phần thì lính dưới nam khó đem lên bắc cho kịp, cho nên số lính không được phân nửa số lính của mình.
MÃ VIÊN - Trong triều đình?
QUAN VÕ - Trong triều thì lo sợ lắm?
MÃ VIÊN - Điều ấy ta đã biết trước. Con Trưng Trắc là một đứa không hồn.
QUAN VÕ - Trưng Trắc thì không tính ra việc gì hết. Ai biểu gì thì nghe theo nấy, mà trong triều thì mỗi người người nào cũng có một ý kiến hay.
MÃ VIÊN - Còn thằng Lí Định?
QUAN VÕ - Lí Định lúc đầu thì cũng lo cũng rối như cả bọn nó...
MÃ VIÊN, như sợ hãi, nắm vai quan võ lắc lia. - Rồi bây giờ thì sao? Nói cho mau. Con Trưng Nhị làm cho nó tỉnh lại phải không?
QUAN VÕ, không trả lời, ngó Mã Viện như sợ không vừa lòng Mã Viện mà không dám nói sự thật.
MÃ VIÊN, đi qua đi lại. - Con Trưng Nhị này! Con Trưng Nhị này! Bêu đầu nó giữa chợ, quăng thây nó cho kên kên quạ quạ nó ăn cũng còn là chưa vừa với cái tội của nó.
QUAN VÕ - Lí Định không sợ hãi, không rối lo thật. Nhưng mà nó như thằng túng quyết liều sống chết đó thôi. Binh lính của nó thì cũng quyết liều sống chết, chớ cũng không chắc chống nổi lại với mình.
MÃ VIÊN - Còn triều đình?
QUAN VÕ - Triều đình sợ Lí Định mà phải chìu theo Lí Định, chớ trong bụng thì triều đình đã lo về cách nào để tiếp rước Nguyên soái.
THẰNG HỀ, đứng dậy đi lại một tay nắm áo thằng lính đứng chỗ cửa, một tay chỉ vào mặt thằng lính. - Mầy. Mầy. Tao nhớ mặt mầy rồi. Mầy là thằng giết con chim.
Thằng lính ngó thằng hề chưng hửng. Mã Viện và quan võ cũng day lại ngó thằng hề.
Mày nói thiệt thì tao tha tội cho mầy. Tao muốn biết vậy chớ con chim này chết là tại mầy giết nó, hay là tại nó muốn chết?
Mã Viện lấy con roi mây đi lại đánh thằng hề, thằng hề sợ, buông thằng lính ra, chạy lại chỗ cũ mà ngồi. Mã Viện trở lại nói chuyện với quan võ.
MÃ VIÊN - Các quan có diễn giảng giục lòng quân lính của mình không?
QUAN VÕ - Dạ, có.
MÃ VIÊN - Các quan có kể hết những công ơn của chánh phủ Tàu làm cho quân giặc ở xứ này không? Có cho binh lính của mình rõ dân Việt Nam là một dân tộc vong ơn bạc ngãi không?
QUAN VÕ - Dạ, có.
MÃ VIÊN- Các quan có nói rằng cái loài dã man đó nó dám làm xấu hổ dân Tàu, lại dám nghịch mạng không kiên sợ thiên tử?
QUAN VÕ - Dạ, có nói y như Nguyên soái dạy.
Hai người nín hết. Mã Viện ngó xuống đất suy nghĩ một hồi lâu, rồi ngước mặt lên ngó ngay vào mặt quan võ mà hỏi.
MÃ VIÊN - Còn ông?... Ông chắc rằng mình thắng chúng nó, hay là chúng nó thắng mình?
QUAN VÕ - Tôi chắc rằng mình thắng. Thắng nội trong ngày nay.
Nín một lát.
MÃ VIÊN - Có cho binh lính uống rượu đặng giục lòng chúng nó hay không?
QUAN VÕ - Dạ, có.
