tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
03.04.2009
F. Nietzsche
Zarathustra đã nói như thế


Về những thi sỹ


 “Từ khi hiểu rõ ràng hơn về thân xác, thì tinh thần đối với ta chỉ là tinh thần trong một giới hạn nào đó; và tất cả những gì “thường tồn”, “bất hoại” đều chỉ là ẩn dụ biểu tượng.” - Zarathustra bảo với một trong những môn đệ của hắn.


Người môn đệ trả lời: - Trước đây con đã nghe thầy nói như thế và thầy cũng nói thêm: “Nhưng mà các thi sĩ đã nói dối quá nhiều”. Vậy tại sao thầy lại bảo rằng các thi sĩ nói dối quá nhiều?


- Tại sao? - Zarathustra đáp. - Mi hỏi tại sao à? Ta không phải thuộc dòng những kẻ mà người ta có quyền chất vấn về cái “tại sao” của họ.


Kinh nghiệm ta đã sống là thuộc về ngày hôm qua sao? Từ lâu rồi, ta đã thử thách lý lẽ của những ý kiến của ta.


Ta há chẳng bắt buộc phải làm một chiếc thùng ký ức để có thể giữ lại những lý lẽ cùng ta?


Ta phải vất vả khổ nhọc lắm để giữ gìn những ý kiến của ta và nhiều con chim đã vỗ cánh xa bay.


Ta cũng gặp trong chuồng bồ câu ta một con thú không thuộc chuồng ta, một con thú xa lạ, con thú run rẩy khi ta chạm vào người nó.


Vậy thì, ngày nọ, Zarathustra đã bảo mi thế nào? Hắn bảo rằng các thi sĩ nói dối quá nhiều? - nhưng còn Zarathustra, chính hắn cũng là một thi sĩ.


Mi tin rằng hắn đã nói lên sự thật về chuyện ấy? Tại sao mi lại tin như thế?


Người môn đệ trả lời: “Con tin vào Zarathustra”. Song Zarathustra lắc đầu mỉm cười. Hắn bảo:


“Đức tin không làm ta được lạc phúc, nhất là đức tin vào chính ta.


Nhưng giả thử có một kẻ nào đó bảo một cách đứng đắn rằng các thi sĩ nói dối quá nhiều, thì kẻ đó có lý: chúng ta nói dối quá nhiều.


Chúng ta cũng biết quá ít và chúng ta là những học sinh tồi; vì vậy chúng ta bắt buộc phải nói dối.


Kẻ nào trong số các thi sĩ như chúng ta, lại không phả giả rượu mình? Nhiều sự pha trộn nhiễm độc đã thực hiện trong các hầm rượu của chúng ta, biết bao sự việc không thể diễn tả thành lời đã được thành tựu trong các hầm đó!


Bởi vì biết quá ít, nên chúng ta chẳng hết lòng yêu thương trìu mến những kẻ nghèo hồn, nhất là khi những kẻ đó lại là phụ nữ!


Chúng ta còn thèm thuồng cả những gì được các bà già kể cho nhau nghe khi chiều xuống. Đấy là cái mà chúng ta gọi là Người Đàn Bà Muôn Thuở trong tâm hồn chúng ta.


Và làm như thế có một con đường bí mật riêng biệt dẫn đến tri thức, một con đường cấm  đối với kẻ học được một vài điều gì đó, chúng ta tin vào dân chúng, tin vào điều mà dân chúng gọi là “sự khôn ngoan” bình dân của họ.


Thế mà, tất cả mọi thi sĩ đều tin rằng kẻ nào nằm dài trên cỏ xanh hay trên một triền đồi hoang vắng cô liêu vểnh tai nghe ngóng, thi sĩ sẽ lĩnh hội được một vài điều giao ngộ kỳ bí nào đó giữa trời và đất.


Khi thấy cõi lòng tuôn trào những cảm xúc dịu dàng, các thi sĩ luôn tin rằng đấy chính là thiên nhiên đang yêu mê si đắm họ:


Thiên nhiên kiều diễm lén lút lướt đến thì thầm vào tai họ những bí mật cùng những lời tâng bốc vuốt ve trìu mến; rồi các thi sĩ huênh hoang khoác lác về những điều đó trước mặt tất cả mọi người!


Hỡi ôi! Có quá nhiều điều giao ngộ giữa trời và đất mà các thi sĩ là những kẻ độc nhất đã phải mơ màng đến!


Nhất là những điều bên trên bầu trời, ở miền thiên ngoại, bởi vì tất cả những thần linh đều là những biểu trưng và những lời dối quanh dối quất của thi sĩ.


Thực ra, chúng ta luôn bị lôi kéo lên cao - nhất là lên đến những miền mây bay: đấy chính là chỗ chúng ta đặt những đứa con hoang tạp sắc của chúng ta và chúng ta gọi là các Thần Linh và các Siêu Nhân.


Bởi vì tất cả những Thần Linh cùng Siêu Nhân đó đủ nhẹ nhàng để ngự trên những chiếc ghế như thế!


