Tiểu thuyết "Ngọc Lam Điền", không ghi năm xuất bản cũng của Phú Đức. Truyện được cấu tạo như sau:
Hoàng Bảo Ngọc vừa hay tin đậu bằng tú tài, thì cũng nhận được tin cha là Hoàng Phúc Lộc hấp hối, nhắn chàng về gấp để thân phụ kịp trối điều quan trọng.
Hoàng Phúc Lộc kíp cho Bảo Ngọc hay rằng ông đã thua bạc hết cả gia tài, buồn rầu sinh bệnh. Ông đã đính hôn cho chàng với Mỹ Hạnh là con ông Phủ Tiền rất giàu có và giục chàng sau khi ông mãn phần, chớ chờ hết tang, mà nên đi hỏi cưới vợ gấp để bên vợ không biết việc chàng không còn gia tài, có thể đưa đến từ hôn. Điều quan trọng nhất là Hoàng Bảo Ngọc không phải là con ruột của Hoàng Phúc Lộc mà ông Lộc nhận nuôi giùm một người bạn với số tiền là ba mươi ngàn đồng. Số tiền ấy nay cũng không còn, chưa kịp nói tên cha mẹ ruột của Bảo Ngọc thì Hoàng Phúc Lộc tắt thở.
Hoàng Bảo Ngọc không buồn vì không được hưởng gia tài kết sù của cha nuôi mà bằng lòng với sức học của mình. Chàng thi vào ngạch tham tá rồi cùng người nghĩa bộc trung thành là Ba Khòm đưa vợ là Mỹ Hạnh lên Sài Gòn thuê một căn phố nghèo để làm "nghề cạo giấy".
Mỹ Hạnh từ nhỏ chưa hề vất vả. Còn Bảo Ngọc vì muốn tự lập không nhận giúp đỡ của bên vợ đến nỗi phải phát mãi căn nhà cuối cùng của cha nuôi để trả nợ cho cha. Chàng cũng khuyên vợ phải cố gắng làm lấy việc nhà không thuê người giúp việc. Mỹ Hạnh chưa từng cực khổ nên viết thơ than phiền với cha là ông Phủ Tiền. Nhân Bảo Ngọc mất việc, ông Phủ Tiền bắt con gái về Vĩnh Long rồi bày mưu cắt đứt tình vợ chồng của Bảo Ngọc và Mỹ Hạnh. Tuy hai vợ chồng đau khổ vì xa nhau nhưng vẫn chờ đợi có ngày đoàn tụ. Đối diện với hoàn cảnh éo le (do ông Phủ Tiền sắp đặt) đã khiến người này hiểu lầm người kia đã phụ mình nên âm thầm rút lui.
Bảo Ngọc gặp Phan Đắc Ân là bạn học cũ hiện làm bầu cải lương thì Bảo Ngọc nảy ý soạn tuồng hát. Ca diễn thử thấy đạt kết quả tốt. Nhờ việc đàn ca hàng ngày mà Bảo Ngọc quen với Mỹ Dung, một cô gái đẹp lại ca hát rất hay. Vừa lúc đó Đắc Ân vì bài bạc mà gánh hát tan rã, đang lúc khốn cùng thì gặp lại Bảo Ngọc lần thứ nhì. Lần này Bảo Ngọc vừa giúp vốn, vừa giúp vở tuồng hay mà đào kép chánh lại là Bảo Ngọc và Mỹ Dung với Ba Khòm sắm vai hề. Từ đó gánh hát của Đắc Ân phát tài. Bảo Ngọc mải miết sáng tác tuồng hát và ca khúc mới để làm giàu cho gánh, thì Phan Đắc Ân tư tình với Mỹ Dung. Bảo Ngọc tức giận bỏ đoàn hát và chỉ sau một đêm mà đầu chàng bạc trắng. Bảo Ngọc cùng Ba Khòm thuê nhà lá ở Thị Nghè sống qua ngày. Một hôm, tình cờ chàng cải hóa được cha con tên trộm là Hai Thật. Hai Thật giới thiệu chàng làm thơ ký riêng cho Hội đồng Tâm. Ông này có người con gái nuôi xinh đẹp và nết na là Thủy Tiên.
Từ đây sự việc dồn dập thay đổi.
Sau, Hội đồng Tâm giúp Bảo Ngọc trả thù Phan Đắc Ân bằng cách tổ chức một cuộc hội diễn từ thiện, nhân đó thi tài giữa gánh "Đắc Ân" và gánh "Tái Sanh" của Bảo Ngọc. Gánh "Đắc Ân" thua. Việc xấu năm xưa nay bị phanh phui, Đắc Ân xấu hổ bất đắc kì tử. Trong lúc ấy thì Hội đồng Tâm nhân gặp lại bạn cũ hai mươi lăm năm trước là Đỗ Trọng Nghĩa, ông mới biết là năm xưa ông đã ngờ oan cho vợ mình ngoại tình với Trọng Nghĩa. Còn Hoàng Bảo Ngọc chính là con ruột của mình mà ngày xưa ông tưởng vợ ông ngoại tình mà có Bảo Ngọc, nên sau khi vợ chết ông không nuôi dưỡng đứa trẻ, mà đem đến nhờ Hoàng Phúc Lộc nuôi giùm.