Mã Viện đi qua đi lại vài lần, rồi đi ngay ra cửa. Quan võ lật đật đứng dậy đi theo. Quan võ ngay tay chỉ ở xa cho Mã Viện coi. Vừa chỉ vừa nói:
QUAN VÕ - Vâng theo lịnh của Nguyên soái, một đạo mã kị giỏi đã đi xuống hướng tây nam hôm qua. Bữa nay bọn mã kị ấy đánh phá xé hàng binh của giặc đặng làm yếu cánh tả của chúng nó, đặng cho binh của mình dễ bao bọc. Thừa lúc binh của mình đánh đuổi thối lui cánh tả của giặc, đạo mã kị ấy xông luôn xuống hướng nam mà chặt đường những đạo binh chạy đến tiếp sức cho chúng nó. Chặt được rồi, thì phải để cho một ít binh lính thất bại của bọn đi tiếp đó lọt qua khỏi, đặng cho chúng nó đem tin thất bại làm rủn chí binh lính của giặc. Đạo binh giỏi nhứt thì giữ miệt này, chống với binh của Lí Định và Trưng Nhị. Còn về việc đi lên trên bắc mà bọc xuống, việc ấy, nhờ mình có binh đông hơn, nên thế nào cũng bao bọc nổi; thế lực của giặc ở miệt đó đã yếu mà lại không có tướng giỏi.
Có người đem tin đến kia.
Mã Viện và quan võ trở vô.
Mã Viện vừa ngồi, một tên lính đem tin vô quì trước mặt Mã Viện.
TÊN LÍNH ĐEM TIN - Quân giặc đã bị bao bọc tới hướng nam. Binh chạy đến trợ tiếp chúng nó đã bị chặn đường.
Mã Viện ngó chăm chỉ trước mình. Quan võ đứng gần bên, láy mắt bảo tên lính đi ra. Tên lính lui ra. Một lát có một tên lính khác vô đem tin, đến quì trước mặt Mã Viện.
TÊN LÍNH ĐEM TIN II - Đạo binh của Trưng Nhị dữ như một bầy hổ, khó phân thắng bại.
Mã Viện cứ ngồi ngó chăm chỉ trước mình. Quan võ láy mắt bảo tên lính đi ra. Tên lính lui ra. Một tên lính khác nữa chạy vào đem tin, quì xuống trước mặt Mã Viện.
TÊN LÍNH ĐEM TIN III - Đạo binh của Lí Định cự địch như chó sói cùng thế.
Quan võ láy mắt, bảo tên lính đi ra. Tên lính đi ra. Mã Viện day lại hỏi quan võ:
MÃ VIÊN - Còn cái mưu đó, sao đến bây giờ mà chưa được tin là thể nào?
Một tên lính đem tin nữa vào quì trước mặt Mã Viện.
TÊN LÍNH ĐEM TIN IV - Phía bắc quân giặc biết khôn, không chống cự, đều đã hàng đầu hết.
Mã Viện sửa cách ngồi lại. Trên mặt hết sắc chăm lo khi nãy. Quan võ láy mắt bảo tên lính đi ra. Tên lính lui ra.
Một lát sau, một tên lính nữa chạy vào, bộ mau mắn, quì xuống trước mặt Mã Viện.
TÊN LÍNH ĐEM TIN V, nói như người mới chạy mau còn mệt. - Quân giặc thất bại, phần thì hàng đầu, phần thì thối lui. Trưng Trắc, Trưng Nhị bị đuổi tới mé sông, đã nhảy xuống sông tự tử. Lí Định chết tại chiến trường.
MÃ VIÊN, nghe tin, đứng dậy mạnh mẽ. - Trưng Trắc, Trưng Nhị đã tự tử. Lí Định chết tại chiến trường. Bây muốn dùng gươm thì bây phải chết vì gươm.
Mã Viện nói với tên lính đem tin:
Chạy truyền mạng lịnh của ta: Ta cho phép giết hết những các tướng của giặc mà dám chống lại với binh Tàu, rồi sau sẽ làm tội giết tới cha mẹ vợ con của chúng nó, giết chẳng chừa lại một trứng mén nào, còn những kẻ đã hàng đầu, nên dung cho chúng nó.