Ờ! Ta quá đỗi chán ngán tất cả những gì bất toàn mà lại cố sức muốn mình là biến cố quan trọng! Ồ! Ta chán ngán quá đỗi những thi sĩ!”.


Khi nghe Zarathustra nói thế, người môn đệ nổi giận, nhưng vẫn im lặng; Zarathustra cũng im lặng; đôi mắt hắn quay nhìn vào nội tâm như đang nhìn vào vùng xa thẳm khơi vơi. Sau cùng, Zarathustra thở dài và lấy hơi lại. Hắn bảo:


“Ta là kẻ thuộc về ngày hôm nay và ngày xưa, nhưng có một cái gì đó trong ta thuộc về ngày mai, thuộc về ngày hôm sau nữa, một cái gì đó thuộc về tương lai.


Ta chán ngán tất cả thi sĩ, các thi sĩ cũ lẫn mới. Ta thấy tất cả bọn chúng đều hời hợt thiển bạc và tất cả bọn chúng đều là những biển cả bị khô cạn nước.


Tư tưởng chúng đã không thâm nhập đủ sâu: chính vì tình cảm chúng không xuống đến tận những hố miền sâu thẳm.


Một ít khoái lạc cùng một ít buồn chán: đấy vẫn còn là điều tốt đẹp nhất trong những suy niệm của bọn chúng.


Ta thấy tiếng đàn thụ cầm của bọn chúng thoáng hiện phù ảo như những hơi thở thì thào và sự chạy trốn của những bóng ma; tự trước đến giờ bọn chúng đã biết được gì từ nỗi nồng nàn gay gắt đắm say của các thanh điệu!


Bọn chúng cũng chẳng đủ sạch sẽ đối với ta; chúng quấy đục mọi thứ nước để làm cho mình có vẻ sâu thẳm.


Bọn chúng thích xem mình như những kẻ trung gian môi giới, nhưng đối với ta, bao giờ bọn chúng cũng chỉ là người của những phương sách trung dung và của những biện pháp nửa vời, những kẻ pha trộn thỏa hiệp nhơ bẩn.


Than ôi! Ta đã ném lưới xuống biển chúng để bắt cá ngon, nhưng bao giờ ta cũng chỉ kéo lên được đầu của một vị thần linh xưa cũ.


Như thế, biển cả đã cho kẻ đói lòng một tảng đá rắn. Và bọn chúng dường như cũng được sinh từ biển cả.


Cố nhiên, người ta tìm thấy những hạt trai nơi chúng: đó lại là điều làm cho chúng càng giống những con sò vỏ cứng. Và thay vì tâm hồn, ta đã tìm thấy nơi chúng một ít nước bọt mằn mặn.


Chúng đã học được của biển cả tính huênh hoang khoác lác; biển cả há chẳng phải là con sông vênh váo nhất trong loài công?


Ngay cả trước mặt một con trâu xấu xí nhất, biển cũng xòe đuôi ra múa; biển không ngừng miệt mài dàn trải lụa là bạc quý từ chiếc quạt bằng ren của mình.


Con trâu nhìn biển giận dữ, linh hồn nó giống như cát biển, càng giống hơn với rừng bụi rậm, nhưng giống nhất là với đầm lầy.


Vẻ đẹp, biển cả và nét đẹp lộng lẫy của con công nào có quan hệ gì với nó! Đấy là ẩn dụ biểu tượng ta xin trao tặng các thi sĩ.


Thực vậy, tinh thần của các thi sĩ là con công vênh váo nhất trong loài công và là một biển cả huênh hoang khoác lác!


Tinh thần của thi sĩ muốn có những khán giả: dẫu đấy chỉ là những con trâu!


Thế nhưng, ta đã chán ngán tinh thần ấy rồi, và ta nhìn thấy sẽ đến lúc tinh thần ấy tự chán ngán chính mình.


Ta đã nhìn thấy những thi sĩ hóa thân và đưa mắt nhìn vào chính bản thân mình.


Ta đã nhìn thấy những kẻ khổ hạnh của tinh thần tiến đến, bọn chúng xuất sinh từ trong đám thi sĩ”.


Zarathustra đã nói như thế.


 


Về ảo tưởng và ân ngữ


1. Trong đám thủy thủ, khi biết rằng Zarathustra đang có mặt trên tàu- bởi vì cùng xuống tàu với hắn, có một người dân quần đảo Vĩnh Phúc - thì thiên hạ tò mò chờ đợi nôn nao. Song Zarathustra im lặng suốt hai ngày liền, lạnh lùng câm nín trong nỗi u sầu, chẳng hề đáp lại những cái nhìn và những câu chất vấn. Tuy nhiên, vào buổi chiều ngày thứ hai, Zarathustra lại khai mở thính quan, lắng nghe tuy vẫn còn im lìm câm nín, bởi vì trên con tàu nọ từ chốn viễn phương đi đến và còn muốn lướt sóng xa vời hơn nữa, người ta có thể nghe được nhiều sự việc dị kỳ nguy hiểm. Mà Zarathustra lại là bạn thân của tất cả những kẻ lữ hành phiêu bạt, những người thích sống giữa lòng nguy hiểm. Và ô kìa! Vì mải lắng nghe, sau cùng miệng lưỡi của hắn đã nhích động và khối băng giá trong lòng hắn tan đi - hắn khởi sự nói như thế này:


“Với các bạn, là những kẻ kiếm tìm gan góc, những nhà thám hiểm, và tất cả những kẻ băng vượt trùng khơi dữ dội dưới những cánh buồm phồng căng giảo hoạt.


