LẬP TÔN GIÁO
Trong mấy bài trước mình đã thấy: đối với "thiên địa bất nhơn", tôn giáo bày ra nói mình là có tội. Ấy là đặng cứu luân lí, cứu cái thuyết "làm lành được thưởng, làm ác bị họa". Còn cái thuyết "linh hồn không tiêu diệt" là đặng cho yên lòng nhơn loại muốn sống đời đời. Phái thì nói linh hồn lên thiên đàng xuống địa ngục hay là ở lửa luyện tôi, tùy theo tội lỗi của mình; ở các nơi ấy đợi ngày phán xét cuối cùng, cho Đức Chúa Trời nhứt định một lần chót cho các linh hồn ấy được hưởng phước hay là chịu hành phạt đời đời. Phái thì lại nói làm "dữ thì đầu thai vào xác thú hay là vào mấy gia đình nghèo khổ, làm phải thì đầu thai vào chỗ giàu sang. Ấy cũng là cho đặng cứu luân lí và làm ơn giùm cho nhà giàu, (vì con nhà giàu ngày nay ở không làm công tử, đó là nhờ kiếp trước nó làm phải nhiều lắm).
Cũng vì lo cứu luân lí nữa, mà tôn giáo bên Âu châu cãi cọ về vấn đề: "con người có tự do hay không?". Nếu con người không được tự do, tự chủ, thì con người làm sao định cho mình làm phải lánh quấy được. Mà nếu nói con người trọn quyền tự do thì Trời không trọn quyền định cho người, sái với cái thuyết "Trời là quyền phép vô cùng, tiền định cho cả mọi vật". Vì vậy mà đạo Thiên Chúa phải dạy rằng người giữ đạo được trọn lành cũng là nhờ ơn Đức Chúa Trời. Mạnh Tử nói rằng: "đủ sức mà làm điều phải, lánh điều quấy, bất lựa là trong hoàn cảnh nào, thì chỉ là một hạng người rất ít làm được mà thôi. Còn phần đông, hễ phóng túng, thì làm càn không kể phải quấy. Cho nên nhà vua làm cho dân nghèo khổ, buộc dân không thể không làm quấy được thì, theo ý Mạnh Tử, nhà vua đánh lừa dân đó. Mạnh Tử cũng cho người là không được tự do, gặp cảnh ép buộc, dẫu biết phải bao nhiêu cũng không lánh được làm quấy. Khoa học ngày nay kinh nghiệm rằng tinh thần trí tuệ của con người quan hệ với xác thịt, mà xác thịt quan hệ với hoàn cảnh, cũng không thể nhìn nhận con người là tự do được.
Ưa thiện, ghét ác, muốn tìm cho ra căn nguyên của mọi vật, muốn sống đời đời. Ba sự cần dùng, ba điều khao khát của nhơn loại đó, là cái cơ sở của tôn giáo.
Emmanuel Kant, nhà triết học đại danh của nước Đức viết quyển sách "Critique de la raison pure", trong ấy chỉ rõ rằng con người không thể nào biết rõ ràng sự thật của lí thuyết làm căn bổn cho tôn giáo đó được. Rồi sau ông lại viết quyển "Critique de la raison pratique", trong ấy ông ta đứng về phương diện luân lí mà gầy dựng lại, mà nhìn nhận lại các lí thuyết của ông ta đã đánh đổ. Một người đã thoát vòng mê tín, thoát khỏi tôn giáo một cách minh mẫn, mạnh mẽ hơn ai thọc trúng vào tâm tôn giáo mà giết chết tươi sự dị đoan, rồi vì nhìn nhận "luân lí" là như một cái mạng lịnh đủ năng lực mà sai khiến lòng người (song vì con người nuôi dưỡng tánh xấu nó làm trở ngại cái năng lực ấy đi), vì nhìn nhận "luân lí" là gốc mà phải nhìn nhận các giả thuyết để cứu luân lí ấy, đó là một cái bằng, rằng làm cho nhơn loại loại bỏ hẳn các giả thuyết (hypothèses) của tôn giáo, thoát khỏi mê tín không phải là dễ. Song nghe những lí luận của E.Kant, mình hiểu rõ vì sao có ra những lí thuyết của tôn giáo, và vì sao nhơn loại cần dùng các lí thuyết ấy.
Theo E.Kant, thì người ở đúng theo với luân lí mãi mãi tự nhiên được vui vẻ trong lòng, được hạnh phước. Sự hạnh phước trong lòng đó kẻ ít học đã tả ra theo cách vật chất, bày ra thiên đàng. Rồi vì muốn ở nơi thiên đàng ấy, mà người mê tín làm theo luân lí, thành ra sái với luân lí, vì Kant nói lấy luân lí làm động cơ cho các việc làm của mình là đúng, còn lấy lợi tư làm động cơ cho các việc làm của mình là sai. Cái hạnh phước của "người vâng theo luân lí" là ở trong lòng mà thôi. Nếu ước mong nó có thể ở ngoài ta đây, thì không thể gặp nó trong thế giới này. Những luật vật lí học (lois physiques) và hóa học (chimiques) của thế giới này không thể hạp luôn luôn với luật của luân lí. Hi vọng cái luật "nhơn quả" kết quả trong thế giới này trúng với luân lí, thì không bao giờ được. Mà nhơn loại vâng theo luân lí là đặng mưu đoạt đến một cái "hạnh phước tột cùng kia", nếu không có mục đích này thì "luân lí' là vô nghĩa lí. Vì vậy mà phải nhìn nhận có "hạnh phước tột cùng ngoài thế giới".