THẰNG LÍNH ĐEM TIN V - Dạ.
Rồi lật đật chạy ra.
MÃ VIÊN, đi qua đi lại mạnh mẽ. - Ngu dại mà lại kiêu ngạo, dám tự xưng là con rồng cháu tiên, dám kình chống lại với nòi giống của ta. Mã Viện đánh bây là dạy khôn cho bây. Rồi đây Mã Viện sẽ khắc sự nhục của bây vào trụ đồng, để lại sau cho con cháu bây ghi nhớ, cho con cháu bây biết rằng "con rồng cháu tiên" là kiếp nào kìa, chớ từ rày sắp về sau "con rồng cháu tiên" phải làm thân trâu ngựa. Trụ đồng ấy, Mã Viện sẽ trồng trong xứ này làm trụ để cột bầy trâu Việt Nam.
THẰNG HỀ, đứng dậy đi ngay lại thằng lính đứng chỗ cửa, nói với thằng lính. - Không phải mầy giết con chim này. Khi nãy tao nghi oan cho mầy.
Thằng hề kéo thằng lính đi đến trước Mã Viện, vừa kéo vừa hỏi thằng lính:
Mầy biết con chim này tên gì hay không?
Mã Viện với quan võ đều đứng ngó coi thằng hề làm gì lạ vậy.
Thằng hề kéo tên lính đến trước mặt Mã Viện và quan võ. Tay còn níu thằng lính, miệng hỏi quan võ :
Mầy biết con chim này tên gì hay không?
Thằng hề hỏi luôn Mã Viện :
Còn Nguyên soái, Nguyên soái biết con chim này tên là gì hay không?
Con chim này tên là Trưng Nhị.
THẰNG LÍNH, vuột ra khỏi tay thằng hề, sợ, lui ra xa thằng hề. - Nó điên. Nó điên.
THẰNG HỀ, bộ như người điên. - Hả! Hả! Hả! Kẻ nào dùng gươm thì phải chết vì gươm. Tao biết ai giết con chim này.
Thằng hề trợn mắt lên, chỉ ngay mặt Mã Viện.
Mầy. Mầy giết.
Thằng hề nhảy chụp cây gươm trên bàn, rút gươm ra chém Mã Viện. Quan võ lẹ tay rút gươm nhỏ ra đâm vào lưng thằng hề. Thằng hề té xuống chết. Mã Viện, quan võ, thằng lính xúm lại coi cái thây của thằng hề còn vùng uốn. Khi cái thây hết vùng uốn nữa, thì Mã Viện lại gần, lấy chơn hất lăn cái thây, rồi nói:
MÃ VIÊN - Đem quăng nó đi.
Viết xong trong tháng Sáu Tây, năm 1928.
Mĩ Hòa, Gia Định
TÔN GIÁO
Những năm 1930-1931, Đảng vừa ra đời đã bị khủng bố ác liệt. Các cơ sở Đảng trong cả nước hầu như đều bị tan rã. Chiến tranh thế giới lần thứ II sắp sửa bùng nổ. Nhân dân toàn thế giới đồng dấy lên cao trào xây dựng Mặt trận nhân dân chống Phát xít. Viết TÔN GIÁO, Nguyễn An Ninh nhằm xây dựng tinh thần lạc quan cách mạng, chống bi quan, và bàng quan trước thoái trào cách mạng. Công tác tư tưởng trong tôn giáo là công tác chính trị tư tưởng hàng đầu của Cách mạng. Chấn hưng tôn giáo là xây dựng niềm tin vào Cách mạng, vào Đảng CS Đông Dương.