Với các bạn, là những kẻ mê đắm ẩn ngữ, ngây ngất ánh sáng nhạt mờ phiêu lãng, những kẻ để tâm hồn mình bị cuốn hút về những tiếng sáo vi vu trong mọi làn nước xoáy phỉnh lừa:


- Bởi vì các bạn không muốn sờ soạng sợi dây dẫn đạo bằng bàn tay e dè sợ sệt; và bất cứ nơi nào các bạn có thể ước đoán tiên tri, các bạn đều ghét phải đưa ra kết luận.


Riêng với các bạn mà thôi, ta xin kể lại ẩn ngữ mà ta đã nhìn thấy, ảo tưởng của con người cô độc khôn cùng.


Vừa mới đây, ta ưu sầu bước đi trong ánh hoàng hôn nhợt nhạt, khuôn mặt tối tăm khốc liệt, đôi môi mím chặt. Hơn một mặt trời đã tắt lịm với ta.


Một nẻo đường nhất mực đi lên, đi lên mãi xuyên qua những mô đá lô nhô, một nẻo đường dữ tợn và cô đơn không muốn dung chứa cỏ cây bụi rậm, một con đường núi nghiến rít lên dưới bước chân ta thách thức.


Câm lặng lầm lì, ta bước đi lên mãi trên tiếng rít mạnh diễu cợt của sỏi đá, bàn chân ta dẫm nát những viên đá tròn trơn trợt, cố gắng đi lên, lên mãi.


Lên cao hơn, cao hơn nữa: - bàn chân ta thách đố cái tinh thần sa trụy cứ muốn lôi cuốn nó xuống miền sâu, xuống hố thẳm, Tinh Thần Trì Độn Nặng Nề, con quỷ và kẻ thù truyền kiếp của ta.


Lên cao hơn nữa, - mặc dù nó ngồi đè nặng trên thân ta, cái tinh thần trì trệ nặng nề, nửa lùn tịt, nửa chuột chù, què quặt và xui khiến quặt què tê cóng, cứ liên miên rót chì vào tai ta, cứ rót mãi vào não cân ta, từng giọt từng giọt, những tư tưởng đá chì.


“Hỡi Zarathustra! - Nó thì thào từng tiếng với giọng điệu diễu cợt,- Hỡi Zarathustra, viên đá của Trí Tuệ Hiền Minh! Ngươi đã tung cao vô ngần, - nhưng mọi viên đá tung lên bao giờ cũng phải rớt xuống!


“Hỡi Zarathustra! Viên đá của Hiền Minh Trí Huệ, viên đá tung lên trời ném vỡ những vì sao! Chính tự thân ngươi được ngươi tung vút lên cao như thế đó, - nhưng mọi viên đá tung lên bao giờ cũng phải rơi rụng xuống!


Ngươi tự kết buộc vào nghiệp thân, ngươi tự dày xéo thân thể ngươi, hỡi Zarathustra! Ngươi đã quăng ném viên đá lên thật cao, nhưng rồi viên đá sẽ rớt xuống đầu ngươi!”.


Nói như thế xong, thằng lùn im tiếng; và sự im lặng của nó kéo dài triền miên đến đỗi ta bị đè ép nặng nề ngột thở; như thế, khi người ta là đôi bóng, thì thật ra người ta còn cô đơn hơn là khi một mình một bóng!


Ta bước lên, bước lên mãi, mơ màng, trầm mặc, - nhưng mọi sự cùng đè nén ta ngạt thở. Ta giống như một người bệnh bị nỗi đau đớn dày vò mệt mỏi, và một ác mộng lôi hắn thức dậy khỏi giấc ngủ đầu tiên.


Tuy nhiên, trong ta vẫn còn có một cái gì đó mà ta gọi là lòng can đảm: chính nó đã dập tắt mọi chán nản rã rời trong lòng ta từ trước đến nay. Lòng can đảm ấy cuối cùng khiến ta dừng chân lên tiếng: “Hỡi thằng lùn! Ta với mi hãy đọ sức! Ta hoặc mi phải có một người chết!”.


Vì lòng can đảm chính là kẻ sát hại tuyệt vời nhất, - lòng can đảm xông trận tấn công: bởi vì trong mọi cuộc tấn công đều có những hồi kèn thúc quân vang dội.


Mà con người là con vật can đảm nhất, chính vì thế nó đã chiến thắng mọi con vật. Trong hồi kèn xông trận, con người đã vượt qua mọi thống khổ điêu linh; nhưng sự thống khổ của con người là nỗi thống khổ sâu thẳm triền miên nhất.