Trong nhơn loại, ông "thánh" rất là ít có. Ông thánh, nghĩa là người mà cái tánh không bao giờ nghịch với luân lí. Tu luyện diệt trừ các điều xấu trong lòng mình cho đến trong tâm của mình không còn một điều gì trở ngại, mình ở hạp với luân lí luôn luôn, điều đó không mấy ai đoạt được trong cái đời rất vắn của con người đây. Cho nên cái thuyết "con người tấn hóa mãi mãi về đường luân lí được", cái thuyết ấy người tin luân lí phải nhìn nhận và sự tai nghe mắt thấy hằng ngày cũng giúp cho dễ nhìn nhận được. Còn cái thuyết "con người tấn hóa vô cùng cho đến tánh thánh", cái thuyết này tuy khó nhìn nhận, vì hễ nhìn nhận nó thì phải nhìn nhận linh hồn sống đời này qua đời kia, nghĩa là nhìn nhận "linh hồn không tiêu diệt", tuy là tin như vậy là tin nơi một điều vô bằng cớ, nhưng mà lí luận nó buộc "người trọng thờ luân lí" phải tin linh hồn bất tiêu diệt, mới là cứu vững cái nền gốc của luân lí trong nhơn loại. Còn về vấn đề: linh hồn lên thiên đàng, xuống âm phủ hay là đầu thai lại trong thế giới này, đó là sự khác ý kiến nhau trong các tôn giáo về một vấn đề không phải là hệ trọng nhứt.
Theo tư tưởng của E.Kant, thì những giả thuyết của con người suy nghĩ tưởng tượng ra, nếu con người đứng về phương diện luân lí, thì phải nhìn nhận là có thể có được, nhìn nhận rằng ngoài cái thế giới mà ngũ quan tiếp xúc được đây phải có một cái thế giới ta không nhờ ngũ quan, mà chỉ nhờ trí não, nó giúp ta biết được mà thôi.
Trong xã hội đặt ra luật pháp phải có người xét xử một cách rất công bình, thưởng phạt theo luật pháp đó. Vì đã cho luân lí là luật pháp căn bổn trong nhơn loại, cho nên cũng cần phải có một quan tòa phán xét mọi việc làm của người. Ai mà xứng đáng lãnh công việc ấy cho bằng cái lực làm "căn nguyên của vạn vật" mà mình đã tưởng tượng ra trước kia. Vì vậy cho nên ông Trời sanh ra vạn vật cũng là ông Trời "công bình" xem xét trong tâm người mà thưởng phạt. Vì vậy cho nên thánh nhơn xưa thường hay cho luật pháp của luân lí với luật pháp của vũ trụ không khác nhau, nghĩa là các luật pháp của luân lí cũng một tánh chất với luật pháp của vật lí học, của hóa học. Ý kiến này, ngày nay ai có chút học thức cũng đều rõ biết là sai. Đức Khổng Tử, nói về luân lí có câu: "Trời đất xây vần bốn mùa. Trời đất cũng có luật pháp vậy." Nhưng mà Khổng Tử là người quan sát không được rộng, suy xét không được sâu xa, trọn đời tuy cũng nói nhơn đạo cũng mưu hạnh phúc cho bần dân mà không bao giờ thoát khỏi cái phạm vi quân chủ ngày xưa. Cho đến luận về tâm tánh người, dạy về tu thân, là có thể đoạt đến một cái đạo hạp với nhơn loại không biết đến đời nào là hết, mà cái thuyết "quân tử", là chỗ vững hơn hết trong đạo Khổng cũng còn vướng vấp với quân chủ chủ nghĩa rất nhiều, cho nên quân chủ chủ nghĩa suy, đạo Khổng càng suy mau nữa. Lão Tử có nói ông Khổng là như con "vò vò trong ghè". Trong Đạo đức kính Lão Tử có câu "thánh nhơn bất nhơn lấy trăm họ làm chó cỏ". Khổng Tử lập thuyết giúp cho chế độ quân chủ thời ấy, bị một phần trách nhiệm nặng nề vì câu đó. Ấy là bắt đầu thấy luân lí Khổng là có quan hệ với chính trị.