BÀI ĐẦU
Trong một thời kì mà nhơn loại đâu đâu cũng bị khổ sở, bị thất nghiệp, bị chết đói, chết lạnh, chết lụt, chết vì làm con thịt để nạp cho cuộc chiến tranh như cuộc của đế quốc Nhựt xâm lược xứ Tàu kia; trong một thời kì rất bối rối, mắc trong bao nhiêu vấn đề cần phải giải quyết cần cấp kia, mà lại đem vấn đề tôn giáo ra mà bàn, chắc sau cùng không khỏi trong đám bàng quan có người lấy làm lạ. Cũng có người mỉm cười.
Sao lại không bàn về kinh tế? Trừ nước Nga ra, đâu đâu cũng bị cái nạn thất nghiệp, nói Âu châu và Huê Kì hai mươi triệu người đương tráng kiện mà khoanh tay chịu đói, đó là vấn đề kinh tế. Cuộc chiến tranh rất dữ dội 1914, tiếng súng vẫn còn bên tai, những tình cảnh gớm ghê còn nhớ ràng ràng như trước mắt, mồ mả của cả chục triệu người chết oan còn sờ sờ, mà Trung Nhựt chiến tranh lại nổi lên, bao nhiêu dân tộc mới trải qua cuộc đau khổ 1914 (10 triệu người chết), bao nhiêu cường quốc hội nhau mưu trừ nạn chiến tranh cũng không làm sao cản nổi, ấy cũng là vấn đề kinh tế. Nghệ Tĩnh ba trăm ngàn người phải đói, điền chủ trong Nam năm rồi dư 300.000(1) tấn lúa không bán được để trong vựa cho chuột ăn, tình cảnh Đông Dương bối rối cho đến quan Thượng thơ thuộc địa Reynaud phải xuất bạc kho ra 700.000 đồng làm phí lộ qua Đông Dương cứu vớt giùm dân Việt Nam, cũng là vấn đề kinh tế. Kinh tế! Kinh tế! Âu châu, Mĩ châu, đâu đâu cũng rền hai tiếng ấy. Duy vật lịch sử quan chủ nghĩa tràn lan cả hoàn cầu, truyền dạy: "Kinh tế là gốc. Luân lí, phong tục, tôn giáo, mĩ thuật, chánh trị, toàn cả xã hội chẳng qua là cái bóng của kinh tế của xã hội thôi, kinh tế của xã hội đổi thì cả cả đều đổi theo." Kinh tế không bàn, lại bàn về tôn giáo, cũng là quái lạ thật.
Song một cái tạp chí An Nam kia có nói: những tai nạn mới đến cho dân Việt Nam, anh trạng chi chi ngày xưa đã biết trước. Ấy chẳng phải là tiền định ư? Lòng Trời, ta sao chống nổi? Mấy trăm ngàn dân Nghệ Tĩnh không cơm, lập một cuộc chợ phiên đánh son phấn, đeo chuyền xoàn, cười giỡn một đêm, góp ít ngàn bạc gởi ra thì hết chết đói. Cái nạn kinh tế khủng hoảng ngày nay, một cái tạp chí khác nữa biểu đồng bang cứ xuất vốn mở cửa hàng, thì nạn hết. Theo những tạp chí ấy thì vấn đề kinh tế cũng không rắc rối gì mà phải lo.
Thôi, nói thiệt đi. Những sự rối rắm về kinh tế của xã hội ngày nay khó mà giải quyết một cách hoàn toàn. Những hạng người gánh vác nổi việc lớn lao như thế, chẳng phải họ nghiên cứu kinh nghiệm về kinh tế của xã hội một cách rất sâu xa mà thôi, mà họ lại là người can đảm, chí lớn, quyết lòng trừ cả các bịnh cũ trong xã hội ngày nay, sửa đổi cho thành một xã hội mới, trúng lẽ công bình, trúng theo nhơn đạo. So theo với các hạng người ấy, những nhà chuyên môn kinh tế ở xứ ta, tuy là tiếng có học tại Paris mấy chục năm đi nữa, sự biết của họ không lướt nổi sự biết của một anh chủ điền thường thường. Nói mà giải được điều khó khăn, sự đau khổ của thiên hạ thì nên nói. Chớ nói mà làm phường ngu dốt lầm lạc thêm, nói đặng cho cái hạng biết nó cười thầm mình thì thà nín còn hay. Vì vậy thôi, cũng nên bàn về tôn giáo, là một vấn đề lâu đã mấy ngàn năm mà nay vẫn còn mới mẻ. Mà rồi, có lẽ tôn giáo cũng có vướng vấp với kinh tế.