Lòng can đảm cũng giết chết nỗi choáng váng kinh hoàng bên bờ hố thẳm: và đâu lại chẳng là nơi con người không ở bên bờ hố thẳm? Chỉ cần đưa mắt nhìn ngó thôi, há chẳng đủ phát hiện trùng trùng những hố quanh mình?


Lòng can đảm là kẻ sát hại siêu tuyệt; lòng can đảm cũng giết luôn lòng xót thương lân mẫn. Mà lòng xót thương lân mẫn là hố thẳm sâu xa nhất: càng nhìn sâu vào sự sống, con người càng nhìn sâu thẳm vào trong thống khổ.


Nhưng lòng can đảm là kẻ sát hại tuyệt vời, lòng can đảm xông trận tấn công: cuối cùng nó tiêu diệt cả sự chết, vì nó lên tiếng: “Sao? Cuộc sống là thế đó sao? Nào! Ta hãy bắt đầu trở lại!”.


Mà, trong một châm ngôn như thế, có rất nhiều hồi kèn xung trận réo vang. Kẻ nào có tai, thì hãy nghe ra!


 


2


“Dừng lại thôi, thằng lùn, ta bảo. Hai ta hãy đấu sức! Hoặc ta hoặc mi phải có một người chết! Nhưng trong hai đứa, ta là kẻ mạnh nhất. Mi không biết được tư tưởng sâu thẳm nhất của ta! Tư tưởng ấy, mi không thể nào mang vác gánh chịu nổi!”.


Lúc bấy giờ xảy ra chuyện làm thân thể ta nhẹ nhàng hơn: thằng lùn nhảy vọt khỏi vai ta, thằng lùn lố lăng thô lỗ! Và nó ngồi chồm hỗm trên một tảng đá trước mặt ta. Nhưng ngay tại chỗ hai chúng ta dừng chân, dường như ngẫu nhiên mà có một trụ quan.


“Hãy nhìn trụ quan kia, hỡi thằng lùn, - ta tiếp lời - nó có hai mặt. Hai nẻo đường giao ngộ gặp gỡ nhau tại đây, hai nẻo đường mà từ trước đến giờ chẳng nề có ai đi đến tận cùng cả”.


Cái con đường dài chạy lùi trở lại phía sau kia, nó dài một mãi mãi thiên thu và cái con đường dài phóng thẳng tới trước, nó cũng là một thiên thu vĩnh viễn khác nữa!


Hai con đường viễn tuyệt ấy bác bỏ nhau, va chạm nhau. Và chính nơi đây, tại trụ quan này, là nơi hai con đường giao ngộ. Tên của trụ quan đã được ghi đậm trên kia, đó là “khoảnh khắc tu du”.


Nhưng nếu có người bước đi theo một trong hai con đường đó – đi xa, xa vời mãi mãi, thì hỡi thằng lùn, mày có nghĩ rằng hai con đường nọ sẽ còn đối kháng, trừ khử nhau mãi mãi chăng?”.


Thằng lùn thì thào một cách khinh miệt: “Mọi cái gì thẳng đều dối trá hư ảo. Mọi chân lý đều cong cong, ngay cả thời gian cũng là một vòng tròn”.


Ta bừng bừng lửa giận: “Tinh thần nặng nề trì độn kia ơi! Mày đừng nhìn sự việc đơn giản quá đỗi như thế! Bằng không, hỡi thằng thọt chân cà nhắc, ta sẽ bỏ mày ngồi lại đây, và mày đừng nên quên rằng chính ta đã cõng mày lên đến đỉnh cao này”.


“Mày hãy xem xét kỹ khoảnh khắc tu du này! - ta tiếp tục -  từ trụ quan khoảnh khắc hiện tại, một con đường viên miễn thiên thu phóng lùi lại phía sau: đằng sau chúng ta có một thiên thu vĩnh viễn.


Mọi sự vật biết chạy há chẳng từng băng qua đường đó? Mọi sự vật có thể xảy ra, há chăng phải là đã từng xảy ra, đã hoàn tất, đã trôi qua thành quá khứ?


Và nếu mọi sự đang hiện thể bây giờ, đã từng có phen hiện thể, thì hỡi thằng lùn, mày nghĩ sao về cái khoảnh khắc tu du này? Cả trụ quan này há chẳng phải đã từng hiện thể trước kia?


Và mọi sự há chẳng vương vấn tương liên trùng điệp với nhau đến nỗi cái khoảnh khắc tu du này đang lôi kéo theo sau mình tất cả những sự việc tương lai? Và như thế, lôi kéo theo cả chính mình?


Bởi vì mọi sự việc biết chạy há chẳng phải là tái hồi đi lại một lần nữa cái con đường viễn tuyệt đang phóng lên kia!