Mà có lạ chi. Vấn đề luân lí là vấn đề tâm lí. Vấn đề tôn giáo cũng là vấn đề tâm lí. Mà vấn đề chánh trị cũng là vấn đề tâm lí nữa. Lại có chung tánh chất quần chúng tâm lí. Thì làm sao cho cái hoàn cảnh chung, là cái chế độ của thời ấy, khỏi lộ ra trong luân lí, tôn giáo, triết học, nghĩa là trong tư tưởng của đời ấy. Cho nên từ xưa đến nay xã hội luân lí, tôn giáo và chánh trị là ba điều có quan hệ nhau mãi mãi.
Tôn giáo lập ra là vì mấy sự khao khát, rối rắm trong lòng người đã nói trên kia. Mà tôn giáo lập ra cũng có là vì căn nguyên khác nữa.
Xưa kia trên núi Himalaya có dân tộc Arya rất khôn ngoan, đủ sức mạnh lần lần xâm lược làm chủ cả các dân chia rẽ, yếu hèn, ngu dại, bên Ấn Độ.
Dùng cường lực, luyện binh lính, xâm lược xứ người là khó. Đến lúc thắng nổi rồi, mà giữ thế lực, giữ quyền thế, giữ địa vị làm chủ mãi mãi cho đến mấy ngàn năm, điều ấy lại là khó hơn nữa.
Xưa nay không thấy một cường quốc nào dùng cường lực mà chiếm đoạt xứ người cho vững bền. Chỉ có một mình dân tộc Arya giữ nổi địa vị làm chủ của mình từ thượng cổ cho đến ngày nay mà thôi. Dân Juif (tục kêu là Do Thái) tản lạc trên hoàn cầu, bị dân tộc các xứ trú ngụ hà hiếp một cách khổ sở vô cùng, lại nhờ bọn thượng lưu, có tài thâu góp quyền lợi tiền bạc vào tay, thâu cả quyền lợi kinh tế trong thế giới, làm chúa tể độc quyền các cường quốc. Ấy cũng là một phương hay, ít dân tộc dùng nổi. Dân Do Thái dùng thế lực kim tiền, dân Arya lại dùng tôn giáo.
Dân Arya chia dân Ấn Độ làm bốn giai cấp gọi là "castes". 1) Hạng Bramanh (Bà la môn) học hành thông thái, giữ độc quyền cúng tế thần và học kinh Vê đa. 2) Hạng Satria, võ sĩ, làm vua làm tướng trong nước. 3) Hạng Vêxia buôn bán và làm nghề. 4) Hạng Xutra, bực cùng dân, hèn mạt lãnh những việc dơ dáy cực khổ hơn hết trong xã hội Ấn Độ. Dân Arya lãnh làm giai cấp Bramanh là đệ nhứt giai cấp. Cách sắp đặt giai cấp bên Ấn Độ (caste) không khác gì giai cấp tư bản, cũng dùng bọn võ sĩ và chánh trị giữ lợi quyền cho mình như Bramanh dùng Satria. Giai cấp vô sản trong xã hội ngày nay càng ngày càng đông thêm, kẻ vô sản nào còn hi vọng nay mai làm tư bản là kẻ điện; kẻ vô sản cũng lãnh các việc nặng nề, hôi thúi, độc địa trong xã hội như hạng Xutra, và cũng không hi vọng lên được giai cấp trên in như Xutra. Hạng Vêxia giống giai cấp tiểu tư sản của ngày nay. Nhưng mà "castes" khác với "classes", vì "castes" là do nơi tôn giáo, còn "classes" thì do nơi tiền bạc. Người trong caste này chỉ nhờ tận tâm tu luyện mới có thể "khi chết rồi" hi vọng đầu thai lại vào trong caste kia. Cho đến lúc còn sống cũng không hi vọng gì cưới vợ lấy chồng trong giai cấp trên; còn, cưới hỏi với giai cấp dưới thì bị ô uế. Chỉ có một mình bọn Bramanh được cưới vợ trong bọn Satria, mà chỉ ở trong bọn Satria mà thôi. Bọn Bramanh ra luật định vậy, sợ cho đến giai cấp dưới nhờ trí não của bọn giai cấp trên có ăn học, sanh con không đủ trí hiểu biết mà kháng cự lại sự phân chia giai cấp như thế. Trong xã hội ngày nay, tư bản cũng giữ độc quyền ăn học cho con cháu mình, nhưng mà một cách rất khó thấy hơn. Trong xã hội phân chia làm "classes" thì tuy là giai cấp cũng không bao giờ hết được, nhưng mà, đứng về phương diện cá nhơn, thì một ít người đủ tánh chất làm nghề bóc lột có thể nhảy lên giai cấp trên mà lợi dụng lại bọn đồng giai cấp với mình ngày xưa.
Giai cấp Bramanh, theo như lời dạy trong kinh Vê đa của bọn này bày ra, là vì Brama (Trời) lấy những chất quí trên đầu trên cổ của mình sanh ra, cho nên làm giai cấp quí đệ nhứt. Còn người của các giai cấp kia, Brama lấy các chất hèn hơn trong mình mình mà sanh ra, cho nên các giai cấp kia phải hèn hơn. Theo trong kinh "Manou", thì người Bramanh rủi giết chết người trong các giai cấp dưới, như người Xutra, thì thường bồi một hai con bò là đủ. Chớ như người Xutra, rủi lấy vợ của người Bramanh cũng là bị tội rất nặng nề, nói gì đến giết phải một anh Bramanh thì tội lây cả họ. Người trong các giai cấp trên hễ đụng đến da thịt của người giai cấp dưới hay là bị người giai cấp dưới đụng, thì mau mau phải nhờ Bramanh làm lễ rửa ô uế. Còn bọn Satria dẫu là bực vua chúa, mà gặp một anh Bramanh nghèo, cũng phải quí trọng theo lễ phép trong kinh Vê đa.
Giai cấp phân chia đặc biệt như thế ấy, mà vì dân còn hết sức ngu muội, còn bao nhiêu chữ nghĩa chỉ có bọn Bramanh thâu góp vào trí não, và lưu truyền cho nhau một cách rất bí mật, cho nên cách sắp đặt xã hội như thế ấy mà được vững bền lâu. Tuy hiện nay các giai cấp ấy cũng còn bên Ấn Độ, nhưng mà tư tưởng bình đẳng của Âu châu tràn nhập vào Ấn Độ, giai cấp Bramanh bị ganh ghét. Đối với dân ngu hèn, hạng Bramanh cũng vẫn còn thế lực tôn giáo, đối với bọn giác ngộ thì Bramanh phải theo cách kim thời, nhờ trí não tập luyện bấy lâu nay, ra làm cho chánh phủ Ăng Lê, chiếm địa vị to tát trong kinh tế, nghĩa là giai cấp Bramanh ngày nay phải hóa ra tư bản giai cấp và chánh trị giai cấp mới đứng vững.
Giai cấp Bramanh, xưa nhờ tánh chất mê tín của dân ngu, làm đủ thế lực chiếm địa vị làm chủ trong xã hội; nay lại phải nhờ quyền chánh trị và lực lượng tư bản. Cũng như bên Âu châu, giai cấp tư bản nhờ bọn chánh trị lợi dụng tôn giáo mà giữ địa vị cho họ. Trong một bài báng thơ (pampblet) của Paul Louis Courier, có câu: "Để ngai vua lên bàn thờ, để bàn thờ lên ngai vua, làm cho dính chắc với chỗ để mình thánh chúa, thì không bao giờ có cách mạng". Nước cộng hòa Pháp, nối nghiệp cho cuộc cách mạng năm 1789, nghĩa là nghịch hẳn với tôn giáo Thiên Chúa, đánh đổ bọn thầy tu, mà ngày nay còn phải sai sứ đến bầu ông Pha Pha (Pape) tại thành Rô Mơ.
Nghiên cứu về cách lập tôn giáo của dân Arya, mình lại được thấy tôn giáo với chánh trị có quan hệ. Mượn tôn giáo gạt dân ngu cho nó không đổ lỗi về ai, mọi việc đều cho là Trời định, an phận nghèo hèn, gặp khốn khố bao nhiêu cũng gục đầu chịu. Mượn tôn giáo phân rẽ dân ngu, như chọc cho bọn Hồi Hồi giáo và bọn Ấn Độ giáo xung đột nhau trong một thời kì mà hệ nhơn tâm bên Ấn Độ thống nhứt thì nguy cho thế lực chánh phủ Anh. Ngày xưa thành trì chưa được mấy đông, mà lúc tôn giáo xung đột nhau một cách gớm ghê bên Y Pha Nho, có một thành kia phái Protestant (tục kêu là lạc đạo) bị phái Catholique (tục kêu là Thiên Chúa) giết đến 30.000 người. Ngày nay bên Âu châu có nhiều nơi dân Do Thái vì đạo mà bị tàn sát không kém thuở xưa.
Đạo Phật là một thuyết triết học, mục đích để trừ khổ trong tâm con người, không phải là để lợi dụng sự mê tín của dân ngu. Lần lần bị kẻ dốt nát gia thêm lắm chuyện dị đoan để thâu đoạt lòng tín ngưỡng của quần chúng, thành ra nay hóa ra tôn giáo lường gạt người, rồi, cũng như các tôn giáo kia, bị chánh trị lợi dụng. Trong kinh Phật có ca tụng vua A Dục (Asoka) là người quí thờ đạo Phật. Mà xét cho kĩ thì vua A Dục có lẽ là một tay lợi dụng đạo Phật, làm màu thờ trọng Thích Ca, xúi dân theo lí thuyết của nhà Phật, đặng hóa ra hiền lành không biết tức giận, vô hi vọng với đời này, dễ bề cai trị cho vua A Dục. Chớ như vua A Dục là người theo đạo Phật, sao trong lúc giận lại giết ngàn người như giết cỏ.
Georges Sorel trong quyển "Economique" (Kinh tế) có nói như vầy:
"Những cá nhơn, những đoàn thể, những giai cấp "sống gởi" dùng mưu kế và cường lực mà lập nên quyền thế để thống trị những kẻ của mình rút tỉa, dùng cường lực mà giữ quyền thế ấy, nhưng mà con người có tánh lánh nặng tìm nhẹ, cái quyền thống trị đó có nguy hiểm và lâu ngày cũng hóa ra mệt nhọc, cho nên phải giảm cái quyền đè ép mà thêm cái quyền sai khiến. Chừng ấy mới kiếm thế dùng trí mà thống trị, nghĩa là lấy điều khôn khéo làm cho trí người tin theo, thế cho cái cách đè ép bằng sức mạnh trước kia; bọn "sống gởi" mới nhồi vào trí não những kẻ dưới quyền mình, đặng chận cái phản lực của bọn này, những điều tin tưởng những sự dị đoan, những trừu tượng, những ý kiến làm gốc, nói tóm lại, là tạc trọn một cái thuyết pháp luật, triết học và văn hóa để dùng với dân dưới quyền, in như thuốc mê, làm cho sự phản động trở nên khó khăn và giúp cho mấy ông chủ gánh vác cái quyền cai trị được nhẹ nhàng hơn.
"Lịch sử chứng rằng phương pháp ấy có hiệu quả và làm cho cái địa vị của bọn "sống gởi" nhờ đó mà vững thêm cũng được khá lâu".
Con người vì có nhiều sự cần, nhiều sự khao khát trong tâm cho nên cần theo tôn giáo, hội hiệp với người đặng mạnh thêm đức tin, mục đích là đặng giải khổ, được yên tâm yên trí. Còn kẻ lập tôn giáo, khôn khéo lợi dụng tâm lí người, mượn dị đoan, giả đạo đức, gạt quần chúng, mục đích khác hẳn với mục đích của cá nhơn trên kia.
VÌ SAO TÔN GIÁO THẠNH?
Trong một thời kì mà ở bên miền Arabie các bộ lạc du mục, lải rải trong biển cát, chém giết nhau, kẻ thắng lấy trâu chiên của cải, bắt vợ con của người thua, còn ở châu thành thì một bọn thầy tu cầm quyền chánh trị, lòn cúi dưới quyền mẫu quốc Rôma, đủ các thói của tham quan ô lại, hết sức hà hiếp dân đặng rút rỉa tới đồng xu con, cho đến đền thờ Jérusalem là chỗ quí trọng nhứt của các dân chung quanh đó mà bọn nó cho con cháu nó độc quyền bán buôn như giữa chợ, làm cho đền thờ Jérusalem hôi thúi khua ren những tiếng bạc tiền, trong cái thời kì ấy mà Jean Baptiste nói lên khinh khi vua chúa, coi sự chết như không, mở đường cho Jésus Christ theo sau đánh đổ bọn thầy tu giả dối, đánh đuổi con cháu nó ra khỏi đền thờ, dùng những giọng êm đềm mới mẻ mà xướng ra một cái đạo dạy yêu thương nhau và chỉ kính trọng nhìn nhận một cha ở trên trời mà thôi, trong một thời kì mà bên Arabie con người thật sợ con người hơn sợ hổ lang, đạo của tổ tông để lại đã suy đồi cực điểm, trong thời kì ấy đạo của Jésus Christ xướng lên có mới mẻ nhiều, an ủi sự đau khổ vô cùng của dân nghèo hèn trong đời đó. Làm sao thiên hạ chẳng hoan nghinh!
Như bên Ấn Độ kia, Phật Thích Ca ra đời, xướng thuyết "giải phóng cho cá nhơn". Bất lựa ở vào giai cấp nào hễ đồng đạo thì cưới nhau được, hễ chơn tu thì đoạt đạo. Theo như trong kinh Phật thì các giai cấp dưới bên Ấn Độ, lúc ấy lộ lòng tức giận phản kháng các giai cấp trên rất nhiều, mà Thích Ca xướng ra một cái chủ nghĩa phá giai cấp, thế nào cũng thích hạp với kẻ thấp hèn. Ấn Độ ngày nay nghèo khổ thể nào, ai chưa thấy được dân nghèo Ấn Độ sống làm sao thì không thể tưởng tượng được. Ngày nay mà vậy, ngày xưa là thể nào. Một người nghèo bên Ấn Độ, trọn đời chắc tom góp cả hạnh phước đem ra cân không nặng hơn hột cát ở bãi biển. Cho nên cái thuyết "diệt khổ" của Thích Ca dùng để tế độ chúng sinh, sao cũng được thạnh hành, lấn lướt đạo Bramanh, cho đến khi bị đạo Bramanh lần lần giựt được địa vị lại bên Ấn Độ, mà đạo Phật còn lan tràn khắp cả Cực Đông.
Người ta nói chim đà (autruche) hễ thấy hoạn nạn đến trước mắt thì không kiếm thế lánh hay là phá đi, lại đứng yên đó nhắm mắt đút đầu vào cánh. Xã hội ngày xưa thật là vô trật tự, vô nhơn đạo, kẻ mạnh quyền ra luật bóc lột đè áp dân ngu hèn. Đối với xã hội đó bọn nghèo đã ngu mà lại yếu, kinh tế xã hội còn lúc ban sơ, dân lao khổ mắc trong vòng hắc ám, thật là vô hi vọng. Cho nên hai tôn giáo bi quan đó muốn cho không thấy "sự thật" như chim đà kia, mới xướng lên hai phương để giải khổ; đạo Thiên Chúa tạo một cái "thiên đàng" cho bọn đau khổ đem cả hi vọng để vào đó, đạo Phật dạy cách làm cho cảnh ngoại không nhập vào "tâm" làm khổ mình (cả thảy mộng ảo đều do nơi tâm đạo ra); cả hai đều được thiên hạ vui mầng hoan nghinh như đạo cứu khổ. Đó là một lí vì sao quần chúng mê thích tôn giáo...
Vì vậy cho nên ngày xưa toàn cả trong thế giới đâu dân bình dân cũng mê muội trong tôn giáo. Phong trào phản tôn giáo nổi lên là tự ngày kinh tế học suy ra nhơn lực có thể sắp đặt xã hội lại một cách công bình khéo léo hơn ngày xưa, lại thêm giới lao động biết hiệp quần tạo ra một lực lượng càng ngày càng mạnh có hi vọng làm chủ tương lai.
Trong mấy trương đầu có đoạn trong ấy ta nói con người lúc nào nghe như bị một sức lực gì đó đánh trôi sức lực của mình nổi, làm cho mình nghĩ rằng lực ấy mạnh xấp mấy mình, thế nào nó cũng làm chủ mình, thì con người tưởng tượng sức lực ấy đặng để cầu vái.
Ở trong xã hội xưa, sự sống của con người, đối với bịnh hoạn, đói khát, không có chút gì để bảo hộ, đối với con người, đời người coi rẻ quá, sự đau khổ vô ngần mà con người lại vô phương chỉ biết bóc lột hà hiếp nhau là giỏi. Cho nên tôn giáo xưa kia thạnh vượng là phải. Chớ như bên Âu châu, các nước văn minh ngày nay dầu sắp đặt xã hội chưa được hoàn toàn, nhưng sự sống của con người bên Âu châu không phải vất vả như thuở xưa, mà lắm nơi sao tôn giáo cũng là rất thạnh? Không phải chỉ là vì dân sự còn ngu dốt, mà là vì, như dân chuyên nghề câu ở dựa theo bờ biển, sự sống chết hàng ngày bị sóng gió dồi dập, cha mẹ vợ con mỗi ngày đều hồi hộp đợi chờ, cho nên kẻ khổ tâm nhờ tôn giáo đặng yên tâm yên trí. Trước giặc 1914, dân Âu châu đối với tôn giáo lạt lẽo nhiều, mà sau trận giặc gớm ghê ấy, nhờ bao nhiêu gia đình mất cha, mất chồng, mất con, mất anh, mà tôn giáo có nơi thạnh lại. Bày ra thờ "chiến sĩ vô danh" (le soldat inconnu), không phải là chỉ để nuôi lòng ái quốc của nhơn dân mà cũng là trúng với sự cần dùng của bao nhiêu gia quyến đau khổ, trúng với cái lòng hi vọng cho bao nhiêu người thương chết vì tên đạn khỏi bị tiêu diệt trọn.
Nhờ những chuyện này và nhờ những lí đã nói trong mấy chương trước, ta hiểu được vì sao nhà giàu dư ăn, khỏi lo đau ốm đói khát lạnh lẽo mà cũng mê muội với tôn giáo. Nội vấn đề "chết" cũng đủ làm rối trí con người, bất lựa là hạng nào. Một nhà văn sĩ Pháp lại nói: "Tra xét cho được đến nguồn gốc của các sự nghiệp to tát thì có lắm việc nghe gớm ghê". Như thế thì làm được đại phú, đối với lương tâm, với đạo đức, lại còn ít yên tâm hơn bực thường. Cho nên càng giàu có càng phải tin nơi lòng rộng dung, nhơn từ của Trời Phật. Đạo Thiên Chúa có cái "phép rửa tội" thật là làm nhẹ nhàng cho kẻ có tội rất nhiều, mà đối với hạng yếu tánh cần tin chắc rằng tội cũ có thể xá được, thì cũng lắm khi hay.
Hạng trí thức nhiều khi suy xa xét cùng mà mê tín cho rồi đặng khỏi rối tâm trí, Pascal vì xác thịt cứ đau mãi mãi, một bữa kia lại bị xe ngựa gần đổ xuống sông, sự chết thấy trước mắt, cho nên về sau trí não cứ vấn vương trong tôn giáo. Vì người thông minh quá, không thể lấy giả thuyết làm sự thật, nên ráng sức tìm ra lí này lẽ kia để buộc đức tin của mình, không dè lí lẽ nhiều bao nhiêu thì lộ ra là đức tin ít bấy nhiêu. Muốn hiểu tâm lí của hạng người học hiểu nhiều, không phải vì trong lương tâm của họ đầy dẫy những tội lỗi mà họ cũng khổ tâm với tôn giáo, xin đọc quyển "Le sentiment tragique de la vie" của Miguel de Unamune, hiện thời là một nhà văn sĩ có tiếng bên Y Pha Nho mà người kêu là "ông Pascal đời nay".
Thích Ca Mâu Ni con nhà vua chúa, lại là người hiền đức, mà vì thấy chúng sanh mắc trong ba cửa đau, già, chết kia, chỉ còn có cửa thoát là khỏe cho nên bỏ cả mà đi tu cho đến đoạt đạo, truyền dạy con người đừng tiếp xúc với cảnh ngoại, diệt trừ lòng "tham sống" đi. Thích Ca Mâu Ni, đối với sự "sống" dữ dội cực khổ kia, là người chịu thua, chịu đầu phục. Không một điểm hi vọng thắng đời mà cũng không hi vọng sửa đời. Tế độ chúng sanh, là đưa từ bờ sanh qua bờ tử cho được êm lòng đó thôi. Êm cho đến không làm quấy mà cũng không lo làm phải, êm cho đến không ghét mà cũng không thương, muốn diệt "quả" thì phải diệt cả "nhơn", chỉ biết "Niết bàn" là mục đích, tu luyện sao cho đoạt được cái "tư tưởng vô tư tưởng" kia. Trong kinh Phật có câu: "Niết bàn chẳng qua là một cái danh kia, Phật đà chẳng qua là một cái danh kia". Vì vậy cho nên bao nhiêu người một tâm lí với Thích Ca Mâu Ni, nghĩa là cũng chịu thua đời như Thích Ca Mâu Ni, đều say mê với lí thuyết của đạo Phật.
Khi xưa tôi lấy làm mê thích Thích Ca và Jésus. Vì xã hội không hạp với ý muốn của mình, mà Jésus bỏ cả điều tư, giữ trong sạch, thoát chốn bùn hội, đánh đổ bọn hủ lậu một cách khí huyết làm cho máu thanh niên của mình cũng lắm khi sôi nổi, đau thương. Còn thích Thích Ca vì Thích Ca chỉ rằng: "cái thế giới mà mình bất bình đây không chắc là có, sự đau khổ trong tâm cũng vì mộng tưởng mà ra". Cha già kia thất bại mấy phen cũng tù rạc như ai, mà gần ngày chết không thấy được công dày có hiệu quả gì cho thiên hạ. Trai thanh niên nối chí, mười tám tuổi không suy ra phương chống nổi với trời xanh, thôi đành theo Phật hơn để trầm luân trong biển tanh hôi. Kẻ tu theo Phật lại được tánh thiệt thà, đi xin ăn, chớ không lường công dân ngu như các tôn giáo khác. (Ấy là nói kẻ tu theo cách xưa, như bên Ấn Độ như trên Cao Miên, hiện thời còn rán giữ theo tục lệ đó. Nếu cả thảy đều giữ theo lời dạy của Phật nói, bỏ cả việc thế gian, cho đến việc ăn cũng không nghĩ đến, thì ngày nay cả thế giới này đều đã đoạt được mục đích của Phật. Cho nên đạo Phật còn sống trong thế gian cũng là nhờ nhơn loại không thể thực hành đạo Phật. Chỗ mâu thuẫn đó cũng là cái hay cho người suy xét)...
Schopenhauer, nhà triết học nước Đức, trong bộ "Le monde comme volonté et représentation" có chỉ: con người khi khí huyết thạnh thì "nhìn nhận" đời, cho rằng đời là vui vẻ hạnh phước, dầu khổ sở thế nào, phần hạnh phước cũng còn trội hơn bội phần, đến khi khí huyết suy thì lại "chối" đời, cho là đời không đáng cho mình chịu cực khổ mà sống.
Đạo Phật đói với đời là "vô hi vọng" mà nếu hiện thời trong thế giới loài người tìm ra được đường mới "có hi vọng", thì đối với bọn khí huyết chưa suy, đạo Phật khó mong thâu nổi. Nếu đời người không đáng sống, sao không đem xài thử? Dầu không được lợi, cũng không tổn hao gì? Vì trong tâm còn phân biệt "phải, quấy", còn thương, còn giận, còn biết ngon, biết đẹp, còn biết bao nhiêu mối vấn vương với đời, một sợi bằng chỉ mành kia còn ràng buộc là chưa thoát đời khỏi, cho nên thà chui vào đời, lấy sức lực rán thắng sự đau khổ, rủ bạn đồng chí nỗ lực chống với đời, để thêm hi vọng cho con cháu về sau. Tôi xa đạo Phật là vì ý đó. Như có ngày kia, rồi khí huyết mình cũng phải suy, thì cũng không cần mình giúp cho nó suy sớm.
Sau trận giặc 1914-1918, mà cũng vì Âu châu theo đạo Gia tô, chỉ thờ chúa Trời và các thánh, chớ không thờ cha mẹ, chồng con, anh em như bên Cực đông, cho nên cái đạo cầu hồn (spiritisme) bên Pháp nhờ đó mà thạnh.
Đạo này đã có từ thượng cổ. Việt Nam ta cũng đã quen dùng, nhưng mà đối với Âu châu thì mới, và nhờ có Alan Kardec mượn lí thuyết đầu này đầu kia, tom góp lại làm ra một cái thuyết mới, từ năm 1848.
Do theo cuộc đại hội 1900 của các tín đồ của đạo ấy, thì đại ý của đạo là như vầy:
1) Có Trời là sự sáng của tột cao và là cội rễ của mọi vật.
2) Có nhiều thế giới có người ở.
3) Linh hồn bất khả tiêu diệt, có luân hồi trên trái đất này và trên các trái đất khác trong vũ trụ.
4) Lấy sự kinh nghiệm, dùng cốt, đồng, chỉ rõ linh hồn, lìa khỏi xác, còn sống, nhập vào cốt đồng được.
5) Hữu phước hay là vô phước trong đời này là do nơi việc trước và do sự tấn hóa của linh hồn. Linh hồn tấn hóa vô cùng được.
Trong con người có ba chất:
a. Một cái hồn khôn (tư tưởng, ý chí, sự hiểu biết luân lí, đều ở nơi đó).
b. Một cái xác thịt, vật chất, nặng nề thô kịch, để cho hồn mượn đó mà tiếp xúc với hoàn cảnh.
c. Một thứ bao bọc cái hồn (périsprit), nhẹ, vô hình, để làm cho hồn và xác dính với nhau.
Đạo "cầu hồn" này dám nói lí thuyết của mình tổng hiệp lí thuyết cả các khoa học, các sự tín ngưỡng các triết học. Phần đồng trong các nhà triết học bên Âu châu từ xưa đến nay đều cũng có tưởng mình làm được điều ấy.
Chỗ đặc biệt của đạo này là sự nhờ đồng cốt mà "cầu hồn" để cần chỉ dạy về chuyện trong thế giới này và trong thế giới của kẻ chết. Nhưng mà lạ là đối với Âu châu, chớ như bên xứ ta, từ xưa đến nay đã từng biết sự ngồi đồng, nhập cốt, biết cầu tiên, biết xây bàn. Khoa học quả quyết rằng một ngày kia sẽ giải nghĩa rõ rệt các sự lạ này mà kẻ mê tín lợi dụng về đường dị đoan mê hoặc. Trong thân thể con người còn nhiều cái lực mà con người chưa biết rõ và chưa làm chủ nổi. Cho đến như trí nhớ của mình, mình cũng không xài trọn hết. Mình có thể tai nghe ai nói tiếng Ăng Lê nghĩa là một thứ tiếng lạ, mình nhớ đó, nhớ trọn cả bài đọc, rồi đến sau gặp lúc trong đầu óc có sửa đổi chi, gặp dịp cho những điều nhớ đó lộ ra, thì mình nói và mấy tiếng Ăng Lê... mà mình nhớ đó. Nên Âu châu có ông Freud hay tìm thọc mấy chỗ trong tâm tánh mình, mấy cái lực trong chính mình mà mình chưa làm chủ nổi. Sẵn đây tôi xin cho độc giả biết rằng hai nhà triết học đại danh cận thời đây là Henri Bergson và William James có dự xét xem nhiều cuộc đồng cốt, và xây ghế, và có viết về vấn đề đó.
Đạo Cao Đài là bắt chước theo đạo "cầu hồn" đó. Về phương diện lí thuyết, thì đạo Cao Đài cũng nói tổng hiệp lí thuyết của các đạo, "điều hòa" những thuyết "không thể điều hòa được". Tổng hiệp các tôn giáo, theo ý đạo Cao Đài, chắc là tượng cốt các người lập các tôn giáo xưa nay, thờ chung một chỗ, rồi mượn trong các lễ nhạc, mượn về hình thức bề ngoài đây một chút đó một chút, nhồi lại làm một... Chớ Đức Chúa Trời đâu có chịu mượn hồn nào nhập cơ để dạy người, đạo Phật nghịch hẳn với dị đoan, đạo Khổng hết sức tin nơi nhơn lực.
Dân được ăn học thông minh, được sống một cách khỏe mạnh nhẹ nhàng, khoa học hết sức mở mang những lực sanh sản trong xã hội, giúp cho cả loài người thấy rõ rệt rằng con người làm chủ vật chất có thể mở mang xã hội ngày nay, khai một đường tấn hóa rộng rãi cho con cháu hóa ra một nhơn loại mới mẻ thích hạp với nhơn đạo, thì dầu sự mê tín tôn giáo không trừ nổi trong lòng cả thảy, nhưng cũng không thể nào làm u ám, ngu muội tâm trí con người, làm nặng nề vô cùng cho sự tấn hóa của loài người như ngày nay.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.
|