Tôi viết ra tập này không phải viết cho cái hạng người lợi dụng tôn giáo hay là cho mượn tôn giáo làm phương sanh nhai. Hai hạng này biết rõ họ làm gì quá đi, được như ý thì họ dùng, không được như ý thì họ bỏ, không thể bao giờ họ sai lầm được.
Ngày xưa tôi cũng có khổ tâm với tôn giáo nhiều. Trên con đường khó khăn của tôi, tôi cũng lắm công tìm mò. Nay được nhẹ tâm trí một chút ít, muốn lấy sự học hiểu của mình nói ra coi có giúp gì cho các bạn thật khổ tâm với tôn giáo không. Đời người ngắn ngủi, lầm một bước, tuy biết rằng cái sai là học khôn, nhưng cũng là mất thì giờ hết bộn. Vì vậy trong bọn chơn tâm sao nỡ không cùng nhau giúp sức tìm sự hay, bươi điều lỗi, mong cho tìm đường tốt mà đi, mục đích cao thượng mà sống. Bà Georges Sand có nói: "Trọn đời tôi tôi chỉ lo có một điều, là tìm cho ra cái chơn lí đúng với tôi mà cũng đúng với cả thiên hạ". Tưởng lại ai ai cũng muốn như bà. Tôn giáo có giúp chúng ta trong sự tìm chơn lí ấy không? Đó là một câu hỏi trong mấy trương sau đây lần lần rán sức trả lời?
DỊ ĐOAN
Trâu giành đồng, chó tranh miếng ăn, gà trống giành mái, ấy là những gương ta thấy trước mắt mỗi ngày. Trên trời, dưới đất, dưới nước đâu đâu có những loại sống biết đi kiếm ăn, thì ta đều thấy hiếp yếu, mạnh lướt yếu, mạnh giết yếu. Con người cũng là một loại thú như các loài kia, cho nên nhơn loại lúc còn dã man cũng phải sống với cái luật "mạnh thắng yếu" kia. Mà nhơn loại cho đến ngày nay cũng còn sống trong cái luật ấy. Người Ăng lê thường nói "Strugggle for life", nghĩa là "tranh đấu đặng sống".
Muốn cho hiểu rõ vì sao tôi nói nhơn loại hiện thời còn sống trong cái luật "mạnh thắng yếu" như lúc còn dã man, tôi cần phải nói dông dài một chút, rồi sau sẽ trở lại cái nghĩa, cái gốc của dị đoan.