Và cái con nhện đang chậm chạp bò dưới ánh trăng, và ngay cả ánh trăng này nữa, và ta là ngươi đang gặp gỡ nhau dưới vũ trụ quan này, thì thào nói về những sự việc thiên thu vĩnh cửu, há chẳng phải là hết thảy chúng ta đều đã từng thể hiện cả ở nơi đây?


Chúng ta há chẳng phải quy hồi và chạy trở lại một lần nữa trên con đường trước mặt đang phóng lên cao, con đường viễn tuyệt âm u kia, - há chẳng phải là chúng ta phải vĩnh viễn quy hồi trầm luân trở lại?


Ta đã nói như thế, và với giọng càng lúc càng thấp hơn, bởi lẽ ta đâm ra sợ hãi chính tư tưởng và những hậu ý của ta. Lúc bấy giờ, bất thình lình ta nghe một con chó tru rống bên cạnh hai người.


Ta đã nói bao giờ từng nghe một con chó tru rống như vậy? Những ý tưởng của ta giật lùi, gắng công nhớ lại. Ờ, phải rồi! Khi ta còn bé, vào cái tuổi thơ dại xa xôi:


Ta đã từng nghe một con chó tru rống thảm thương như thế. Và ta cũng nhìn thấy con chó ấy, lông lá dựng ngược, ngẩng đầu, run rẩy giữa đêm khuya thinh lặng vô ngần, lúc mà ngay cả những con chó cũng tin rằng có ma quỷ đi hoang.


Đến nỗi ta cảm thương con chó ấy. Bởi vì vầng trăng vằng vặc vừa nhô lên phía trên ngôi nhà, trong một nỗi im lặng lạnh tanh chết chóc. Vầng trăng, chiếc đĩa tròn rạng lửa ấy, dừng lại trên mái nhà như trên một thứ tài sản xa lạ.


Đấy chính là điều đã khiến con chó kinh hoàng: bởi vì con chó vốn tin rằng có kẻ trộm và ma quỷ lang thang. Và khi nghe con chó tru vang trở lại, thì lòng ta lại thương cảm bùi ngùi.


Hỡi ôi! Thằng lùn và trụ quan, con nhện và những tiếng thì thào đêm nọ, tất cả những thứ đó giờ đây đã trôi dạt chốn nào? Ta đột nhiên thấy mình đứng chơ vơ giữa màu trăng hoang tịch.


Nhưng có một người nằm sõng sượt đó kia! Và coi kìa, con chó vùng nhảy, lông lá dựng ngược, rền rĩ than van giờ đây khi nhìn thấy ta đi đến, con chó rú vang  trở lại, la gào… Ta có bao giờ từng nghe một con chó gào la cầu cứu như thế này chưa?


Và quả thật, ta chẳng bao giờ thấy một cảnh nào tương tự cảnh kia. Ta thấy một gã chăn chiên trẻ tuổi đang nằm quằn quại, thở khò khè, thân thể co quắp, khuôn mặt rã rời, và một con rắn trì trệ đen ngòm đang lòng thòng ngoài miệng gã.


Ta có bao giờ nhìn thấy xiết bao ghê tởm kinh hoàng não ruột trên một khuôn mặt người! Có lẽ trong lúc gã mục tử nọ say ngủ, thì con rắn đã bò vào trong vòm họng, và cứ nằm lì trong đó!


Ta bèn đưa tay lôi con rắn ra, nhưng chỉ luống công! Chẳng thế nào dứt con rắn ra khỏi cổ họng gã mục tử. Lúc bấy giờ có cái gì thét lớn trong cõi hồn ta: “Hãy cắn! Cắn đi! Cắn cho nát đầu con vật!” - Chính như vậy đó là tiếng thét của lòng ta; kinh hoàng, thù hận, ghê tởm, cảm thương, trọn cả thiện ác trong ta đều bật kêu lên trong cùng một tiếng thét.


Hỡi các bạn gan lì đang đứng quanh ta, hỡi các bạn phiêu lưu kiếm tìm gan dạ, dù các bạn là ai mặc lòng, các bạn đã xuống tàu băng vượt qua đại hải chưa, người thám hiểm với tấm buồm căng phồng căng giảo hoạt! Các bạn, những kẻ vui say ẩn ngữ, các bạn hãy đoán xem ý nghĩa ẩn ngữ ta đã nhìn thấy, và hãy giải thích cho ta nghe cái ảo tưởng của con người tối ư cô độc!


Bởi vì đấy là một ảo tưởng và một tiên tri: biểu tượng gì trong một quang cảnh ta nhìn thấy? Và kẻ phải đi đến một ngày nào đó là ai?


Ai là gã mục tử bị con rắn bò lòn vào cổ họng? Cái con người mà cổ họng sẽ tràn ngập những gì tối đen khủng khiếp nhất, con người đó là ai?


Lúc bấy giờ, tuân theo tiếng kêu khuyên nhủ ta, mục tử nọ đã há miệng cắn, hắn ta cắn phập một cái! Hắn nhổ đầu con rắn ấy ra xa, và đứng vụt dậy.