Thủy Tiên cảm phục con người Bảo Ngọc rồi đem lòng yêu chàng. Hội đồng Tâm định gả Thủy Tiên cho Bảo Ngọc, nhưng Bảo Ngọc thương người vợ tự thuở tào khang là Mỹ Hạnh vì chàng mà bị điên, nên chàng từ chối mối duyên mới này.
Sau Thủy Tiên cảm phục Mỹ Hạnh (khi Mỹ Hạnh hết điên) mà yêu Đỗ Bảo Ngọc bây giờ là bác sĩ. Còn Đỗ Trọng Nghĩa để Hoàng Bảo Ngọc đẹp duyên lại với Mỹ Hạnh."
Tương tự như các tác phẩm khác của mình, Phú Đức sắp đặt các tình tiết trong truyện rất éo le, gay cấn, thay đổi bất ngờ làm người đọc hồi hộp vì không thể đoán được sự việc sẽ diễn tiến ra sao. Phú Đức còn cho thấy ông là một nhà tâm lí sâu sắc khi cho các nhân vật của ông có những suy nghĩ hợp lí và nhân bản theo tâm lí và nhãn quan xã hội yêu nước lúc đương thời.
Đó là thành công lớn của nhà văn Phú Đức đối với tiến trình văn học miền Nam nói riêng, và văn học Việt Nam vào buổi bình minh của lịch sử tiểu thuyết xã hội, trinh thám viết bằng chữ Quốc ngữ hồi đầu thế kỉ XX.
Sau đây là đoạn đàm thoại giữa Phú Đức và Nguiễn Ngu Í (in trên tạp chí Bách khoa số 105, Sài Gòn) về các tiểu thuyết "ăn khách" của ông hồi đó để hiểu rõ tâm tư tác giả :
"Xế hôm ấy, tôi (NNI) bị một tai nạn xe cộ, nhưng chỉ có cái xe gắn máy già nua của tôi là cần được săn sóc. Nên khi người thợ sửa xe ở đường Phạm Hồng Thái ấy(1) cho biết phải để xe cho anh sửa độ bốn mươi lăm phút, thì tôi tự hỏi mình phải làm gì để giết hai ngàn bảy trăm giây đồng hồ cả chờ lẫn đợi. Chợt nhìn qua bên kia đường, tôi thấy bảng mang tên một tờ báo, tôi hết băn khoăn, xăm xăm tìm người cha đẻ những Hoàn Ngọc Ẩn, Bách Si Ma.
Từng dưới là nhà in, từng trên là nhà ở. Trên dưới liên lạc bằng điện thoại. Tôi chờ mươi phút rồi được mời lên qua dây nói. Lên được nửa thang lầu, tôi gặp người chủ trương tờ "Bình Dân" đang xuống, ăn mặc đồ lớn. Tôi không khỏi ái ngại, nhưng khi người đàn anh hai thứ tóc ốm yếu ấy vui vẻ bắt tay và thân mật đưa lên lầu, thì tôi hết băn khoăn.
Cái bàn uống nước, mặt cẩm thạch tròn. Hai cái tách con con. Nước trà nóng vừa vừa. Câu chuyện do tác giả "Căn nhà bí mật" mở đầu, nhẹ nhõm.
- Anh muốn tôi nói cái gì trước bây giờ ?
Tôi không hỏi anh gì, mà nói :
- Ba mươi năm về trước, tôi đã ngốn nghiến "Châu về hợp Phố, Lửa lòng" của anh, và từng mơ những người xuất quỉ nhập thần như Hiệp Liệc, những người sắc nước hương trời như Lệ Thủy... Bây giờ ngồi trước mặt anh, tôi không khỏi ngùi ngùi nhớ lại vài cái mộng con con của mình lúc còn thơ dại, do những nhân vật phi thường của anh tạo gợi khêu.
Anh cười cười, cái miệng móm của anh lúc ấy làm anh trẻ lại độ mười năm.
"- Mới đây, có một ông bộ trưởng gặp tôi, nhắc lại một kỉ niệm của ông lúc còn đi học trường Taberd. Anh dư biết trường đạo kỷ luật ghê lắm. Nhất là cấm đọc tiểu thuyết. Thế mà trưa nào, ông ấy cũng giấu "Châu về hợp Phố, Lửa lòng" để đọc lén trong lúc phải ngủ trưa. Giám thị bắt được, phạt, tịch thâu, thế mà rốt cuộc, Hoàn Ngọc Ẩn và Lục Tặc vẫn "thắng" các cha, các thầy như thường.
- Anh bắt đầu viết lúc nào, anh ?
- Năm 1924. Lúc đó tôi còn dạy học. Có một chuyện lòng, ôm mãi không xong.
- Nên anh cho nó "xì" ra trên giấy !
- Trên giấy báo "Trung Lập", dưới cái tên "Câu chuyện đêm trường".
- Câu chuyện đêm trường ấy là câu chuyện thật trăm phần trăm ?
Đôi mắt sáu mươi của anh như mơ màng về quá khứ.
- Có tiểu thuyết hóa, anh à. Cuộc đời nó...
Anh không dứt câu. Tôi không đoán được ý anh bỏ dở, chẳng rõ cuộc đời nó ra sao : xoàng xỉnh ? tẻ nhạt ? bất công ? để anh cho nó phong phú, đậm đà, công bình trong tác phẩm tưởng tượng của anh ?
- Tác phẩm đầu tay này được độc giả hoan nghênh, nên ông chủ báo Trung Lập cậy tôi viết tiếp, mà buộc kì này, viết cho dài, vì truyện trước, đăng chỉ có hai chục ngày là hết. Được khuyến khích, tôi mới viết tiểu thuyết "Căn nhà bí mật", đăng suốt một năm mới hết.