Lúc chưa có luật pháp hay là phong tục gì để định sao là phải, sao là quấy, thì nếu hai người cãi nhau hay là giành với nhau một vật gì thì cứ ai mạnh là hơn là được. Cho đến mình ra công tạo ra được một vật gì, vật ấy chắc là của mình, phải để cho mình dùng, mà kẻ mạnh còn cướp đoạt được. Vợ mình thương mình, con mình sanh ra; kẻ mạnh cũng bắt hoặc làm vợ, hoặc làm nô cho nó, kẻ mạnh đã cướp của của kẻ yếu mà lại còn bắt kẻ yếu làm nô bộc cho nó, xài như ngựa như trâu, muốn giết chừng nào thì giết. Túng thế kẻ yếu phải binh nhau, lấy tình máu mủ hiệp nhau làm một họ, nhiều họ làm một bộ lạc. Trong họ, trong bộ lạc thì định luật cho công bình, mà đối với ngoài bộ lạc thì tranh đấu rất dữ dội. Họ này đánh cướp họ kia, bộ lạc này đánh cướp bộ lạc kia, đám thắng bắt đám thua làm tôi tớ, có khi đem ăn thịt chơi như thú vậy kia vậy. Cái tật bắt bán nô bộc, xưa kia các nước văn minh cho là tự nhiên. Nhơn đạo lắm như Marc Aurèle là người chúa hiền đức hơn hết tại Rôma trong lúc đó, mà chỉ sửa đổi luật pháp chút ít đặng cấm giết, đánh đập nô bộc thái quá hay là bán chồng một nơi vợ con một ngã vậy thôi. Cách một trăm năm nay, người Âu châu còn đem tàu qua Phi châu vào làng bắt ép dân da đen đem qua Mĩ châu bán cho các sở trồng trỉa. Cái tục bán nô ấy nghe như bên Tàu, ngoài Bắc hãy còn. Đến chừng bộ lạc hiệp làm một nước, thì nước này đối với nước kia cũng còn tranh đấu cướp bóc xâm lấn, chém giết nhau như thuở còn dã man "cá nhơn đối với cá nhơn" trong rừng kia. Mà trong một họ, một bộ lạc hay là một nước, những người đồng họ, đồng bang đó, có đối với nhau một cách công bình, hòa thuận, lấy lẽ phải quấy mà ở với nhau không? Tên Yếu bị tên Mạnh hiếp. Có tên Mạnh Hơn kia đến làm mặt nhơn đạo xía vô giải hòa. Mạnh Hơn mới biểu Mạnh với Yếu nạp nuôi anh ta đặng anh ta ở không dưỡng vóc, tập võ, chùi mài khí giới, đặng phòng ngừa tên Mạnh và giữ trật tự cho cái xã hội ba người đó. Tên Mạnh thiếu sức phải gục đầu chịu đóng thuế. Tên Yếu thà chịu đóng thuế, dầu nặng thế nào cũng còn hơn là để cho chúng lấy hết, nên chịu đóng thuế chớ trong tâm cũng không nhìn nhận cái xã hội ba người đó là công bình. Trong cái xã hội ba người đó, Mạnh Hơn nhờ cường lực mà ăn của Mạnh và Yếu; còn Mạnh mà đối với Yếu, không dám hiếp đáp là cũng nhờ gân cốt mạnh và lưỡi gươm của Mạnh Hơn kia. Ở các tòa xử án ngày nay người ta còn đúc hình bà thần công lí một tay câm cân thẳng băng, một tay cầm gươm. Xét cho kĩ, họ, bộ lạc, nước, tuy là lập thành ra nói rằng để dùng cường lực đối với ngoài, còn bề trong thì lấy công bình phải quấy mà ở với nhau, chớ kì thật thì ngoài trong gì cũng nhờ cường lực định cho cả. Như xã hội xưa bên xứ Grèce (Hi Lạp) tự xưng là dân chủ mà công dân chỉ là một hạng người thôi. Còn hạng nô lệ cày cấy dệt thêu nấu nướng thì không có chút quyền gì cả. Không bao lâu nay bên Pháp còn có hoàng phái, quí tộc, bọn thầy tu, định giai cấp phân chia lợi quyền trong xã hội, mỗi giai cấp được quyền riêng đặc biệt. Từ 1789 hạng nhà giàu bên Pháp, nhờ các giai cấp kia ở riêng, quen nết làm biếng hóa ra yếu, mà đoạt được địa vị kinh tế, đánh đổ nổi các giai cấp kia, lên làm chủ. Đến nay tuy nhiên xứ còn hoàng phái, quí tộc, nhưng mà đó là cái danh không đó thôi, chớ kì thật thì giai cấp tư bản mạnh mẽ cho đến nỗi "giang sơn" "tổ quốc" là mấy tiếng ngày xưa làm sôi nổi lòng người, quí báu chẳng có chi bằng mà ngày nay bị nhà văn sĩ Pháp Anatole France nói một câu làm mất cả sự tốt đẹp quí báu đi. Suy nghĩ về mấy chục triệu người tráng kiện bỏ vợ con, hi sinh tánh mạng, đem thân cho đạn nơi chiến trường, ông ta nói: "Tưởng đem thân ra trận chết vì quê hương, té ra chết cho phường tư bản".