Lúc bấy giờ hắn không còn là người, cũng chẳng phải là mục tử trước kia, - hắn đã biến dạng hóa thân, rạng rỡ hào quang. Hắn cất tiếng cười! Ta chưa từng bao giờ nghe một con người cười như hắn trong cõi đời này.


Hỡi các anh em, ta đã nghe một tiếng cười lồng lộng, tiếng cười không phải của một con người. Và giờ đây, một khát vọng gặm nhấm hồn ta, một khát vọng sẽ không bao giờ nguôi thỏa.


Nỗi khát vọng tiếng cười đó gặm nhấm hồn ta. Ồ, làm sao ta còn có thể cam chịu chết đi được nữa bây giờ!”.


Zarathustra đã nói như thế.


 


VỀ BA ĐIỀU XẤU ÁC


1


Trong giấc mộng, giấc mộng cuối cùng của ta vào buổi sáng hôm nay, ta đã đứng trên một mõm đất ở trên kia thế giới, ta cầm một cái cân trong tay và ta cân thế giới.


Ồ, tại sao bình minh đã đến với ta quá sớm? Hơi nóng ganh tị của nó đã đánh thức ta dậy! Bình minh luôn ganh tị với hơi nóng tỏa lan từ những giấc mộng ban mai của ta.


Có thể đo lường được đối với kẻ có thời giờ, có thể cân lường được đối với một tay cân lường cân lường tài giỏi, nằm trong tầm tay của những đôi cánh khỏe mạnh, trong suốt đối với những kẻ tầm cầu linh thánh: giấc mộng của ta đã nhìn thấy thế giới như thế!


Trí Huệ của ta đã bí mật ngỏ lời cùng với nó, Trí Huệ ban ngày của ta, hoan hỉ và tỉnh thức, Trí Huệ chế diễu tất cả những “thế giới vô hạn!”. Vì Trí Huệ ấy bảo: “Nơi nào có sức mạnh thì rốt cuộc con số mang nhiều sức mạnh hơn”.


Giấc mộng của ta, giấc mộng hữu hạn đó, đã đưa mắt nhìn với sự chắc chắn vô ngần! Không phải sự lộ liễu, không phải nhát gan khiếp đảm, cũng không tôn sùng trọng vọng,


- như tất cả một trái táo ngon ngọt dâng đến tay ta, một trái táo chín vàng, mang làn da tươi mát, dịu mềm, êm mượt nhung tơ: thế giới đã tự dâng hiến cho ta như thế.


- như một cái cây đưa tay ra đấu với ta, một cái cây tỏa những cành lá um sùm, khỏe mạnh, cong oằn vặn vẹo thèm chỗ nương tựa nghỉ ngơi cho kẻ lữ hành mỏi mệt: thế giới đã được đặt trên mõm đất của ta như thế;


- như những bàn tay duyên dáng nâng một chiếc hộp nhỏ đến gặp gỡ ta, - một chiếc hộp nhỏ mở ra trong sự say mê khoái cảm của những đôi mắt thẹn thùng sùng mộ; thế giới đã như thế khi ta gặp gỡ hôm nay;


- không có đủ ẩn ngữ để xua đuổi tình yêu loài người, không có đủ chất hòa tan để ru ngủ trí huệ con người: - một sự việc tốt đẹp của con người. Đấy, đấy là thế giới mà người ta đã phỉ báng không tiếc lời, thế giới đó hôm nay đã xuất hiện với ta như thế.


Ta vô vàn cảm tạ giấc mộng ban mai của ta vì đã cân lường thế giới ở giây phút ban sơ! Thế giới: giấc mộng và sự an ủi khích lệ đó của con tim, đã đến với ta như sự việc tốt đẹp của con người.


Giờ đây, để mô phỏng thế giới giữa thanh thiên bạch nhật, múc nguồn cảm hứng từ bài học tuyệt vời nhất và cân lường chúng theo lề lối con người.


Kẻ nào dạy câu chúc phúc thì cũng dạy lời nguyền rủa: đâu là ba điều đáng nguyền rủa nhất trên mặt đất? Chính chúng là đối vật ta muốn đặt lên bàn cân.


Khoái lạc, ước muốn thống trị, lòng ích ky : ba điều này là những điều bị nguyền rủa phỉ báng nhất từ trước đến nay, và ta muốn cân lường chúng theo lề lối con người.


Nào! Đây là mõm đất của ta và kia là đại dương thăm thẳm: đại dương đang lăn về phía ta, rợn sóng, vuốt ve. Đại dương, con ác quỷ trăm đầu già nua và trung thành mà ta yêu thích.


Chính đây là nơi ta muốn cầm cân trên mặt biển động sóng, ta cũng chọn một người chứng ngó nhìn - ta chọn mi, mi, hỡi cái cây đứng cô tịch, mi với mùi hương nồng nã, vòng hoa sum suê rộng lớn, hỡi cái cây ta yêu dấu!


Giây phút hiện tại tiến về tương lai băng qua chiếc cầu nào? Sức mạnh nào cưỡng chế cái cao nhã phải cúi mình xuống cái thấp kém? Và ai ra lệnh cho sự vật cao nhã nhất phải lớn mạnh thêm nữa?