- Lần này, hẳn ông chủ báo bằng lòng ! Nhưng còn độc giả ?
- Độc giả cũng hoan nghinh. Nên tôi nhất định giã từ nghề giáo mà nhập tịch làng báo.
- "Căn nhà bí mật" là một tiểu thuyết.
- Phiêu lưu.
- Hoàn toàn tưởng tượng ?
- Có một phần sự thật. Ông già tôi từng làm một cúp củi trên rừng miền Đông, làm với một người Pháp, để cung cấp cho sở hỏa xa, trên con đường sắt Biên Hòa - Nha Trang. Tôi thường theo ông thân tôi lội rừng, nên đoạn đời này gợi hứng cho tôi viết cuốn tiểu thuyết thứ nhì của mình.
- Nhân vật chánh của "Căn nhà bí mật" chắc là một kẻ phi thường ?
- Không phi thường gì mấy đâu anh. Một thanh niên nhà giàu miền Bạc Liêu, cha mẹ chết, không muốn làm việc với chánh phủ Pháp, nên đi du lịch đó đây, lên Thủ Dầu Một, nhờ tiếng kêu áo não mà gặp người đồng điệu, rồi giữa đường gặp sự bất bình, và...
Thấy anh không nói gì thêm, mà mơ màng theo khói thuốc, tôi mỉm cười, tiếp :
- Và vân vân.
Anh như chợt tỉnh : "Và vân vân..." Nói xong, anh phì cười.
Tôi nhìn đồng hồ. Mười lăm phút đã trôi qua.
Hoàn Ngọc Ẩn, Lệ Thủy ơi ! Còn đợi gì mà không hỏi người đã khai sanh "nhị vị", vì sao mà lại có ý cho trai anh hùng gái thuyền quyên ra làm rộn đầu óc thanh niên miền Nam trong một thuở...
- Tôi viết "Châu về Hợp Phố" trong khoảng 1925-26. Lúc ấy xã hội miền Nam nước Việt ta có những nhân vật tiếng tăm vang rền, vì họ chơi ngông, xài tiền như nước, cờ bạc như trời, ăn cướp táo bạo.
"Hẳn anh không lạ gì những tên : Phước Georges, cậu ba Huy, vua cờ bạc Daron, tướng cướp Ba Tín tự Đơn Hùng Tín. Và ở Sài Gòn Chợ Lớn, cái nạn Chà Và cho vay cắt cổ, cái nạn Ba Tàu mở sòng me gian lận làm khổ đồng bào mình. Người ngoại quốc lại lắm khi khinh dân mình ra mặt.
"Tôi mới có ý tạo hai vai chính.
"Một vai Nam cướp sòng me các chú Ba Tàu, buộc phải đóng cửa, cạy tủ sắt các chú Bảy Cà ri, buộc không được cho vay cắt cổ, giúp nhà cầm quyền trừ tướng cướp Thanh Long; còn vai nữ, mẹ Việt, cha Anh, chống lại ý muốn của người cha đã chết cản ngăn con gái yêu độc nhất của mình lấy chồng Việt, và trổ tài "mượn tiền một cách khoa học" các cậu công tử trời ơi rất cứng cỏi lúc bóc lột đám dân quê mà lại rất yếu mềm trước một người gái đẹp.
"Tôi cho Lệ Thủy biểu dương tinh thần dân tộc và lòng ái quốc, còn Hoàn Ngọc Ẩn điển hình cho hạng người chống lại những cái thối nát, bất công của xã hội: Tôi còn đề cao tình bạn (giữa Hoàn Ngọc Ẩn và Đỗ Hiếu Liêm), tình chủ tớ (giữa Hoàn Ngọc Ẩn và Năm Mạnh, Lục Tặc), tình vợ chồng (Năm Mạnh và vợ).
- Thế thì thời cuộc cũng ảnh hưởng đến việc sáng tác của anh nhiều.
- Đúng vậy. Phong trào quốc gia bồng bột với vụ cụ Sào Nam bị bắt, cụ Tây Hồ về nuớc rồi chết giúp tôi hoàn thành cuốn Tiểu anh hùng Võ Kiết: Trương Phụ qua lấy nước ta, có những anh hùng Võ Kiết. Đăng báo, không sao; nhưng khi gánh Phước Cương soạn ra tuồng hát, đem diễn ở rạp "Moderne cinéma"... À, anh biết rạp này chớ ?
- Thuở ấy, chúng tôi thường đi xem hát bóng rạp này : rẻ nhất ! Ở đường d'Espagne cũ, gần chợ Bến Thành.
- Đúng. Nhưng hát có một đêm, rồi bị cấm.
- Tại nó kích thích người xem ?
- Kích thích lòng ái quốc, mới bị cấm; chớ kích thích lòng tôn thờ thực dân thì đâu đến nỗi nào. Có một việc ngộ này, tôi kể anh nghe : Tiểu anh hùng Võ Kiết bị cấm ở Sài Gòn, lén đem xuống Mỹ Tho hát. Đêm diễn, nhà chức trách lúc đó chẳng hay gì cả. Nhưng hôm sau, báo đăng tin một ông già khi xem tuồng, tức quá, nhảy lên sân khấu, nắm áo kép đóng vai Trương Bửu (con trai Trương Phụ), nện guốc lên đầu, phun máu... Nhà cầm quyền chừng đó mới hay. Tuồng bị cấm diễn trong toàn quốc.