Tờ Nhơn quyền tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm 1789 khởi đầu có câu "con người sanh ra, theo luật thì là tự do và bình đẳng". Theo luật thì có định vậy mà sự thật thì không vậy. Ấn Độ chia phân ra làm bốn giai cấp đặc biệt nhau, cho đến chỉ khi chết rồi mới có thể hi vọng đổi giai cấp được. Trong mấy bài sau sẽ nói rõ ràng về vấn đề đó.
Có kẻ bàn rằng: "Cường lực không phải là đủ mà thắng người, không chắc thắng người mãi mãi. Như theo trong sách Bible, David nhỏ con mà giết chết nổi Goliath to lớn mạnh bạo hơn bội phần là nhờ khôn, xảo, biết chế ra cái ná chọi đá đi xa, là nhờ xảo nghệ. Tàu binh, tàu lặn, máy bay, súng to bắn đi mấy trăm ngàn thước, khí ngột, vân vân, để mà xâm lược cướp đoạt xứ người, cũng là nhờ kĩ nghệ, kinh tế phát đạt". Tôi cũng nhìn nhận vậy. Nhưng mà cường lực có kinh tế giúp cũng còn là cường lực, lại là một cái cường lực gớm ghê hơn ngày xưa.
Cốt ý trong bài này là chỉ rằng các loài vật, cho đến nhơn loại đi nữa, từ xưa đến nay, vẫn mắc trong cái luật vô nhơn đạo: "Kẻ mạnh thắng kẻ yếu". Trong nhơn loại không phải là người sợ người không mà thôi. Ở rừng thì sợ cọp sợ rắn, đi sông thì sợ gió, sợ sóng; nuôi trâu bò thì sợ nó đau, nó chết; đi buôn bán thì sợ lỗ sợ hao; sợ hồng thủy, sợ hỏa tai; sợ đau ốm, sợ đói khát; ôi thôi biết bao nhiêu là điều lo sợ. Nhiều điều sợ nó làm như lưu truyền trong máu mủ từ ông bà thuở xưa cho đến nay. Có người nói rằng vì từ tổ tiên cho đến nay, hễ gặp đêm hôm tối tăm thì mình sợ gặp hay là đụng nhằm thú dữ, thú độc, hoặc sợ kẻ thù địch rình núp mà hại mình. Cho đến có nhiều người ngày nay gặp vật chi mà họ sợ quá thì họ chết giả hay là cúm cả tay chơn, trái tim ngưng lại. Các nhà tâm lí học giải là vì nhiều loài thú thường hễ gặp thú nào dữ hơn thì nằm yên như chết, hoặc là cho đặng thú dữ ấy khó thấy (vì vật gì động thì làm cho mình dễ thấy hơn vật không động), hoặc cho đặng thú dữ ấy tưởng chết mà bỏ đi. Con người ngày xưa chắc cũng lắm khi dùng phương pháp đó, cho nên ngày nay nó còn nằm trong máu mủ.
Xưa cũng vậy, mà nay cũng vẫn còn vậy, một người mạnh cậy sức mạnh hiếp yếu, một đám người mạnh cậy sức mạnh hiếp một đám người yếu, một dân tộc mạnh cậy sức mạnh hiếp một dân tộc yếu, đều là đặng cướp đoạt của cải của kẻ yếu, hay là cướp công của kẻ này, đặng ngồi không ăn no mặc ấm. Vì vậy cho nên dầu xưa hay nay, kẻ yếu đối với kẻ mạnh chỉ có hai phương: một là đút nạp cho kẻ mạnh ăn, hai là bợ đỡ lạy mọp trước kẻ mạnh. Dùng được cả hai phương thì lại còn hay hơn. Mà đối với con người thì hai phương ấy bao giờ cũng có hiệu quả, hoặc được người nhậm của dưng ấy không phá khuấy nữa, hoặc được bảo hộ. Cho nên những thú như cọp, voi, vân vân, thiên hạ sợ kêu bằng ông cọp ông voi, lắm khi cúng mấy ông mấy ông cũng nhậm hưởng, ăn no nê rồi đi chỗ khác, không phá khuấy mấy người cúng đó nữa.
Còn như đi sông, sợ mấy chỗ sóng gió to hay là nước vận; nuôi trâu bò, sợ nó đau ốm; đến xứ lạ, sợ phong thổ mới; đi buôn bán, sợ lỗ lời; gặp khi ôn dịch, sợ chết lây; trời hạn quá kì, muốn có mưa đặng cày cấy; trồng thuốc hút, đến ngày phơi cũng còn sợ cơn trốt; cho đến làm đĩ cũng là bao nhiêu lo sợ. Nhưng mà từ vua cho đến các quan, không ai trừ nổi những điều lo sợ ấy cho dân. Dân, vô phương, tưởng tượng mấy sức lực nó hại mình được kia như mấy người ỷ mạnh hiếp mình đó, mới đặt ra ông giông bà gió, bà thủy, bà hỏa, ông chuồng bà chuồng, ông đất bà đá, ông táo ông địa, ông ôn ông tiêu, ông trốt, ông làng, ông bạch mi. Đối với mỗi điều lo sợ, thì bày ra một ông hay là một bà để cúng tế đút nạp cho ăn, cầu cho khỏi tai nạn và đặng an tâm, như cúng tế cầu khẩn mấy ông ỷ mạnh hiếp người kia vậy.
Nếu như vậy thì lánh giùm các trẻ em khỏi bị mấy người lớn nhồi sọ từ thuở bé, giúp cho chúng nó khỏi bị nhiễm những tục dị đoan và học hiểu cho nhiều, thì những sự tin tưởng ấy mai sau sẽ không còn trong xã hội? Khoa học thật lần lần đuổi sự dị đoan đi. Nhưng mà học hiểu không phải là đủ. Trong tâm còn lo sợ thì là còn nền gốc cho sự dị đoan. Làm sao cho có tàu chắc thì là không sợ gió, giông; có nhà gạch, vòi rồng mạnh, thì bà hỏa bớt thế lực; có lương y giỏi thì ông ôn phải lui, có thú y mỗi làng thì ông chuồng bà chuồng hết ăn bánh tét; cũng như xưa kia thiên lôi là dữ hơn hết mà ngày nay còn phải bị cây thâu lôi phá thế lực thay. Nhưng mà đứng về phương diện phá ngu cho thiên hạ là khác, mà đứng về phương tiện trị dân cho bình yên là khác.
Người mà tinh thần mạnh, hễ bị kẻ khác hiếp đáp hay là lấn lướt, thì chống cự lại. Bằng có thiếu sức, thì dùng trí, dùng mưu, chế tạo máy móc, hay là hiệp lực, dùng hết các phương mà thắng kẻ bạo ngược. Còn người yếu hèn thì chỉ biết lo đút lót lòn cúi thôi. Cho nên trong nhơn loại các dân tộc tin dị đoan đều là dân tộc yếu hèn, thường bị kẻ xảo dùng đầu óc tin dị đoan của mình mà làm trở ngại sự tấn hóa của mình và làm điều lợi cho chúng nó. Bao nhiêu đầu óc tin dị đoan là bao nhiêu đầu óc không có thể tìm một điều gì mới mẻ, lợi ích cho nhơn loại, bao nhiêu đầu óc còn tin dị đoan là bao nhiêu mờ ám còn đeo đuổi theo nhơn loại, làm cho nhơn loại còn xung đột, lầm lạc trong những ý kiến hẹp hòi nhỏ mọn vô cùng.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.
|