Giờ đây chiếc cân cân bằng và bất động: ta đã ném lên đó ba câu hỏi nặng nề, đĩa cân bên kia mang ba câu trả lời nặng trĩu.


2


Khoái lạc - đối với tất cả những kẻ khổ hạnh khinh miệt thân xác, là mũi nhọn để kích thích, là chiếc đài để bêu xấu kẻ phạm tội nặng; đó là “thế giới” bị nguyền rủa nơi tất cả những kẻ nuôi ảo giác về thế giới bên kia: bởi vì khoái lạc miệt thị và làm mê loạn tất cả những học thuyết rối loạn.


Khoái lạc - đối với đám tiện dân, đấy là ngọn lửa chậm thiêu đốt; đối với những khu rừng bị mọt ruỗng, đối với tất cả những khúc vải xoắn lợm giọng, đó là chiếc hỏa lò ngấu nghiến.


Khoái lạc - đối với những tâm hồn tự do thì đó là sự ngây thơ phóng dật khơi vơi, là hạnh phúc điền dã trên mặt đất, là sự tri ân quá thừa thãi tương lai đối với hiện tại.


Khoái lạc - đấy chỉ là chất thuốc độc dịu ngọt cho những kẻ cằn cỗi điêu tàn, nhưng đối với những kẻ mang ý chí của con mãnh sư, thì khoái lạc là chất thuốc bổ tuyệt diệu nhất, chất rượu của men nồng mà người ta dè dặt giữ gìn một cách kính cẩn thiêng liêng.


Khoái lạc - là vĩnh phúc tuyệt vời nhất, là biểu tượng của hạnh phúc, của hy vọng tối thượng. Bởi vì đối với nhiều điều, đã hứa hẹn sự hợp nhất và còn hơn là sự hợp nhất,


- đối với nhiều điều còn xa lạ với nhau hơn là người đàn ông xa lạ với người đàn bà: có ai đã từng hiểu trọn vẹn sự kiện người đàn ông và người đàn bà xa lạ với nhau biết đến chừng nào?


Khoái lạc - tuy nhiên, ta muốn rào quanh những tư tưởng và vây rào quanh những lời lẽ ta: ta e rằng những con heo bẩn thỉu cùng những kẻ bồng bột nhiệt cuồng sẽ xông vào vườn của ta!


Khát vọng thống trị - đấy là món đồ chơi làm chết người dành cho những tâm hồn cứng rắn nhất, là cuộc tuẫn đạo khủng khiếp dành cho những kẻ hung bạo nhất, là ngọn lửa âm u của những giàn hỏa sống.


Khát vọng thống trị - đấy là chiếc phanh dữ tợn được đặt vào những dân tộc phù phiếm nhất, là sự hổ thẹn của tất cả những đức hạnh bất xác, cưỡi trên tất cả những lòng kiêu hãnh.


Khát vọng thống trị - đấy là cơn động đất phá vỡ và ly cách tất cả những gì bị mối mọt ăn mòn trống rỗng, đấy là kẻ đập vỡ những ngôi nhà mồ sơn trắng, với tâm hồn phẫn nộ gầm gừ, đấy là dấu hỏi vọt hiện ra bên cạnh những câu trả lời non yếu.


Khát vọng thống trị - đứng trước cái nhìn của nó, con người bò lết khom mình, khát vọng làm con người nô lệ và hạ thấp xuống thua loài rắn, loài heo: cho đến khi, cuối cùng, lòng khinh bỉ ngất trời kêu gào bùng vỡ trong nó.


Khát vọng thống trị - đấy là vị đạo sư khủng khiếp rao giảng lòng khinh bỉ ngất trời, kẻ rao giảng cho những đô thị và những đế quốc này: “Hãy cút khỏi đây!” mãi cho đến khi, cuối cùng, tự chúng kêu thét lên: “Ước gì ta có thể bỏ đi!”.


Khát vọng thống trị - kẻ quyến rũ dụ hoặc, cũng leo lên đến những con người tinh khiết, những kẻ cô đơn, leo lên đến những đỉnh cao, cháy bỏng như một tình yêu vạch trên bầu trời màu đỏ thắm của những vĩnh phúc quyến rũ.


Khát vọng thống trị - nhưng ai còn muốn gọi đó là một khát vọng, khi kẻ cao nhã chịu hạ mình ước mong quyền lực! Thực vậy, chẳng có gì là cuồng say, bệnh hoạn trong những khát vọng như thế, và những sự hạ mình như thế!


Bảo rằng đỉnh cao đơn độc cô liêu không vĩnh viễn tự cô lập và không tự hài lòng với chính mình; bảo rằng núi cao phải đi xuống lũng sâu và gió núi phải thổi xuống đồng bằng:


Ồ! Ai dám đặt đúng tên thật cho một khát vọng như thế! “Đức hạnh ban phát” - đấy là tên mà xưa kia Zarathustra đã dùng để gọi điều bất khả diễn ngôn này.