"Số phận của nó còn long đong. Sau đó, vào khoảng 1931-32, anh Hồng Tiêu(1) điều đình với tôi xuất bản tiểu thuyết lịch sử ấy, in xong thì bị cấm.
- Anh viết truyện từng kì cho báo, sau in thành sách, anh có sửa lại không?
- Có chớ. Viết cho báo, nhất là báo hằng ngày, sao khỏi chỗ sơ hở, trục trặc. Khi in thành sách, tôi phải sửa lại kĩ càng. Nhưng tiếc thay, tôi chưa được mấy khi có cái vui tự xuất bản tác phẩm mình, do chính tay mình sửa chữa và trông nom.
- Anh chắc thích viết tiểu thuyết trinh thám, kiếm hiệp ?
Anh thở dài, buồn ra mặt. Dường như bàn, ghế, tủ trong nhà, hầu hết là đồ xưa, cũng tỏa chút gì buồn buồn. Anh để cho tiếng động cơ xe lớn, xe nhỏ, xe vừa vừa chạy trước nhà in bớt, mới đáp :
- Tôi thích nhứt là viết tiểu thuyết xã hội. Anh đã đọc "Đau đớn phận nghèo" của tôi chớ ?
Tôi gật đầu.
- Tôi thấy mình cần nói đến những cái không hay không đẹp của xã hội mình sống, nhưng rồi nghề nghiệp buộc ràng, sở thích của bạn đọc khiến mình chưa làm được cái gì mình muốn.
Thì ra "cuộc đời nó..." như thế.
Tôi đổi qua chuyện khác : "Anh có thể cho biết anh thích nhất tiểu thuyết nào của anh ?"
Anh cười cười, không đáp. Chẳng rõ anh đang nghĩ đến tên bảy chục cuốn anh đã viết xong để mà cân nhắc, hay anh đang nhớ lại.
"Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy..."?
Nguiễn Ngu Í viết lại (1)
Sau đây là phần văn trích từ cuốn Châu về hiệp phố, tác phẩm tiêu biểu Phú Đức :
II
NGỌC ẨN RA TÀI
Trái tai nghĩa sĩ,
Sốt ruột anh hùng.
Hoàn Ngọc Ẩn xem hết xấp giấy rồi thì đứng dậy vỗ ngực mà rằng: "Ta hay việc bất bình nầy há dễ điềm nhiên hay sao?" Cha chả có lẽ nào nàng Lệ Thủy độc ác đến thế nầy!... À mà phải rồi người đời hằng nói: "Hữu nhan sắc hữu ác đức", vậy ta phải làm sao mà lấy "hoàn ngọc" yêu dấu của dòng họ Đặng nầy mà trả lại cho người. Còn như nàng Lệ Thủy nầy đây, bấy lâu nay ta thầm thương trộm nhớ gẫm ra thật tệ cho ta biết là dường nào.
Cha chả cái nhan sắc của nàng hại anh hùng rất dễ đó, ta đây liều mạng lân la với nàng ta phải mạo hiểm coi có thế nào lấp biển tình đặng chăng? Chớ cái chí khí nam nhi kiên sợ sóng sắc nhận chìm thì phải là khiếp nhược lắm ru? Ủa còn như biết bao nhiêu là vương tôn công tử lụy về nàng mà sao nàng giỏi đến bực nào mà nàng không lụy lại; ấy chẳng qua là nàng có cái thủ đoạn hay rất đặc biệt, nàng có cái thủ đoạn hay như thế, còn Hoàn Ngọc Ẩn nầy là nam nhân há chẳng chiếm được một cái thủ đoạn như vậy sao. Lại nữa do theo cái bức thơ nầy thì rõ Đặng Thất Tình gần với nàng đã ba đêm nhưng say vì sắc mà hồn điệp đê mê thế thì ai cũng như chàng chớ lạ gì. Ờ, còn như Hoàn Ngọc Ẩn đây có phải như hạng người đó không. Ta dám chắc rằng "không" vậy. Thôi ta chớ nhiều lời, trường đồ tri mã lực; cư cửu kiến nhơn tâm. Hoàn Ngọc Ẩn ôi, mi phải rán cẩn thận chớ sa vào biển tình thì tệ lắm đó".
Hoàn Ngọc Ẩn nói dứt lời đoạn khoanh tay để trước ngực đi tới đi lui trong nhà mà nghĩ ngợi. Phút chút chàng nhớ đến cái thơ gởi cho nàng Lệ Thủy thì dừng bước cắn móng tay tính tới tính lui mà rằng: Còn cái thơ nầy Đặng Thất Tình cậy ta gởi cho nàng thế mà ta có nên mở ra xem chăng?? Ờ, chẳng nên đâu, ta là đứng trượng phu tọc mạch như vậy tất là không chánh tâm đó". Nói dứt lời Hoàn Ngọc Ẩn lại đi tới đi lui nữa chàng nhứt định chẳng coi làm gì, nhưng mà chàng lại uất tức trong lòng quá. Chàng nói một mình rằng: "Không coi tức tối trong lòng thật, ôi mà tức làm gì? Bất quá là Đặng Thất Tình viết mà mắng chưởi nàng chớ có chi lạ. Thôi, khuya rồi ta phải đi ngủ để mai rồi sẽ tính đem thơ cho nàng cách nào và phải làm sao lấy "hoàn ngọc điệp" ấy lại cho họ Đặng. Hoàn Ngọc Ẩn bèn vào phòng nghỉ an giấc điệp.
Sáng ra đúng sáu giờ, Hoàn Ngọc Ẩn thức dậy súc miệng rửa mặt, vừa rồi chàng bèn bước ra sân luyện tập thể thao cho chuyển gân cốt, chàng cũng giở trái sắt, kéo dây cao su cho mạnh tay. Ấy là thường ngày hễ sáng ra thì chàng luyện tập, chàng thích món nầy lắm vì chàng biết là rất cần ích cho thân thể tráng kiện. Trong khoảng ít bữa thì chàng dượt võ Annam cho lẹ làng khi nhảy, khi đá, khi tràng qua, khi né lại. Nhờ luyện tập như thế mà sức lực của chàng mạnh cực kỳ, một tay chàng giở nổi tám chục kilos như không.
Khi Hoàn Ngọc Ẩn luyện tập cho đến mệt đuối sức rồi thì vào nhà nghỉ một lát cho ráo mồ hôi đoạn đi tắm rửa cho sạch và vào phòng thay đổi áo quần sạch sẽ rồi mới vào phòng ăn lót lòng một ổ bánh mì ba cái hột gà luộc sơ và uống một tách cà-phê sữa.
Khi Hoàn Ngọc Ẩn lót lòng vừa rồi thì chợt nhớ đến xấp giấy của Đặng Thất Tình cậy chàng đem đến tận tay nghiêm phụ của người thì chàng lấy một cái bao thơ lớn, bỏ xấp giấy vào đoạn phong lại tử tế. Hoàn Ngọc Ẩn nói thầm rằng: "Đặng Thất Tình trối lại cậy ta đem xấp giấy nầy về cho cha người ở Trà Vinh, vả chăng ta không biết người, không biết nhà và lại đường xa xuôi, làm sao đi được. Ta tưởng chẳng cần gì đích thân phải đi làm chi, ta đem lại nhà thơ gởi đi cũng tiện vậy, còn muốn đặng phần chắc khỏi sợ lạc mất thì ta gởi rờ-com-măn-đê (Recommandé) thì hay quá. Như cái thơ của nàng Lệ Thủy thì cần phải đem đến nàng vì Đặng Thất Tình quên số nhà nên gởi cho nhà thơ sao đặng. Thôi, ta phải đến nhà điển tín đánh giây thép cho ông Đặng Nghiêm Huấn hay rằng con ông đã tự tử và ta gởi luôn cái xấp giấy nầy. Luôn dịp đó ta thuê một cái xe kéo mà đến nhà nàng Lệ Thủy. Nói dứt lời Hoàn Ngọc Ẩn bèn thay đồ tây rồi lật đật ra đi.
Khi gởi thơ và điển tín rồi, Hoàn Ngọc Ẩn đi ra ngoài đứng suy nghĩ một hồi rồi nói thầm rằng: "Ta đến nhà Lệ Thủy thử coi nàng tiếp rước ta thể nào, còn cái thơ của nàng thì ta chẳng nên đưa cho nàng làm chi, vì sợ e nàng nghi thì những sự toan tính của ta ắt không thành. Ờ, ta cẩn thận như vầy thì hay lắm có chi bằng". Hoàn Ngọc Ẩn liền đi xuống thềm nhà thơ và bước lên xe kéo chỉ đàng mà dung ruổi.
Xa phu kéo chạy được gần hai mươi phút đồng hồ Hoàn Ngọc Ẩn thấy chẳng bao xa có một tòa nhà nguy nga đẹp đẽ chàng châm chỉ mà ngó lên hai trụ cửa ngõ thì thấy có chưng hai tượng hình trái tim có gươm đâm qua thì mừng rỡ không cùng. Chàng nói thầm rằng: "Đó đa, nhà đó là nhà của nàng Lệ Thủy mà Đặng Thất Tình tả cái hình trạng cho ta hôm qua. Cha chả chỉ xem hai cái tượng đồng mà bắt rởn ốc ngay". Hoàn Ngọc Ẩn nói vừa dứt lời thì xa phu kéo xe chạy đến ngang cửa ngõ, Hoàn Ngọc Ẩn biểu ngừng xe lại, chàng bước xuống xe lấy tiền trả cho xa phu đoạn bước ngay lại cửa. Hoàn Ngọc Ẩn thấy cửa bằng sắt đã đóng và khóa chặt chịa và thấy nơi trụ phía tay mặt có gắn một cái nút chuông có dây điển chuyền vào nhà thì kê tay nhận đại một cái.
Một chập sau có một người vạm vỡ trong nhà lầm lũi đi ra. Khi người nầy lấy chìa khóa mở cửa, Hoàn Ngọc Ẩn xem kỹ lưỡng thì thấy trên trán người nầy có một cái thẹo dài và lớn, mắt sâu mũi lớn gương mặt lộ vẻ hung dữ, người nầy độ chừng ba mươi tuổi. Hoàn Ngọc Ẩn nói thầm rằng: "Xem đến hình thù của thằng nầy tất phải nhận rằng sức anh ta mạnh lắm. À thằng nầy là thằng ở của nàng Lệ Thủy mà Đặng Thất Tình có thuật trong thơ đó chớ gì". Hoàn Ngọc Ẩn có chí khí anh hùng tánh hay háo thắng và hay giễu cợt nên chỉ khi cửa vừa mở ra chàng hỏi người nầy rằng: "Ê làm gì mà anh có cái đường cày trên trán lớn dữ vậy".
Người ở của nàng Lệ Thủy vừa nghe Hoàn Ngọc Ẩn hỏi thì biết chàng kiêu ngạo mình nên trợn mắt rất lớn hai tay thì cung lại, nhưng mà liền đó anh ta dằn tâm sửa sắc mặt lại và nói: "Chẳng dự chi đến thầy xin chớ hỏi". Hoàn Ngọc Ẩn cười xòa rồi nối gót theo người vạm vỡ nầy mà đi thẳng vào nhà. Hoàn Ngọc Ẩn vừa đi mà định chắc trong trí rằng nàng Lệ Thủy có ở nhà. Khi vào đến phòng khách rồi thì người vạm vỡ nầy mời chàng ngồi trên ghế giữa đoạn đi rót trà đem ra và nói rằng: "Mời thầy dùng trà và chờ cô tôi một chút". Hoàn Ngọc Ẩn tưởng rằng nàng Lệ Thủy đang ở trong phòng trang điểm rồi sẽ ra nên tay bưng chén trà lên uống, còn mắt thì láo liên xem kỹ mọi chỗ trong nhà, chàng xem kỹ lưỡng rồi nói thầm rằng: "Thiệt là một cái phòng chưng dọn huê lệ cực kỳ".
Bỗng nhiên chàng nhớ đến ảnh hình mà Đặng Thất Tình có nói trong thơ gởi về cho nghiêm phụ thì ngó lên bàn giữa có ý kiếm xem thể nào. Hoàn Ngọc Ẩn thấy có một khuôn hình thì lấy lên coi nhưng ảnh hình nói đó đã đổi đi rồi, chàng thấy một ảnh của nàng Lệ Thủy mặc một bộ đồ hàng đen ngồi chống tay dưới cầm mắt ngó lên trời. Chàng nói thầm rằng: "Lạ nầy, sao nàng Lệ Thủy lại chưng ảnh hình nầy tại bàn giữa, ảnh nầy trông vào tất phải nói rằng nàng có sự âu sầu lớn lắm. Ờ, chắc là khi ta vào đến cửa ngõ nàng ở trên lầu lén dòm xuống và khi thấy ta đến mà đổi ảnh hình buồn bực nầy ra đây chớ gì. Thôi thôi ta hiểu rồi, như ai thì nàng chưng hình hữu duyên, mà ghẹo lòng ái sắc, chớ còn như ta đây đối với nàng là ân nhân hoặc tri kỷ chi đó nên nàng e rằng nếu ta ái đến sắc của nàng thì chi cho khỏi ta lâm vào vòng khổ não chăng? Phải đó nếu như ta cạn nghĩ thì ta cũng nên kính nàng có lòng lo giùm cho ta. Nàng sợ là vậy, còn như ta mạo hiểm mà biết ta có thắng đặng cái giặc tình lợi hại nầy chăng?"
Nói đến đây Hoàn Ngọc Ẩn suy nghĩ một hồi rồi nói rằng: "Ủa, ta chờ nãy giờ cũng đã lâu rồi, sao nàng chẳng ra tiếp khách cà. À chắc là nàng không chịu rước ta chớ gì, hoặc là nàng chẳng có ở nhà hay sao cà. Hơi nào mà chờ đợi, ta hãy đi về tốt hơn, để về nhà ta sẽ toan tính thế nào cho tiện đặng sau sẽ giáp mặt nàng".
Hoàn Ngọc Ẩn đứng dậy, khi đó thì người ở chạy ra, chàng hỏi rằng: "Có cô của anh ở nhà hay chăng, nãy giờ tôi chờ rất lâu sao mà không thấy người ra khách". Người ở đáp: "Dạ thưa không, mà thầy chờ không được hay sao mà xem ý muốn đi về như thế".
Hoàn Ngọc Ẩn nói: "Thôi, chờ lâu quá rất buồn trí, bữa khác tôi sẽ trở lại".
- Dạ, có đủ thứ nhựt trình quốc âm đó xin thầy lấy coi chơi rồi chờ một chút nữa". Hoàn Ngọc Ẩn day qua thấy trên một cái bàn nhỏ kiểu cũng xinh đẹp có nhiều hiệu báo. Chàng nói: "Nhựt trình nầy ở nhà tôi mua đủ, thôi để tôi đi về".
- Dạ, thầy muốn cũng được song xin thầy để lại một tấm danh thiệp đặng khi cô tôi trở về thì tôi sẽ đưa lại cho người biết".
Hoàn Ngọc Ẩn lấy bóp phơi ra rồi rút một tấm danh thiệp trao cho người ở của nàng Lệ Thủy và nói: "Đây là danh thiệp của tôi, anh khá giữ về mà đưa lại".
- Thưa vâng.
Hoàn Ngọc Ẩn lấy nón đội lên đầu rồi trở gót ra đường kêu xe kéo bước lên ngồi và chỉ đàng cho xa phu lần đường mà dung ruổi.
Về đến nhà Hoàn Ngọc Ẩn kêu đứa tớ rất nhậm lẹ và trung tín của chàng mà rằng: "Lục Tặc à, bớ Lục Tặc, ra đây biểu mầy. Mau nó, mau nó!"
Lục Tặc ở trong phòng của chàng đang ăn cắp con dao cạo sửa chơn mày, bỗng nghe chủ về thình lình và kêu ra thì giựt mình nên lỡ tay cạo phạm mất hết một cái chơn mày, anh ta hoảng kinh miệng thì dạ còn tay thì cầm con dao lau nơi ống quần lia lịa cho sạch đoạn xếp lại để trên bàn rửa mặt lật đật chạy ra.
Hoàn Ngọc Ẩn thấy Lục Tặc chạy ra gương mặt thì dớn dác xem bộ dễ tức cười vô cùng, chàng xem kỹ thì thấy anh ta còn có một cái chơn mày thì cười ngất. Hoàn Ngọc Ẩn hỏi Lục Tặc rằng: "Cái tên của mầy thiệt xứng với cái tánh của mầy quá. Mầy làm cái gì ở trong phòng của tao hả?"
Lục Tặc trả lời rằng: "Dạ thưa vô trỏng quét bụi và chùi lau bàn ghế, lúc nầy sao mà bụi nhiều quá, quét lau một ngày không biết mấy lần mà sạch sao chẳng thấy sạch".
Hoàn Ngọc Ẩn cười và nói: "Thật vậy sao, mầy siêng năng quá tao thương mầy đa. À mầy lau chùi quét mọi vật trong phòng mà mầy có lau quét cái mặt mầy không?
Lục Tặc nghe Hoàn Ngọc Ẩn hỏi thì không biết ý chàng hỏi chi, anh ta suy nghĩ một chập và nói: "Thưa chủ nếu mà tớ lo việc nhà đâu đó cho vẹn vẽ thì có giờ đâu mà lo đến cái mặt".
Hoàn Ngọc Ẩn tức cười và biết Lục Tặc không dè cạo phạm chơn mày bèn nói: "Khá khen mầy siêng đó, thôi mầy hãy lại kiếng soi cái mặt mầy sao giống hề quá". Lục Tặc vâng lời đi lại kiếng soi mặt thì giựt mình trở lại nói với Hoàn Ngọc Ẩn rằng: "Dạ thưa chủ tớ chịu lỗi, tớ có lén ăn cắp con dao của chủ mà tỉa chơn mày nhưng chủ về thình lình và kêu ra nên lỡ tay xin chủ tha tội". Hoàn Ngọc Ẩn cười và nói: "Còn một cái chơn mày khó coi quá mầy vào lấy con dao cạo luôn cho rồi có lẽ coi được hơn".
- Úy, dạ thưa vậy thì giống con khỉ quá, để tôi lấy mực Annam tôi vẽ coi sơ sơ cũng được".
Hoàn Ngọc Ẩn bèn lấy trong túi một cái thơ cho Lục Tặc và nói: "Mầy hãy đi vẽ chơn mày rồi đi đem thơ nầy cho nàng Lệ Thủy".
Lục Tặc gãi đầu và nói: "Khổ dữ a, dạ mà nhà nàng ở đâu?" Hoàn Ngọc Ẩn bèn chỉ đường và số nhà cho Lục Tặc nghe và nói rằng: Mầy hãy đem thơ nầy cho giáp mặt mà đưa nghe không, như nàng có hỏi mầy là đứa ở của ai thì mầy phải nói rằng mầy ở với Đặng Thất Tình nhà ở Chợ Đũi chớ đừng nói ở với tao đa.
- Dạ thưa ý gì lạ vậy?
- Thì mầy cứ việc thi hành lời tao bảo mà.
- Dạ dạ tôi vâng, để tôi ra nhà sau lấy bút nghiên vẻ cái chơn mày lại rồi ra đi lập tức".
Hoàn Ngọc Ẩn lấy một cái giấy bạc một đồng đưa cho Lục Tặc và nói: "Mầy lấy tiền nầy mà đi xe kéo, khi trao thơ rồi thì mầy lập tức trở về chớ chẳng cần đợi nàng trả lời chi hết, còn như nàng có cầm mầy lại thì mầy cũng đừng ở lại mà e đổ bể công chuyện của tao đa. Thôi đi đi cho mau". Lục Tặc gượng đứng lại và hỏi Hoàn Ngọc Ẩn rằng: "Thưa chủ phải nàng Lệ Thủy nầy là nàng bị bịnh mà chủ chở về hôm đêm nọ chăng?
- Phải, thôi đi đi, đừng hỏi nữa.
- Dạ, cái nàng sao lịch sự quá chủ há.
- Ờ..., ờ đi đi mà.
- Sao chủ không mời nàng đến đây chơi?
- Thôi chớ nhiều lời tao biểu mầy đi cho rồi mà.
- Dạ!
Lục Tặc chạy xuống nhà dưới lấy viết mực Annam vẽ chơn mày đều đặn rồi lấy một cái áo cổ ủi láng bóng mặc vào, đoạn lấy cái nón tây đội lên đầu chạy ra đường kêu xe và chỉ đàng cho xa phu chạy.
Hoàn Ngọc Ẩn ngồi ở nhà suy nghĩ mà rằng: Gẫm ra trên đời nầy có một mình nàng Lệ Thủy là quốc sắc hơn ai cả, chỉ thấy nhà nàng thì nhận biết rằng nàng giàu có không ai sánh kịp, thế mà sao nàng chẳng chịu chọn nơi đáng mặt trao tơ lại làm chi những việc ác mà hại mấy cậu vương tôn công tử thể nầy, đây chắc là có sự gì bí mật chẳng ai tường. Nàng mà phải hay là quấy đến thế nào ta không rõ, xét ra nàng đoạt: "hoàn ngọc" báu của họ Đặng thì không phải, vậy ta phải gởi thơ cho nàng và buộc nàng phải gởi mà trả lại cho người ta nếu như nàng không chịu trả thì ta phải dụng quyền mà lấy "hoàn ngọc" nầy cho đặng mới vừa lòng.
Hoàn Ngọc Ẩn ngồi nghĩ ngợi một hồi đoạn lấy một miếng giấy cầm viết mà viết một cái thơ vắn tắt và xếp lại bỏ vào túi rồi đứng dậy chấp tay sau đít đi tới đi lui mà suy nghĩ. Lâu lâu chàng dừng bước lại nói thầm rằng: "Việc nầy chẳng can dự gì đến ta, song vì ta thấy việc bất bình nầy mà không ra tay nghĩa hiệp thì dở lắm. À ta phải mạo hiểm thử coi thể nào. Ta không tính thì thôi nếu như tính lấy "hoàn ngọc" lại thì phải được ngay, nhưng mà ta phải dùng phương thế nào đừng cho nàng biết ta lo vụ nầy thì mới hay cho. Được, ta phải làm như vầy, như vầy.."
Hoàn Ngọc Ẩn nói đến đây, thì ngoài ngõ Lục Tặc hơ hãi chạy vào vừa thở vừa nói: "Dạ thưa chủ, tôi đem thơ cho nàng rồi nhưng mà xui quá".
- Sao mà gọi rằng xui?
- Dạ thưa để tôi nói hết cho chủ nghe. Khi tôi đến nhà nàng Lệ Thủy thì tôi kêu cửa om sòm mà rằng: "Có ai trong nhà hãy ra mở cửa và nếu có chó phải nhốt lại, đặng cho Lục Tặc đi vào có việc". Tôi réo dứt lời thì có một người, cha chả như con trâu cổ, to lớn lắm đi ra mở cửa và nói tiếng rổn rảng với tôi rằng: "Đồ hư, mi không thấy cái nút chuông ở ngoài hay sao mà kêu réo om sòm vậy?" Tôi hỏi: "Ở đâu, nút ấy ở đâu?" Thằng Lồ Cồ nầy mở cửa đi ra xách lỗ tai tôi kéo tôi lại sát cái nút và nói: "Con chó con, mầy đui hay sao". Cha! Nó nắm lỗ tai tôi nó xách ngược lên cũng như người ta xách con thỏ vậy. Thằng thiệt dữ, tôi giận quá muốn song phi ngay vào cái bàn ngồi của nó vài đá cho nó biết, nhưng mà nó lớn con hơn tôi nhiều nên tôi không dám ra chơn nên đành chịu thua. Thật tức quá, mà biết làm sao, tôi bèn dằn tâm cũng như Phật Tổ mắc nạn cho qua buổi mà đi theo nó vào nhà đưa thơ cho nàng Lệ Thủy. Nàng có hỏi tôi ở đày tớ cho ai thì tôi nói rằng tôi ở cho mông xừ Đặng Thất Tình, nàng gật đầu và lấy thơ, đoạn cho tôi năm cắc và biểu đi về chứ không cầm ở lại làm gì. Tôi vừa trở ra thì thằng Lồ Cồ nầy đón tôi và biểu chia tiền. Cha chả nó muốn chơi kiểu già đãy chận họng kên kên sao chớ. Tôi giận rồi, song để bụng và nói: "Anh ra cửa ngõ tôi sẽ chia ba cắc uống nước".
Nó chịu, tôi đi trước, nó đi theo kề bên đít tôi hoài, mà hễ tôi đi mau thì nó đi mau, tôi đi chậm nó đi chậm, vì nó sợ tôi chạy. Tôi tuy vầy chớ cũng là chắt chít chi của Khổng Minh đời trước nên mưu mô trí sĩ lắm. Đi được chừng bốn chục bước, gần đến cửa ngõ thì tôi mới bước dài, nó cũng bước dài theo tôi, thừa dịp nó vô ý, tôi ngồi xuống nó vấp đít tôi nên trồng một cây chuối xuống đất tôi bèn chấn cho nó một đá vào bàn tọa rồi co giò chạy gần trối chết. Nó bèn rượt theo tôi, tôi hoảng hồn lầm lũi chạy riết về đây mà quên ngó lại đặng coi nó rượt theo bao xa". Hoàn Ngọc Ẩn nghe Lục Tặc thuật hết chuyện thì cười và nói: "Mầy thiệt là lanh lợi đáng khen, mà mầy sao liều mạng dữ vậy, nếu nó bắt được mầy thì nó vặn họng mầy còn chi?"
- Dạ, tôi biết sức tôi chạy mau lắm nên mới dám vậy chớ, một giờ tôi chạy có lẽ được xanh-căn-kí-lô-mết chủ à (cinquante kilomètres, năm chục ngàn cây số).
- Thôi dẹp miệng mầy đi, mầy dóc quá, sau có thơ đem đến nhà nàng, mầy dám đi chăng?
- Dạ thưa một lần thì thôi, đi nữa chắc là không vui.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới. Nguyễn Q. Thắng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Trọn bộ 4 tập, hơn 5000 trang khổ lớn 16 x 24 cm. NXB Văn học, 2007-2008.
|