Chính lúc đó - thật vậy, đây là lần đầu tiên! - lời nói của hắn ca ngợi lòng ích ky, lòng ích kỷ thiện hảo lành mạnh xuất phát từ một linh hồn cường tráng:


- từ linh hồn cường tráng sở đắc một thân xác cao cả, một thân xác mỹ điệu, chiến thắng và hòa điệu chung quanh thân xác đó mọi vật trở thành gương soi:


- thân xác uyển chuyển, quyến rũ, kẻ vũ công mà biểu tượng và sự diễn tả là chính linh hồn tươi sáng hân hoan. Niềm hân hoan ích kỷ của những thân xác và những linh hồn như thế tự gọi mình  là “đức hạnh”.


Vì nói về thiện và ác, lòng hân hoan ích kỷ ấy cư ngụ nơi chính tự thân mình, như giữa lòng một khu rừng thiêng; bằng những tên gọi ban cho hạnh phúc của mình, nó loại trừ xa mình tất cả những gì đáng khinh bỉ.


Nó loại trừ xa mình tất cả những gì hèn nhát; nó bảo rằng: cái gì hèn nhất là xấu xa! Nó thấy đáng khinh bỉ con người ưu tư cứ không ngừng thở dài than vãn, nhưng lại thu nhặt ngay cả những lợi lộc nhỏ bé nhất.


Nó cũng khinh bỉ mọi trí huệ đáng thương hại: bởi vì, thật thế, cũng có thứ trí huệ nở hoa trong bóng tối; một thứ trí huệ của đêm tối cứ luôn luôn than thở: “Mọi sự đều vô bổ!”.


Nó không đếm xỉa đến lòng nghi ngờ đầy sợ hãi cùng tất cả những kẻ nào muốn nghe những bài giảng đạo thay vì những cái nhìn và những nắm tay: nó cũng chẳng đếm xỉa đến trí huệ quá hồ nghi nữa, - vì đấy là cách xử sự của những linh hồn hèn nhát.


Nó thấy kẻ khúm núm xiểm nịnh còn thấp hèn hơn nữa, con chó nằm phủ phục xuống ngay lập tức, kẻ quá sức khiêm cung; và cũng có trí huệ khiêm cung, bò lết, kính tín và khúm núm.


Nhưng nó thù ghét đến kinh tởm kẻ nào chẳng hề muốn tự bảo vệ mình, kẻ nào nuốt ực những nước bọt nọc độc và những cái nhìn hung ác, kẻ kiên nhẫn quá nhẫn nhục, kẻ chịu đựng tất cả mọi sự; vì đấy chính là lề thói của bọn bồi phòng.


Giả sử kẻ nào nô lệ trước những thần linh và những cú đá của thần linh hay trước con người và những ý kiến ngu xuẩn của con người, thì lòng ích kỷ ngây ngất hạnh phúc ấy liền nhổ nước bọt vào mặt tất cả sự nô lệ đó.


Xấu ác: - đấy là tiếng nói dùng để gọi tất cả những gì khom mình nô lệ, đôi mắt nhấp nháy khuất phục, quả tim bị dầy vò cắn dứt, và cái lối ôm hôn hèn nhát đầy giả ngụy đạo đức, đầy sỉ nhục.


Và giả dối bề ngoài: - đấy là tiếng nói dùng để gọi những trò chơi chữ của bọn bồi phòng, bọn già cả và những kẻ đã kiệt lực; nhất là tất cả những sáng chế điên khùng phi lý của đám linh mục.


Thế nhưng, bọn hiền triết giả mạo, tất cả đám linh mục, những kẻ chán ngán mỏi mệt vì thế giới, những kẻ mang linh hồn của lũ đàn bà hay của những tên bồi phòng, chính là những kẻ luôn luôn nuôi dưỡng âm mưu nhắm đến lòng ích kỷ!


Chính điều này phải là đức hạnh và phải được gọi là đức hạnh: người ta phải nổi dậy chống lại lòng ích kỷ! “Vô vị lợi”, “vô tư”, đấy chính là điều mà những kẻ khiếp nhược mệt mỏi vì thế giới và tất cả những con nhện đó, khát khao được trở thành, - với những lý do rất hợp lý.


Nhưng giờ đây, chính là dành cho bọn chúng mà mới có ban ngày, khúc quanh, lưỡi gươm phán xét, buổi đại ngọ thiên: và nhiều sự việc sẽ trở thành hiển nhiên!


Kẻ nào xứng tụng cái Tôi, và thánh hóa lòng ích kỷ, thực ra kẻ đó nói như là kẻ tiên tri hiền triết, “Nhìn kìa, buổi đại ngọ thiên đang đến, đang đến gần!”.


Zarathustra đã ca hát như thế.


Nguồn: Zarathustra Đã Nói Như Thế. Tác giả: Friedrich Nietzsche. Dịch giả: Trần Xuân Kiêm.


Nhà xuất bản Văn học, 2008.


 


 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »